Q9A1-THANGLONG-UNIVERSITY

ÁO XƯA DÙ NHÀU, CŨNG XIN BẠC ĐẦU GỌI MÃI TÊN NHAU !!!
 
IndexIndex  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Nếu mai này Mẹ hiền có mất đi.... như đóa hoa không mặt trời... như trẻ thơ không nụ cười... ngỡ đời mình không lớn khôn thêm... như bầu trời thiếu ánh sao đêm......!!!

Share | 
 

 CĂN ĐỒNG---Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng?

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
CĂN Đ
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: CĂN ĐỒNG---Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng?   Mon Apr 04, 2011 8:47 pm

CĂN ĐỒNG


Căn đồng là gì? Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng? Căn đồng là một hiện tượng được rất nhiều người quan tâm nhưng không phải ai cũng hiểu, cũng biết một cách thấu đáo. Chính vì không hiểu nên nhiều người vẫn bị lừa phỉnh, mê muội trong tâm linh, dẫn đến hao tiền tốn của, mất thời gian, tự mua dây buộc mình. Bài viết sau đây được tổng hợp từ nhiều ý kiến, tuy không dám nói rằng đã đầy đủ và chính xác về căn đồng nhưng chỉ mong mang đến cho độc giả một góc độ cụ thể hơn về căn đồng để từ đó có cái nhìn đúng đắn và phương thức hành xử hợp lý trong đời sống tâm linh của mình.
Trong các tôn giáo, tín ngưỡng phổ biến trên thế giới, Đạo Thiên Chúa có hình thức hành lễ long trọng kèm theo âm nhạc, hát đồng ca trong nhà thờ với dàn đại phong cầm hết sức tuyệt vời, tạo ra không khí trang nghiêm, thành kính. Ở Việt Nam có tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Đức Thánh Trần với tập tục hầu bóng, lên đồng, kèm theo các động tác múa đặc trưng của từng vị Thánh nhập đồng, thực hiện nghi lễ trong môi trường âm nhạc, ca hát tưng bừng. Trong môi trường hành lễ trang nghiêm và tâm linh như vậy, người có hệ thần kinh yếu rất dễ chịu tác động của không khí buổi lễ, dẫn đến làm thay đổi thần thức, cảm giác hoà nhập với không khí linh thiêng thần thánh. Trong cuộc sống thường nhật, những người như vậy cũng thỉnh thoảng hay rơi vào cảm giác ảo, mơ thấy thần thánh, thân mình bay bổng… Về mặt Thần kinh học, người ta cho rằng những người đó có hệ thần kinh yếu, dễ xúc cảm. Khi có tác động bên ngoài, tâm thức những người đó có xu hướng hoà nhập với môi trường.


Khi lễ hầu bóng diễn ra ở các đền, phủ, điện, trong không khí đàn ca, trống phách, múa hát tưng bừng, mùi nhang khói kích thích, một số ít người tham gia hành lễ có cảm giác thấy lâng lâng, phiêu phiêu, bay bổng, thần thức hoà nhập với không khí lễ hội múa hát khi Thánh giáng vào người con đồng. Đặc biệt, trong môi trường thực hành nghi lễ tâm linh, yếu tố âm nhạc, ca múa hát, mùi nhang khói, lời lẽ và âm thanh khấn vái… có tác dụng rất mạnh. Nếu người hầu đồng có hệ thần kinh như vậy, việc hoà nhập tâm linh trong trạng thái Thánh giáng là điều tất yếu.

Người ta gọi hiện tượng trên là “Ốp đồng”. Người rơi vào trạng thái trên gọi là người bị ốp đồng. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Đức Thánh Trần, những người như vậy được cư dân tín ngưỡng gọi là NGƯỜI CÓ CĂN ĐỒNG. Căn đồng là một hiện tượng được nhiều người quan tâm nhưng không phải ai muốn là có căn. Người ngồi hầu Thánh có cảm giác hào hứng, hoà nhập lễ nghi tâm linh khi thực hành nghi lễ hầu bóng cũng chưa phải là người có căn đồng. Chỉ có những người có hệ thần kinh yếu ở mức độ nào đó khi đi lễ đền, phủ mới bị hiện tượng ốp đồng và người ta gọi họ là những người căn cao, số nặng, là người có duyên (có căn) với các vị Thánh trong Tứ phủ.

Theo tín ngưỡng thờ Mẫu, người có căn đồng là người sinh dương thế nhưng số hệ thiên cung, mệnh càn bóng quế, con cái của cửa Tứ phủ công đồng. Tín ngưỡng thờ Tứ phủ cho rằng, người có căn đồng là người đã được các Thánh chấm, không sớm thì muộn, tùy theo căn số của từng người sẽ được Thánh bắt đi lính làm đồng. Nếu không trình diện để hầu sẽ bị các Thánh hành hạ. Lắm người căn cao số nặng ấy, vì không biết đến cửa Thánh để kêu, để cầu nên bị hành cho đủ các kiểu: ốm đau bệnh tật nhưng đi chữa không khỏi vì không biết là mình bị bệnh gì, bị hành cho dở dại dở điên, công danh sự nghiệp lận đận, nhân duyên khó thành...Nhưng nếu mình biết đến cửa Thánh, cúi đầu đội lệnh, chẳng dám đơn sai thì mọi việc sẽ khác hẳn, bệnh hết, mạnh khỏe, bình an, công thành danh toại.

Tóm lại, người có căn đồng trước sau gì cũng phải ra trình diện, làm ghế ngồi cho Thánh, tức là phải hành lễ trình đồng, mở phủ. Nếu không có căn đồng mà nghe lời phán bảo linh tinh rồi ra lễ trình đồng, mở phủ thì chỉ tốn tiền và thời gian, tự mua dây trói mình vì buộc phải theo đền, phủ suốt đời. Nếu bỏ cuộc sẽ bị Thánh trách quở; mọi khó khăn bất trắc trong cuộc sống sẽ được qui cho là tại vì Thánh phạt.

Vậy làm sao biết được căn mệnh của mình là gì để tránh được những điều đáng tiếc có thể xảy ra? Ai có thể xác định được được căn số trong mỗi con người ? Nhiều người chỉ nghe thầy tứ phủ phán bảo về căn số của mình, rằng có căn với Quan lớn này, Cô, Cậu nọ rồi phải đăng đàn làm lễ trình đồng, mở phủ, tự mình gây không ít khó khăn cho mình và hao tiền tốn của. Người ta cho rằng có nhiều cách để biết được căn số của mình. Ví dụ: được các ngài báo mộng; được các ngài về ốp đồng khi mình tham gia hành lễ trình đồng; khi hầu bóng mà mình luôn thích xem và say mê về giá đó; hoặc có thể là do xem bói mà biết được. Nhưng xem bói phải hết sức lưu ý, không phải thầy nói gì mình cũng tin, vì bây giờ cũng lắm thầy làm vì tiền hơn là làm vì tâm để cứu thế độ dân. Đây là một vấn đề hết sức khó khăn nhưng không phải không có đường thoát, đó là nhờ lập Bát tự để tìm hiểu căn số của mình. Đương nhiên người lập Bát tự phải hết sức am hiểu và giỏi Dịch lý. Hơn nữa, người có căn hay không cũng có thể tự nhận biết qua các hiện tượng trên. Tuy nhiên, cần lưu ý phải khẳng định người có căn đồng là những người mạnh khoẻ, có thể chất, tinh thần và tâm lý hoàn toàn khác với người bị bệnh tâm thần phân liệt.

Nếu phải ra trình đồng, mở phủ, ai là người có thể giúp được người có căn đồng thực hành nghi lễ trong khi xã hội trắng đen lẫn lộn đồng giả, đồng thật này? Bây giờ tìm được một Đồng thầy thật sự khó lắm.

Nếu người có căn đồng không nặng lắm có thể làm lễ tôn lô nhang bản mệnh; nếu chưa đạt yêu cầu thì phải làm lễ trình đồng, mở phủ chính thức thành con dân hầu Thánh, bắc ghế cha ngồi,bắc ngôi mẹ ngự, thành ghế đệm cho Thánh ngự. Muốn làm lễ bốc bát nhang bản mệnh,trước hết người có căn đồng nên chọn một Đồng thầy thật sự, thông thạo việc Thánh. Lễ phải được tiến hành theo đúng trình tự, đúng phép cửa Thánh, có dâng sớ, điệp văn, phẩm vật và đồ mã tiến cúng. Về nguyên tắc, bốc bát nhang ở đền, phủ, điện nào là mình đã trở thành con nhang đệ tử của nơi đó. Các ngày lễ tiệc, đầu năm, cuối năm phải đi lễ đầy đủ ở đó thì mới tốt. Nếu vì lý do nào đó mà tạm thời đi các đền, phủ khác để thực hành nghi lễ thì phải xin và được sự đồng ý của Đồng thầy.

Nếu nặng căn quá mà mình chưa có điều kiện để ra trình đồng, mở phủ, thì có thể lập đàn để xin tiễn căn khất đồng. Nếu vì công danh, sự nghiệp… mà chưa trình đồng, mở phủ thì phải xin khất vì chưa lo liệu được việc Thánh. Cần nhớ đây là lễ xin khất chứ không phải xin từ bỏ căn vì người có căn trước sau gì cũng phải đến hầu Thánh mới yên. Người ta nói người có căn đồng không chống lại được số mệnh gắn bó với Thánh. Quan trọng là người có căn phải nhất tâm tin tưởng thì mới thành công và yên ổn trong vạn sự.



xxxxxxxxxxxxx

Lên đồng hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.

Ở Việt Nam, lên đồng là nghi thức không thể thiếu trong các thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, (Được gọi là Thanh Đồng)... Về hình thức, nghi thức lên đồng hầu về Hội Đồng Thánh Trần mang tính saman nặng hơn khi lên đồng hầu về Tứ Phủ bởi hầu về Hội Đồng Thánh Trần có các hành động trực tiếp lên thể xác Thanh Đồng (người ở ngoài nhìn đôi khi thấy sợ)như đi trên than hồng, xiên lình(dùng thanh sắt sắc nhọn đâm xuyên vào hai má và miệng thanh đồng), ăn lửa, lên đai (1 hình thức thắt cổ, có người được gọi là sát căn, có khi lên 3 đai)...

Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng, Thanh Đồng là nam giới thì được gọi là "cậu", nữ giới được gọi là "Cô hoặc Bà Đồng". "Cậu" thường mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn (tóc có thể để dài như con gái). Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng ) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt...Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều "giá". Mỗi lần thay giá, người ta lại phủ lên "cậu" một tấm khăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này Thanh Đồng đang ở một "giá" mới và phải thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng... sao cho tương xứng với "giá" này. Khi thì Thanh Đồng hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa..Điệu múa của Thanh Đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của "giá". "Giá" quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích; giá các chầu bà thì múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá ông hoàng thì có múa khăn tấu, múa tay không, múa cờ ; giá các cô múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múa khăn lụa, múa đàn, múa tay không; giá các cậu thường múa hèo, múa lân ... Nghi lễ Thánh giáng phải theo thứ tự từ cao đến thấp từ Thánh Mẫu đến hàng Quan, Chầu, ông Hoàng, hàng Cô và Cậu. Số lượng giá trong một buổi lên đồng có khi lên tới 36 giá.

Trong lúc Thanh Đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng Thanh Đồng theo nhịp câu hát.Những nắm tiền lẻ sau khi được Thanh Đồng tung ra, ban phát cho những người xung quanh được coi là tiền lộc và được những người dứng xem xung quanh nhặt lấy cất giữ để lấy may. Nhạc hát thông thường là điệu chầu văn hoặc là hát nói có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới. Nhạc khí chủ đạo là đàn nguyệt, bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông, trống…Ở miền Bắc Việt Nam có Phủ Giầy là noi hay tổ chức lên đồng nhiều nhất.

Với các giá ông Hoàng thì nhóm đàn hát (được gọi là "Cung văn") sẽ ngâm các bài thơ cổ. Lúc này, Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác thưởng tiền cho Cung văn và dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước...Tới giai đoạn cao trào của Thánh thì người đứng giá thường múa gươm hoặc bơi thuyền. Do vậy, ở Việt Nam có câu hát "cậu bắn súng lục, cô bơi thuyền rồng" là để chỉ sự này.

Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có nghi thức giao tiếp với thần linh như tín ngưỡng Mỡi của người Mường, tín ngưỡng Then của người Tày, Nùng. Tuy nhiên, khác với nghi thức lên đồng của người Việt, sự giao tiếp với thần linh ở Mỡi và Then chủ yếu thông qua hình thức xuất hồn, tức là các ông Mỡi, bà Then có khả năng thoát hồn khỏi xác bay đi gặp gỡ, cầu xin thần linh phù hộ cho dân chúng.

Ngày nay, lên đồng vẫn còn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt. Các nghi lễ này thường được tổ chức nhiều lần trong một năm vào các dịp lễ tiết, thường là tại các lễ hội đền thánh, phủ mẫu... Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, truyền thống tín ngưỡng Việt Nam còn tin tưởng rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫn còn và theo dõi cuộc sống của người thân đang sống. Do đó, khi lên đồng, linh hồn của người chết có thể nhập vào đồng cô, đồng cậu (người gọi đồng) để trò chuyện với thân nhân đang sống. Thông qua cuộc trò chuyện âm-dương này, người sống sẽ biết được những yêu cầu của người thân quá cố về mỗ mả để điều chỉnh và cúng xin cho phù hợp. Đồng thời, thông qua cuộc đối thoại này, người sống cũng biết được vận mạng tương lai của mình.

Tại Việt Nam hiện nay, hoạt động lên đồng bị chính quyền xem là hoạt động mê tín dị đoan do nhiều trường hợp việc lên đồng đã bị nhiều người lợi dụng vào mục đích xấu. Tuy nhiên, nhiều hội thảo khoa học nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian Việt Nam, trong đó có lên đồng đã được tổ chức, nhiều ấn phẩm của các học giả đã được xuất bản.
Về Đầu Trang Go down
luck
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Hầu đồng và những giá trị đích thực   Mon Apr 04, 2011 8:54 pm

Lên đồng (hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng) là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.

Ở Việt Nam, lên đồng là nghi thức không thể thiếu trong các thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, (Được gọi là Thanh Đồng)... Về hình thức, nghi thức lên đồng hầu về Hội Đồng Thánh Trần mang tính saman nặng hơn khi lên đồng hầu về Tứ Phủ bởi hầu về Hội Đồng Thánh Trần có các hành động trực tiếp lên thể xác Thanh Đồng (người ở ngoài nhìn đôi khi thấy sợ)như đi trên than hồng, xiên đình, phun lửa,lên đai (1 hình thức thắt cổ,có người được gọi là sát căn,có khi lên 3 đai)...

Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng ,Thanh Đồng là nam giới và được gọi là "cậu" ,nữ giới được gọi là "Cô hoặc Bà Đồng". "Cậu" thường mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn (tóc có thể để dài như con gái). Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng ) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt...Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều "giá". Mỗi lần thay giá, người ta lại phủ lên "cậu" một tấm khăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này Thanh Đồng đang ở một "giá" mới và phải thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng... sao cho tương xứng với "giá" này. Khi thì Thanh Đồng hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa..Điệu múa của Thanh Đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của "giá". "Giá" quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích; giá các chầu bà thì múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá ông hoàng thì có múa khăn tấu, múa tay không,múa cờ ; giá các cô múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa ,múa khăn lụa ,múa đàn , múa tay không; giá các cậu thường múa hèo, múa lân ... Nghi lễ Thánh giáng phải theo thứ tự từ cao đến thấp từ Thánh Mẫu đến hàng Quan, Chầu, ông Hoàng, hàng Cô và Cậu. Số lượng giá trong một buổi lên đồng có khi lên tới 36 giá.

Trong lúc Thanh Đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng Thanh Đồng theo nhịp câu hát.Những nắm tiền lẻ sau khi được Thanh Đồng tung ra, ban phát cho những người xung quanh được coi là tiền lộc và được những người dứng xem xung quanh nhặt lấy cất giữ để lấy may. Nhạc hát thông thường là điệu chầu văn hoặc là hát nói có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới. Nhạc khí chủ đạo là đàn nguyệt, bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông, trống…Ở miền Bắc Việt Nam có Phủ Giầy là noi hay tổ chức lên đồng nhiều nhất.

Với các giá ông Hoàng thì nhóm đàn hát (được gọi là "Cung văn") sẽ ngâm các bài thơ cổ. Lúc này, Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác thưởng tiền cho Cung văn và dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước...Tới giai đoạn cao trào của Thánh thì người đứng giá thường múa gươm hoặc bơi thuyền. Do vậy, ở Việt Nam có câu hát "cậu bắn súng lục, cô bơi thuyền rồng" là để chỉ sự này


Hầu đồng và những giá trị đích thực
.

Nhắc tới chuyện lên đồng, hầu bóng, nhiều người nghĩ ngay đến hình ảnh những người buôn thần, bán thánh, mê tín dị đoan. Thực ra, đây là một dạng nghệ thuật diễn xướng dân gian, bắt nguồn từ tín ngưỡng thi Mẫu của người Việt.
Những cách hiểu sai lệch
Nghe thấy tiếng nhạc cất lên rộn ràng từ nhà hàng xóm, bà T. (Tây Hồ, Hà Nội) lắc đầu bảo: “Mấy người lại tổ chức lên đồng đấy, tốn kém lắm. Mà cứ nói là mê tín, nhưng họ làm công khai đấy, có ai “hỏi thăm” đâu”. Giống như bà T., nhiều người nghĩ rằng hầu đồng là hoạt động mê tín, chỉ được tổ chức lén lút. Tuy nhiên, trên thực tế, các buổi hầu đồng đều diễn ra công khai. Ở Hà Nội, nơi được coi là "trụ sở" chính của giới hầu đồng là phố Hàng Bạc. Ngoài ra, còn có hàng chục điểm hầu bóng khác trên phố Tôn Đức Thắng, khu vực Nam Đồng, Gia Lâm...

Tình cờ được tham dự một buổi hầu đồng mở phủ của một phụ nữ ngoài 30 tuổi, tôi mới biết rằng, nếu không dư giả về thời gian và cả tiền bạc thì đừng nghĩ đến chuyện theo hầu đồng. Thông thường, thời gian cho một cuộc hầu kéo dài cả buổi, thậm chí cả một ngày trời. Buổi hầu chỉ kết thúc khi toàn bộ các mâm lễ gồm hoa quả, nước ngọt, bia... trị giá hàng chục triệu đồng được phát hết cho khách. Suốt cuộc hầu kéo dài hơn 5 tiếng đồng hồ mà tôi được chứng kiến hôm đó, "cậu" (danh từ chung chỉ những người hầu đồng) liên tục phải thay các quần áo của ông Hoàng, bà Chúa, cậu Bốn... rồi nhảy múa, hút thuốc, vung tiền, ném quả, phát lộc rất hào phóng. Các đệ tử, con nhang ngồi hầu xung quanh cũng liên tục châm thuốc, vỗ đùi và thi thoảng lại xuýt xoa "cậu múa dẻo quá", rồi "cậu thật là tài giỏi"… để phụ họa, nịnh bợ. Kết thúc buổi hầu đồng, “cậu” cho biết, đã tiêu gần 20 triệu đồng cho việc sắm lễ, mã..., nhưng như thế vẫn còn rẻ hơn so với tổ chức hầu ở nước ngoài. Vì thế, nhiều người đang sống ở nước ngoài thường về nước tổ chức hầu cho rẻ.

Dù tốn kém, nhưng trên thực tế có rất nhiều người “nghiện” hầu đồng. Không ít người làm được bao nhiêu, tiêu vào hầu đồng bấy nhiêu, thậm chí có người lâm vào cảnh khuynh gia bại sản... Những người theo hầu đồng đều tin tưởng vào lực lượng siêu nhiên, thần bí. Vì thế, khi cuộc sống càng nhiều rủi ro thì hầu đồng lại càng lên ngôi. Làm ăn thất bát: hầu đồng. Bị tai nạn: hầu đồng. Con trượt đại học: hầu đồng. Làm ăn thành đạt: cũng hầu đồng...

Nghệ thuật mang đậm chất tâm linh

Năm 2006, lần đầu tiên một lễ hội hầu bóng hoành tráng đã được Bộ Văn hóa thông tin (cũ) tổ chức tại Kiếp Bạc (Hải Dương), với sự tham gia của một số đoàn từ nhiều địa phương. Đây là sự công nhận chính thức đầu tiên của những nhà quản lý văn hóa với giá trị tâm linh và nghệ thuật của hầu đồng. Trả lời báo chí lúc đó, GS - TS Tô Ngọc Thanh cho rằng, việc công nhận hầu bóng có hơi muộn, nhưng muộn còn hơn không.
Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng, hầu đồng (cũng còn gọi là hầu bóng) là loại hình diễn xướng dân gian bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Hầu đồng xuất phát từ thế giới quan của người Việt cho rằng, mỗi thế giới hữu hình luôn tồn tại song song với một thế giới vô hình. Người Việt cổ cho rằng có 4 thế giới: thế giới trên trời (ở nước nông nghiệp như ta chỉ đơn thuần coi thế giới trời là nơi trú ngụ các tác nhân gây mưa), thế giới dưới nước, thế giới rừng (nơi sinh ra, nơi quần tụ của tổ tiên ta) và thế giới người. Các thế giới này đều do các bà mẹ (Mẫu) cai quản.

Mỗi câu chuyện trong mỗi lần hầu bóng đều hấp dẫn, đầy khí phách về chiến công một con người cụ thể. Họ là tướng trực tiếp cầm quân đánh giặc (như các ông hoàng), nhưng có khi chỉ là những người dân yêu nước bình thường như hình tượng cô Chín, một người lái đò bình thường đã chèo thuyền cả đêm thông báo tin giặc xâm phạm bờ cõi rồi hóa thân...

Ngoài giá trị về tâm linh, hầu đồng còn mang đậm giá trị nghệ thuật. Múa đồng là sự kết hợp giữa nhạc và hát trong khi hầu, thể hiện sự tái sinh (nhập hồn) của các vị thánh vào thân xác của các ông đồng, bà đồng, tạo nên trạng thái phấn khích, ngây ngất để người có thể hợp thể và hòa đồng với thần linh. Trong hầu bóng, chỉ trừ ba giá hầu các mẫu là không có múa, còn lại, tùy theo vị trí, tính cách của từng vị thánh mà có những động tác múa khác nhau. Chẳng hạn, giá hàng quan thường múa kiếm, long đao, kích; giá hàng các chầu bà thì múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá các ông hoàng có múa cung, múa khăn, múa tay không; giá hàng các cậu thường múa hèo, múa lân; giá hàng các cô có múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múa tay không; giá ngũ hổ, ông lốt (rắn) thường mô phỏng động tác của rắn, hổ. Ngoài ra, múa đồng còn tiếp thu nhiều điệu múa dân gian, có cách điệu để phù hợp với tính chất sân khấu tâm linh.

Các bài hát chầu văn được nghe trong lúc người lên đồng vừa hát, vừa múa khi ông hoàng, bà chúa nhập vào. Người hát nhịp phách trong khi dàn nhạc có đàn nguyệt, đàn đáy, nhưng có khi chỉ là một cây đàn nhị. Có nhiều điệu hát như bài "Tam tòa", "Cô Chín sổng", "Cô Bé", "Cô Ba Thoải", " Cô Thượng ngàn", "Quan Hoàng Chín", "Quang Hoàng Mười", "Ông Hoàng Đệ Tam"... Các điệu thường được mượn trong dân nhạc hay hát ả đào...

Nghĩa Dung (Theo Đai Đoan Ket online Ngày : 2009-01-30 08:42)


xxxxxxxxxxx

Giải mã việc nhảy múa trên than hồng hơn 500 độC
Việc đi trên than hồng đã được nhiều người thực hiện, do chân chỉ tiếp xúc với than hồng trong một thời gian nhất định, rồi bước đi tiếp nên việc đi trên than hồng là điều đơn giản...



Học viên lớp cảm xạ học ở Hải Phòng, Tạ Quang Thanh bước qua than hồng như đi trên mặt đất.


Hiện tượng đi trên than hồng của những cảm xạ viên ở Hải Phòng hôm 21/5 đang khiến rất nhiều người quan tâm. Theo các chuyên gia thì hiện nay trên thế giới và Việt Nam việc đi trên than hồng đã được nhiều người thực hiện, do chân chỉ tiếp xúc với than hồng trong một thời gian nhất định, rồi bước đi tiếp nên việc đi trên than hồng là điều đơn giản...

Xuất phát từ tín ngưỡng

Ở một số dân tộc vùng cao của Việt Nam như xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang thường tổ chức những cuộc thi đi trên lửa vào dịp đầu năm mới. Ngày tổ chức lễ hội được các già làng, trưởng họ hay Thầy Tào xem xét kỹ lưỡng, từ mồng 2 - 5 tháng Giêng âm lịch. Để đi trên lửa, người dân đã đốt những đống củi to ngay từ rất sớm, khi củi cháy hết người dân sẽ lấy than hồng rực để rải thành "tấm thảm".

Những người "đùa với lửa" sẽ ngồi "hầu lễ" ngay từ đầu buổi, họ lấy que tre gõ liên tục vào những ống vầu đã chuẩn bị từ trước và Thầy Tào sẽ khấn vái xin "thần lửa" về cùng chung vui với dân làng. Khi "thần lửa" đồng ý, từng đôi một sẽ vào nhảy trên những đống than bằng những bước chân trần. Khi đôi trước nhảy xong, đôi tiếp theo sẽ vào hầu lễ rồi tiếp tục vào nhảy, cứ như thế cho đến hết lễ hội.

Những lễ hội này thường thu hút rất đông thanh niên chưa có gia đình, họ đến đây với mong ước sẽ tìm được người hợp duyên để kết duyên với nhau thành vợ, thành chồng. Đến mùa xuân sau, họ lại dìu dắt nhau đi lễ hội mong thần lửa phù hộ cho tình yêu, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt, ấm no...

Không chỉ ở Việt Nam, mà ở một số quốc gia trên thế giới cũng có những lễ hội đi trên than hồng. Ở Ấn Độ người ta đã có những bằng chứng, chứng minh rằng lễ hội đi trên than hồng đã có từ 1.200 năm trước Công nguyên.

Cho đến nay, những lễ hội kiểu này vẫn được duy trì. Chúng thường gắn với một số tín ngưỡng tôn giáo nào đó, chẳng hạn, mỗi người phải đi trên lửa ít nhất một lần, phải bê cục than hồng trên tay rồi chuyển cho người khác...

Những hành động này nhằm chứng minh cho hành động của những người thực hành nghi lễ là tốt về bản chất, hoặc thể hiện sức mạnh siêu nhiên của thần thánh, cầu mong sự ban ơn của đấng tối cao cho con người ấm no, hạnh phúc.

Chuyện bình thường

TS Vũ Thế Khanh, giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học Ứng dụng UIA cho biết: Việc đi chân trần trên than hồng được những người luyện tập trong bộ môn yoga, cảm xạ học thực hiện là bình thường.

Ở Trung Quốc nhiều người có khả năng biểu diễn nung các thanh sắt nóng hàng nghìn độ để quệt vào các vị trí trên cơ thể. Để có thể có khả năng đặc biệt như thế những người này phải trải qua một quá trình tập luyện rất công phu và kiêng kỵ nhiều thứ.

Theo ông Khanh, các cảm xạ viên ở Hải Phòng có thể đi trên than hồng ở nhiệt độ trên 500 độ C một cách bình thường như đi trên mặt đất nhờ một phần tập luyện khí công, kết hợp phương pháp tập yoga. Nhiều người có thể đi trên than hồng vì khi da chân tiếp xúc với than chỉ trong thời gian ngắn, rồi chân được nhấc lên.


Nhiều người có thể đi trên than hồng vì khi da chân tiếp xúc với than chỉ trong thời gian ngắn, rồi chân được nhấc lên.


Lòng bàn chân chỉ tiếp xúc với than trong khoảng thời gian ngắn như thế, lớp da chân sẽ không chịu sự tác động của than ở nhiệt độ cao. Giống như khi người ta biểu diễn chạy trên các tấm cót dưới nước. Trước khi chạy họ phải vận khí công, chỉ được tiếp xúc nhanh, khẽ chạm trên những tấm cót này để chạy qua một cách nhẹ nhàng.

Theo ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, trong chương trình Chuyện lạ Việt Nam, đã từng có người biểu diễn đi trên than hồng ngay tại trường quay S9 Đài Truyền hình Việt Nam năm 2005.

Sự tin tưởng tuyệt đối là sẽ không bị bỏng cộng với điệu nhảy tốc độ là bí quyết của việc đi trên thảm lửa. Các chuyên gia của Đức đã xác định chính xác được nhiệt độ mà đôi chân trần phải chịu trong một lần tổ chức lễ hội của thổ dân đảo Fiji.

Lúc cao nhất, nhiệt độ dưới bàn chân người nhảy múa lên tới 80 độ C trong khi than nóng những 330 độ C. Ở đây chúng ta cần xét hai yếu tố. Thứ nhất, xét trên trạng thái cơ thể, không phải lúc nào cơ thể chúng ta cũng có thể làm những việc khác thường như thế được.

Mỗi người có khả năng khác nhau như một số người có thể dùng lưỡi liếm dao đã nung đỏ. Ta có thể gọi đó là trạng thái xuất thần của cơ thể. Thứ hai, trước khi họ thực hiện cần phải đọc một câu thần chú, xin phép một ai đó để thực hiện và phải làm một số động tác như múa may quay cuồng, trạng thái lâng lâng, để cơ thể trở về vô thức.

Ông Hải cho hay, ông đã từng tự tay mình bốc than hồng lên để truyền từ tay nọ sang tay kia một cách bình thường mà tay không bị bỏng. Và trường hợp những người đi trên than hồng với nhiệt độ trên 500 độ C cũng vậy.

Việc chuẩn bị về mặt tinh thần, nâng khí lên cơ thể và tập luyện về mặt sức khoẻ, quyết tâm bước qua những đống than hồng là những điều cần thiết cho mỗi người. Thực ra đây cũng là việc không có gì lạ lắm. Nếu chúng ta quan sát kỹ khi người đi trên than hồng, tiết diện bàn chân chỉ chạm nhẹ với than hồng rồi nhấc chân lên để bước đi tiếp.

Như thế có thể bước đi bình thường trên mặt than hồng mà không sợ bị bỏng chân. Chúng ta đều có thể bước trên than hồng nhưng không thể đứng một chỗ, như thế chắc chắn chân sẽ bị nướng thành than.

BS Đặng Văn Quế, nguyên chuyên viên pháp y Bệnh viện Việt Đức cho biết, việc đi trên than hồng không để nhằm mục đích chính là chữa bệnh ra mồ hôi chân hay chân bị hôi thối. Việc đi trên than hồng giúp cho con người ta khỏe mạnh, rèn luyện tinh thần, chiến thắng mọi khó khăn trong cuộc sống.

Khi ai đó đi được trên than hồng là kết quả của quá trình tập luyện. Chúng ta biết rằng việc một số người bị bệnh ra mồ hôi, hôi thối tay chân là do bị tổn thương thần kinh, stress, cũng có thể là do tuyến cường gián đoạn... điều này chúng ta có thể điều trị bằng các phương pháp nội khoa. Nhưng nhờ quá trình đi trên than hồng cơ thể sẽ chế ngự được những thứ bệnh tật liên quan đến hệ thần kinh ở ngoài da.


Về Đầu Trang Go down
kiss
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tự truyện của nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài   Mon Apr 04, 2011 9:15 pm

Tự truyện của nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài

TÌNH NGƯỜI ÂM DƯƠNG


Người ở thiên thu

Có lẽ đấng tạo hóa bày đặt ra những hiện tượng huyền bí mà con người tóm gọn lại gọi chung vào hai chữ "tâm linh". Những nghịch lí và cả tính logis trong chuyện này như một trò chơi ú tim để cho con người cứ phải tìm phải kiếm…
Hơn một lần tôi hối tiếc rằng giá như bao nhiêu năm qua, mỗi lần tôi làm công việc tìm mộ thất lạc cho dù những lần tìm mộ đó thành công hay thất bại, tôi đều ngồi viết lại tất cả thì bây giờ những câu chuyện của tôi sẽ được trích trong cuốn sổ “ Nhật kí làm việc”. Nhưng tiếc rằng……
Hơn mười năm qua tôi đã tìm được bao nhiêu ngôi mộ? Tôi đã tiếp cận được với bao nhiêu vong hồn để tìm hài cốt? Tôi không nhớ và tôi cũng chẳng ý thức rằng mình phải nhớ.
Tôi chỉ biết tìm và tìm…. Ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm lại nối năm, thông tin nối tiếp thông tin…
Với tôi trải nghiệm là tất cả.
Cuộc sống của con người là bức tranh muôn màu. Công cuộc tìm hài cốt thất lạc của tôi cũng thế, tôi đã phải trải qua bao nhiêu gian truân sóng gió trong công việc nhiều khi tưởng chừng không thể vượt qua. Bao nhiêu gia đình là bấy nhiêu liệt sĩ, mỗi một liệt sĩ dù tôi có giúp gia đình tìm được mộ hay không đều là một câu chuyện dài giúp tôi có thêm kinh nghiệm, như một bài học đã qua để rồi ngày mai tôi lại có thêm những bài học mới, bài học trong cuộc đời của một nhà ngoại cảm như tôi.
Tôi hoàn toàn mất hẳn khái niệm sự sống và cái chết của con người.
Với tôi tất cả là hiện hữu, là hoàn toàn có thực!
Tôi viết lại câu chuyện này như một món quà dành cho chính tôi khi đang làm công việc này và tôi muốn lưu tặng gia đình chị Oanh, anh Mạnh và tôi sẽ gửi tặng người thân, bạn vong niên, những người tri kỉ thân thiết của tôi đã phần nào hiểu về tôi. Câu chuyện tôi kể ra đây là một trong những câu chuyện tôi nhớ nhất, ấn tượng nhất. Người liệt sĩ ấy đã giúp tôi có thêm hiểu biết, dạy tôi trưởng thành lên thật nhiều trong công việc. Tôi hiểu rõ hơn về thế giới tâm linh, nơi có những con người mà chúng ta quen gọi là linh hồn đang tồn tại ở một thế giới mà tôi vẫn quen gọi là thế giới âm, thế giới bên kia.
Trong con mắt tôi, con người ở cái thế giới thứ hai họ đang tồn tại, sự tồn tại ấy thực chất là gì? Cần phải có cái nhìn như thế nào đối với sự tồn tại mà tôi đang hàng ngày chứng kiến? Trăn trở của tôi giống như một mớ chỉ thắt nút rối tung thì giờ đây cùng với thời gian mọi chuyện đang dần sáng tỏ.
Công lao này là của những con người ở cõi bên kia, con người cõi bên kia vẫn đang được người ở bên này quen gọi là ma, là linh hồn, là đồng cốt, là vong, là cô hồn… nhưng tôi hiểu đó chỉ là những danh từ mà người sống đặt cho những người đã khuất. Những người đó đã giúp cho tôi viết lại được phần nào câu chuyện mà tôi quen gọi họ là người âm.
Với tôi, người âm đó cũng là con người như tất cả chúng ta.
Tôi mang ơn họ bởi họ là những người thầy dẫn dắt tôi khám phá thế giới huyền bí. Trải nghiệm này đã cho tôi nhận thức ra rằng, thế giới tâm linh là một kho tàng bí ẩn, để cho mỗi chúng ta khám phá và chiêm nghiệm, và hơn hết bất cứ nơi đâu trên thế giới này tôi đã tìm ra được “nguồn sống bất tận” từ thế giới bên kia…

Từ chuyện liệt sĩ Lê Hữu Hạc…

Đó là khoảng thời gian cuối năm 2008.
Một buổi tối như bao nhiêu buổi tối khác. Sau một ngày làm việc vất vả, tôi lại phải tiếp tục với công việc của mình. Bỗng có tiếng chuông điện thoại reo, tôi cầm máy :
- A lô, tôi nghe!
Một giọng phụ nữ trầm ấm vang trong máy. Chị xưng tên và địa chỉ của chị lẫn tên của liệt sỹ mà tôi đã nhận tìm cho gia đình chị. Chị hỏi tôi còn nhớ trường hợp của gia đình chị không? Tôi không thể nhớ rõ ràng trường hợp này vì chị gọi rất bất ngờ nên cứ ú ớ nhớ nhớ, quên quên. Tuy vậy tôi liền hỏi chị :
- Có vấn đề gì không chị?
Chị thông báo cho tôi biết ngôi mộ mà tôi tìm cho gia đình chị đã được gia đình chị mang mẫu hài cốt đi giám định AND và kết quả là….không chính xác! Chị nói thêm :
- Em dẫn tìm mộ từ xa, các đặc điểm em nêu khi gia đình đi tìm là rất chính xác. Do vậy thật lòng bây giờ chị cũng chẳng hiểu ra làm sao nữa.
Chị chào tôi rồi cúp máy.
- Anh Hải đâu? Lục tìm ngay hồ sơ liệt sỹ Lê Hữu Hạc!
Đã biết tính tôi, Anh Hải lục tìm hồ sơ theo yêu cầu của tôi. Một lúc sau Anh Hải đưa tập hồ sơ cho tôi và đứng bên cạnh chờ đợi. Con bé đã quá quen chịu đựng với mọi sự vui buồn, nóng giận bất thường trong công việc của tôi. Nó luôn là người hứng chịu. Tôi bắt Anh Hải phải nhớ cả liệt sỹ, nhớ cả người nhà liệt sỹ và mô tả nhanh để giúp tôi hình dung ra được trường hợp ấy…. Nó lắp bắp, lí nhí trong cổ họng :
- Dạ….thưa…nhiều trường hợp quá nên con không thể nhớ nổi đây là trường hợp nào cả ạ!
Chỉ chờ có thế, tôi nổi xung với con bé. Nó đứng nép vào một góc nhà chịu trận cứ như thể kết quả giám định AND không đúng là do lỗi của nó mà nên vậy.
Lục tìm lại toàn bộ hồ sơ và đọc kỹ lại bản báo cáo kết quả tìm mộ liệt sỹ của gia đình tôi mới hiểu là : Chị Lê Thị Kim Oanh là em gái liệt sỹ Lê Hữu Hạc. Gia đình trước đây đã nhờ nhà Ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy và một cô giáo Mai ( cũng là nhà ngoại cảm ) nào đó tìm mộ cho liệt sỹ Hạc. Hai nhà ngoại cảm Bảy và Mai chỉ vào hai ngôi mộ khác nhau trong nghĩa trang Lộc Ninh - Bình Phước, do vậy gia đình chị Oanh đã lấy mẫu cả ở hai ngôi mộ mang đi giám định AND. Trong khi chờ đợi kết quả giám định AND, gia đình chị Oanh đã đến văn phòng của tôi đăng ký áp vong. Sau khi áp vong, gia đình chị Oanh nhờ tôi hướng dẫn tìm mộ anh Hạc.
Sau khi nhận được thông tin từ liệt sỹ Hạc, tôi kiểm tra thấy thông tin là chính xác nên tôi nhận lời với gia đình chị Oanh là sẽ hướng dẫn qua điện thoại cho gia đình chị Oanh đi tìm mộ liệt sỹ Lê Hữu Hạc. Theo sự hướng dẫn của tôi, ngôi mộ tôi chỉ trùng với ngôi mộ mà cô Mai đã chỉ trước đó. Nhưng bây giờ thì kết quả giám định AND cho thấy cả hai ngôi mộ đều không phải hài cốt của liệt sỹ Lê Hữu Hạc.
Nhận được thông báo kết quả từ chị, tôi thật sự choáng váng!...


Trong lòng tôi trào lên nỗi cay đắng lẫn giận hờn chính bản thân mình.
Trời đất ơi! Sao lại có chuyện như thế này! Trong sự dằn vặt, tôi mâu thuẫn với bản thân mình. Tôi không còn hiểu nổi chính con người của tôi nữa. Tôi cố thuyết phục bản thân tôi rằng tôi làm công việc này cũng vì ước muốn mong mang hạnh phúc đến cho người khác. Hạnh phúc của mọi người là hạnh phúc của tôi. Liệu tôi còn đủ can đảm để vượt qua sự cố tương tự như sự cố này không? Vì mang danh một nhà ngoại cảm và chính tôi là người đã chỉ mộ anh Hạc cho gia đình liệt sỹ mà bây giờ tôi cũng chẳng thể hiểu nổi cái gọi là “ ngoại cảm “ của tôi nữa.
Tôi phải nghĩ làm sao? Tôi phải hiểu thế nào?
Trải nghiệm từ chính bản thân mình, tôi tâm nguyện sẽ cho ra đời cuốn tự truyện mà tôi đã tâm huyết miệt mài viết ra cuốn sách đó. Tôi sẽ nói cho mọi người nghe về những hiểu biết của tôi với thế giới người âm và ngược lại. Tôi muốn chia sẻ cùng tất cả mọi người trong thế gian này những điều tôi thấy, những điều tôi biết. Cả những trăn trở cùng những thắc mắc, bởi nhiều năm tiếp cận với thế giới thứ hai tôi đã nhận ra rằng tất cả những buồn rầu và đau khổ tột cùng sẽ rời xa khi con người đạt đến độ khai sáng tâm linh. Nhưng giờ đây tất cả dường như lại không phải như vậy, trong trường hợp này tôi biết hiểu làm sao? Có ai hiểu cùng tôi, ai sẽ chia sẻ với tôi, hay chỉ có mình tôi lạc lõng giữa cuộc đời này?
Người đầu tiên mà tôi nhớ đến để “ bám víu “ là anh Vũ Thế Khanh – Tổng giám đốc liên hiệp khoa học tin học ứng dụng ( UIA ). Tôi gọi điện cho anh và vừa kể đầu đuôi vừa ấm ức khóc :
- Như thế là làm sao hả anh? Có lẽ….em…xin thôi…
Trong sự ấm ức, bức xúc tôi gọi điện thoại cho nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải và nhà báo Đinh Trần. Tôi khóc lóc và…..ăn vạ :
- Có lẽ cháu bỏ…việc thôi chú ạ.
Hiểu và thông cảm cho suy nghĩ của tôi, cả ba người đều an ủi, động viên tôi hãy tiếp tục an tâm công tác.
Ngay sau đó chú Nguyễn Phúc Giác Hải và chú Đinh Trần cùng xuống văn phòng tôi để nghiên cứu kỹ trường hợp này. Chúng tôi cùng đi đến thống nhất là sẽ bắt đầu từ việc gọi linh hồn liệt sỹ Hạc lên, cho áp vong vào thân nhân liệt sỹ để xác đinh nguyên nhân. Việc này rất cần có sự đồng thuận của gia đình liệt sỹ. May sao, gia đình chị Oanh rất quyết tâm đi theo hướng chúng tôi đã vạch ra. Sau nhiều lần áp vong đi áp vong lại, vong anh Hạc đã về nhập vào hai người em trong nhà. Anh Hạc cho biết ngôi mộ tôi và cô giáo Mai cùng chỉ đúng là có hài cốt của anh, nhưng cốt còn rất ít lẫn lộn với cốt của đồng đội…
Xét về mặt tâm linh thì có thể chấp nhận thông tin của liệt sĩ, nhưng xét về khoa học thì khả năng của tôi trong trường hợp này là không chính xác. Từ việc tìm kiếm này, gia đình liệt sĩ Hạc và tôi có nhiều thời gian làm việc với nhau nên các chị em gái của liệt sĩ như đã hiểu về tôi hơn.
Tôi cảm nhận được tình cảm của các chị dành cho mình.
Nhưng cho đến tận bây giờ, mỗi lần nghĩ về câu chuyện tìm mộ anh Hạc tôi không khỏi băn khoăn, tôi không biết nên giải thích với chính lòng mình như thế nào cho thanh thản. Công việc hàng ngày ở đây tiếp xúc với hàng trăm thân nhân liệt sỹ mỗi ngày, tôi vẫn biết có rất nhiều trường hợp không thể tìm được mộ, và tôi hiểu trong chiến tranh thì chẳng có điều gì là không thể xảy ra…
xxxxxxxxxxxxxx

Một lần, tôi bị ốm khá nặng, nằm trơ trọi một mình ở văn phòng nghĩ linh tinh, ứa nước mắt vì bỗng thấy cô đơn cô độc. Tôi nghĩ đến cuốn sách “ Chuyện về thế giới tâm linh” của nhà văn Trần Ngọc Lân.
Ông viết về các nhà ngoại cảm và những đầu đề kêu như chuông đánh, nào là biệt tài ở giữa chúng ta, nào các nhà ngoại cảm Việt Nam….
Người ta chỉ biết đến các nhà ngoại cảm, những người nổi tiếng ấy vào những lúc tìm mộ, còn cuộc sống thường nhật họ thường tránh tiếp cận, vì nhà ngoại cảm là những người lập dị, người bất thường, là những ông đồng bà cốt..v.v.v…
Lúc này, tôi mới thấy trơ trọi, bơ vơ và lạc lõng làm sao.
Tôi tủi thân quá độ. Trời cao đất dày ơi! Thánh thần ơi!…Tôi là một con người, tôi chỉ là một con người như bao người khác.
Đúng lúc tủi thân nhất ấy, người em gái của liệt sĩ Hạc đến thăm. Tôi bám chặt lấy chị Oanh:
- Chị Oanh ơi, em muốn về sống ở Quảng Ninh.
Trong cơ quan lúc thì tôi kêu việc này với sếp, lúc thì tôi trình bày cái kia. Có lần sếp Khanh phải gắt lên:
- Thế bây giờ “ người thời tiết “ muốn gì? Có phải chiều cô hơn “ chiều vong “ nữa không đây?
Tôi xấu hổ chẳng nói gì chỉ nghĩ: “thôi sếp thông cảm cho em đi, em cũng chẳng hiểu nổi em nữa mà”
Giờ tôi mới thấm câu đùa của anh Khanh “ Nhà ngoại cảm là người nhạy cảm, tâm hồn thì mong manh như lá liễu, tính tình thì sớm nắng, chiều mưa, trưa nổi bão”
Khi tôi khỏi ốm cũng là lúc chứng minh cho chị Oanh thấy nhà ngoại cảm là người có tính khí bất thường mọi lúc mọi nơi, tóm gọn là “ người lập dị” . Tôi chẳng về Quảng ninh nữa. Chị vui vẻ trách tôi:
- Tôi bắt đền cô vì phải lo dọn phòng cho cô về ở đây này.
Chị coi tôi như em gái, đôi khi tôi cũng làm nũng chị dài dài.
Ngẫm mới thấy “Tái ông mất ngựa” là chuyện thật
Chị bắt đền tôi tìm giúp một trường hợp liệt sĩ của gia đình anh Mạnh hàng xóm nhà chị.
Tôi vui vẻ nhận lời.

... đến liệt sĩ Lương Xuân Tách.

Lần đầu tiên gặp anh Mạnh, đó là một người đàn ông trên 50 tuổi cao lớn. Chị Oanh giới thiệu anh với tôi. Ngồi bên cạnh anh Mạnh là anh Cường cùng công tác với anh Mạnh. Anh Cường nói chuyện với tôi khá lâu, trong câu chuyện tôi cảm nhận được tình cảm của anh Cường và sự đồng cảm sâu sắc của anh đối với công tác tìm mộ liệt sĩ.
Anh Mạnh nói oang oang:
- Cô ơi! Em đã đi tìm Bố em nhiều lần lắm rồi mà chưa tìm ra. Có bệnh thì phải vái tứ phương, nhiều thày nhiều bà phán quá làm em loạn cả đầu, giờ chẳng biết đi đâu nữa chỉ biết nhờ cô thôi đấy, cô giúp gia đình em với.
Nghe anh nói đã thấy đầy chất lính. Chị Oanh bảo :
- Trường hợp của chú Mạnh, cô nhất định phải tìm giúp chú ấy đấy. Chú ấy là con trai duy nhất của liệt sỹ đấy.
Tôi nói với các anh chị chuẩn bị cho một số giấy tờ của liệt sĩ thì anh Mạnh đưa cho tôi một loạt giấy tờ liên quan đến bố anh. Hóa ra do anh Cường cũng có người anh trai là liệt sĩ nên các anh khá rõ về đường đi nước bước trước khi tìm liệt sĩ cần phải chuẩn bị những giấy tờ gì.
Xem xong hồ sơ về liệt sỹ, tôi tư vấn thêm cho anh Mạnh, hẹn ngày đến văn phòng áp vong mời hương hồn bố anh về để gặp. Sau cuộc trò chuyện, tôi cảm nhận được sự đồng cảm, tình thương của chị Oanh và anh Cường đối với anh Mạnh - người con trai liệt sĩ.
Rồi ngày áp vong cũng đến. Anh Mạnh cũng như bao gia đình khác tới văn phòng làm lễ áp vong. Vong hồn liệt sĩ về nhập vào người cháu trai nhưng chỉ khóc rồi đi mất, không nói điều gì.
Một chút thôi, thông qua vong hồn liệt sĩ tôi biết vợ liệt sĩ còn sống nhưng đã đi tái giá. Có điều gì vướng mắc ở chỗ này? Tôi trộm nghĩ có thể là vợ của liệt sĩ không tới dự buổi cầu hồn này nên liệt sĩ không nói.
Tôi đã thấy nản. Song tôi cảm nhận được sự quyết tâm của con trai và con dâu của liệt sĩ, họ thất vọng khi không áp được vong nhưng ánh mắt hi vọng vào tôi của họ mà tôi đọc được làm cho tôi cứ thấy khổ sở và tội nghiệp cho họ. Tôi khuyên họ tiếp tục áp vong lần tiếp theo và không quên dặn anh con trai nhớ đưa mẹ anh đi dự buổi cầu vong lần tới.
Thời gian xoáy tôi vào công việc, tôi vẫn chưa sắp được lịch áp vong cho gia đình anh Mạnh lần tới. Chị Oanh lại gọi điện giục tôi về việc của nhà anh Mạnh, chị hỏi hay tôi mời liệt sĩ về gặp có được không. Vâng! em sẽ nhớ! Tôi xuề xòa.
Ngay tối hôm đó, trước khi vào việc tiếp xúc với các vong hồn liệt sĩ, tôi lưu tâm trường hợp liệt sĩ của nhà anh Mạnh. Mở tập hồ sơ, bố anh Mạnh không có ảnh để cho tôi nhận diện.
Tôi bắt đầu mời liệt sĩ về để tiếp cận. Mãi cũng không thấy liệt sĩ xuất hiện, tôi cố gắng chờ đợi, thời gian cứ chậm trãi trôi qua. Căng thẳng lẫn chờ đợi khiến người tôi mệt mỏỉ, thất vọng vì đêm nay không làm được việc gì tôi bỏ vào phòng ngủ. Vậy mà nằm mãi tôi thể chẳng ngủ được, thay vào đó nằm nghĩ ngợi linh tinh. Tự nhiên, tôi thấy sợ phát run lên vì một mình nằm vong vóng ở cái văn phòng giữa cánh đồng, bốn bề vắng lặng như chùa bà Đanh thế này.
Tôi vùng dậy, ra phòng làm việc định bụng bật thêm điện lên cho sáng để đỡ sợ, thì đập vào mắt tôi là một người đàn ông cao nhưng gầy, nhất là khuôn mặt, ánh mắt sắc lẹm, lông mày khá rậm, tuổi trạc 27, 28…
Tôi run rẩy cuống cà kê:
- Dạ…dạ…thưa chú là…chú là…
- Tôi chưa được về nước đâu, vẫn ở chỗ chôn lần đầu đấy, xương cốt còn ít lắm, khó tìm…
Tôi bủn rủn hết cả người. Tiếng người âm vang lạnh lùng, giọng nói gần như quát lại thêm phần nghiêm nghị. Họng tôi cứng lại, quýnh quáng chẳng nói được câu nào, đồng thời người kia cũng biến mất…
Thế là chẳng kịp hỏi thêm được gì hồn vía tôi tự nhiên bay hết lên chín tầng mây.
Tôi chạy vào phòng ngủ, lại chạy ra phòng làm việc, nhà tắm, ngoài sân điện bật vung lên.
Ôi sợ quá! Thỉnh thoảng lại có liệt sĩ xuất hiện kiểu này sợ chết đi được…Đã nhiều năm tôi vẫn quen với cảnh một mình gặp gỡ các vong giữa đêm để được nghe người âm tâm sự, nhưng đêm nay sao cái sợ ở đâu lại kéo đến tràn ngập trong con người tôi đến thế này?
Có những khi mải mê tiếp cận với người âm trong đêm để có thông tin tìm hài cốt, những câu chuyện li kì, dí dỏm người âm kể cho tôi nghe khiến tôi quên hết thực tại. Tôi quên mất tôi là con người đang sống ở trần gian. Một lần tôi tiếp cận với một liệt sĩ còn rất trẻ, anh nói khi anh hi sinh tuổi tròn 18, nhìn mắt anh ngân ngấn lệ tôi thương quá nên nói đùa cho anh đỡ buồn.
- Anh đẹp trai thế kia, các cô gái hồi đó nhìn thấy anh đã say anh như cù rồi anh nhỉ?
- Nghĩa là sao? ( anh tròn mắt hỏi tôi) như chợt hiểu ý anh tiếp lời:
- Anh chưa yêu ai, yêu có thích không?
Anh chờ câu trả lời của tôi nhưng lúc ấy tôi bí từ không biết nói với anh thế nào, có lẽ nhìn tôi đang ngố ngọng trước câu anh hỏi, mặc dù tôi đã trở thành bà nội mà không trả lời được câu hỏi của anh lên anh bò lăn ra cười, tôi nhìn anh cười mà không sao nín cười được nên cũng khanh khách cười theo và hét lên.
- Anh ơi, đừng cười em nữa, em xấu hổ lắm, em không biết tả yêu.
Sau tiếng cười nói một mình của tôi khi đó giữa đêm, mọi người trong nhà thức giấc hết, họ chạy lại phòng tôi làm việc ngơ ngác nhìn, họ ngỡ tôi bị khùng.
Còn tôi tới khi nhìn thấy mọi người mới giật mình trở về thực tại. Vì mặc cảm với khả năng lập dị này nên tôi thường sống một mình nhiều hơn. Mà sao cuộc đời tôi lại gắn cái với công việc chẳng giống ai thế này… Tủi phận, thương thân, nước mắt tôi lại đầm đìa ướt gối.
Tôi chẳng giống ai, cũng chẳng ai giống tôi. Chồng con bạn bè người thân cứ thấy mình như xa lạ, Tôi tự biết được mình là người như thế nào nên cố gắng sống cách biệt để khỏi ảnh hưởng tới người khác. Măc dù mọi người thân vẫn yêu thương tôi, tôn trọng tôi, nhưng tôi vẫn quá mặc cảm với chinh công việc và con người của chính tôi. Nhiều khi tôi trộm nghĩ hay phải chăng kiếp trước tôi là con nợ của nhân gian? Kiếp này con người tôi mới sống trong tình trạng nửa nọ nửa kia thế này…

Ngày ngày đầy ắp là công việc, việc này chưa xong việc kia đã tới. Việc nhà anh Mạnh phải áp vong lại lần nữa chứ biết sao đây. Tôi đành nhắn chị Oanh nhắc anh chăm thắp hương để vong hồn bố anh về gặp để còn xin đi tìm mộ.
Ánh mắt, gương mặt của liệt sĩ ám ảnh tôi…
Một ngày của tháng 11/2009, trước khi đi công tác Quảng Ninh, tôi điện cho chị Oanh vì lúc đó tôi chẳng nhớ nổi tên anh Mạnh nữa, tôi nhắc chuẩn bị cho tôi một số người để tối hôm sau tôi tranh thủ đến nhà áp vong liệt sĩ luôn.
Chiều hôm đó sau khi xong việc, tôi đến nhà chị Oanh. Buổi tối, tôi và chị Oanh cùng sang nhà anh Mạnh. Tôi lên thẳng phòng thờ khấn vong liệt sĩ để trình bày việc tôi đến nhà. Bất chợt, tôi nhìn thấy hai người âm về. Một người tôi nhận ra là liệt sĩ, lúc ẩn lúc hiện họ nói chuyện với nhau, nghe qua câu chuyện, tôi biết người kia là chị gái của liệt sĩ. Tôi hỏi anh Mạnh, anh xác nhận thông tin, tôi mừng quá nói gia đình anh tập trung ngồi vào phòng nhanh lên để tôi còn mời liệt sĩ về nhập vào một ai đó. Kết quả vong liệt sĩ nhập vào cháu gái ở quê mới ra khóc ầm ầm. Sau đó đòi uống rượu rồi hút thuốc. Liệt sỹ nói chuyện, đủ các thứ chuyện… đến khi anh Mạnh nhắc đến mẹ anh tức là vợ của liệt sĩ thì liệt sĩ mắng té tát không cho nhắc đến cái con người “ bạc tình bạc nghĩa”. Tóm lại là liệt sĩ nói vợ mình không ra làm sao cả.
Tôi bắt đầu thấy bực mình nghĩ ông liệt sĩ này sao lại hẹp hòi thế, sao ông lại vẫn còn ghen ghét đến mức quá tệ như thế được. Liệt sĩ đã hy sinh lâu lắm rồi, khi đó người vợ còn rất trẻ sao ông không thông cảm khi vợ đi bước nữa. Vì không muốn gia đình và liệt sĩ lạc đề, tôi chen vào hỏi liệt sĩ về phần mộ. Mặc dù liệt sĩ đã chỉ chỗ nằm đằng trước, đằng sau, phải, trái có những cái gì và hy sinh như thế nào nhưng vì tôi muốn chắc chắn lên hỏi rất kĩ khu vực hi sinh. Liệt sĩ nói đi nói lại với tôi chỗ liệt sĩ nằm nhưng liệt sĩ cứ chắc như đinh một câu ở chỗ đó có suối nhưng không có cá, tôi hỏi mãi địa danh hi sinh liệt sĩ nổi cáu.
- Đã bảo hy sinh ở cánh đồng Chum mà hỏi làm gì lắm thế!
Tôi bắt bẻ liệt sĩ vì trong trích lục ghi liệt sĩ hy sinh ở Xiêng Khoảng, liệt sĩ đã quát ầm ầm khiến mọi người sợ rúm, liệt sĩ bảo tôi:
- Tôi không việc gì phải báo cáo với cô là tôi nằm ở chỗ nào, đầu cô còn xanh lắm, tôi nói với con trai tôi, Cánh đồng Chum là chỗ bố nằm…
Rồi liệt sĩ quay về phía anh Mạnh.
- Con ơi, Mạnh ơi con nghe bố nhé cứ đi rồi bố sẽ chỉ cho, không phải tìm bố đâu sẽ có người tìm bố, con không được nói đưa bố về, khi bố về sẽ có cờ dong trống rước, chính phủ hai nước đưa đón bố về nghi lễ hoành tráng ấy chứ. Con hứa với bố, con sẽ đi vào lúc nào, phải đi đấy nhé, đi rồi bố chỉ cho…
Nghe đến thế tôi tức quá, liệt sĩ nói thế này thì tìm làm sao được, con cái đi tìm hết cả hơi bao nhiêu năm trời, thầy bà tam tứ phen còn chẳng thấy mộ. Vậy mà ông liệt sĩ về cứ nói thánh tướng thế này thì tìm làm sao được, đã thế còn cứ bảo con đi…
Dù rất cáu trong lòng nhưng cố nhịn hạ giọng nịnh liệt sĩ, thì người ta vẫn nói chiều như chiều vong mà, công việc bắt buộc tôi phải có tính nhẫn nại, nhưng lần này liệt sĩ coi như không có tôi cứ hò hét con cháu đi tìm, tôi nháy anh Mạnh thay đổi chiến thuật.
Anh Mạnh vào nịnh hỏi lại bố nơi ông hy sinh và trường hợp hy sinh của ông thì ngoắt một cái, giọng ông ráo hoảnh:
- Thì sang đó ở đơn vị buồn nên buổi tối bố đi vào bản chơi nên bị phỉ nó bắn bị thương chạy rồi chết, có người Lào phát hiện chôn cất bó tăng đắp mộ bố to lắm sang là thấy, đã bảo là việc gì phải tìm.
Tôi lại lăn vào hỏi.
- Bác đi cùng ai, bác bị bắn phải có người biết chứ, thế đơn vị không có kỉ luật à? Thời chiến làm sao mà vào bản chơi được, bác toàn nói dối, hay là bác không muốn về thì thôi vậy…
Rồi tôi hạ giọng:
- Cháu nói cho bác nghe này, bác đừng có lừa cháu. Thứ nhất người Lào mà chôn bác thì bộ đội qui tập bác từ lâu rồi. Thứ hai người Lào không bao giờ đắp mộ cả, bác đang nói dối. Nếu bác không muốn cho tìm thì anh Mạnh cũng thôi luôn, đi tìm làm sao được, nghe lời bác mà đi như thế thì chỉ có mà về không thôi, bác nói như thế này ai mà tin được, mà tin bác thì có mà chết. Cháu có nhiều kinh nghiệm xương máu lắm rồi, thôi cháu chán nghe bác nói linh tinh lắm rồi, mời bác về âm cho…
Liệt sĩ quát um lên và bảo tôi không có quyền đuổi liệt sĩ vì đây là nhà của con của liệt sĩ chứ không phải nhà của tôi, rồi bảo tôi là loại trẻ ranh, không thèm nói với tôi nữa. Tức quá đi mất! Tôi lôi tay anh Mạnh ra không cho nói chuyện với liệt sĩ nữa. Anh Mạnh theo tôi đi ra nhưng liệt sĩ lao vào anh Mạnh kéo lại gào lên thảm thiết:
- Mạnh ơi! Mạnh ơi! con nghe bố đừng bỏ bố con ơi, con đừng nghe người ta, nghe bố đi con ơi đừng bỏ bố con ơi…Mạnh ơi…
Tôi kéo anh Mạnh theo, đẩy anh xuống cầu thang một cách quyết liệt rồi tôi quay lại cho vong xuất hẳn khỏi người cháu gái.
Tôi ái ngại nhìn người cháu gái trở lại trạng thái ban đầu sau một hồi gào thét, tóc tai rũ rượi.

(tiep theo ...)


Tối hôm ấy khi về nhà chị Oanh, tôi và chị bàn luận trường hợp bố anh Mạnh rất lâu. Cả hai chị em chỉ biết đưa ra những câu hỏi bỏ ngỏ.
Phải rất khuya tôi mới đi nằm nhưng tôi không sao chợp mắt được. Nghĩ lại chuyện áp vong tối nay, tôi tức ông liệt sĩ này đến phát điên lên.
Lần gọi này cũng không có mặt vợ liệt sĩ. Rất may liệt sĩ về nhập vào người cháu gái, liệt sĩ nhập về khá lâu. Theo lời liệt sĩ thì người vợ của bác là con người vô tình vô nghĩa và còn nhiều lời lẽ rất nặng nề mà tôi cảm thấy ông thành kiến quá. Tôi thúc anh Mạnh hỏi thật kĩ về trường hợp hi sinh, nơi hi sinh cũng như đặc điểm ở nơi có mộ để đi tìm đưa về. Như hiểu được ý nghĩ của tôi vậy mà liệt sĩ nói với con mình việc đi tìm hài cốt của liệt sĩ dễ như thể đi lấy mộ về vậy. Tại sao liệt sĩ không chịu hiểu cho tôi đi “tìm mộ” khác với đi “lấy mộ” rất nhiều. Nếu như tìm dễ dàng như liệt sĩ nói thì từ trước tới nay người ta sẽ dùng câu nhà ngoại cảm đi lấy mộ chứ chẳng ai lại còn phải nói nhà ngoại cảm đi tìm mộ, từ “lấy” và từ “tìm” khác nhau một trời một vực mà thưa liệt sĩ, tại sao liệt sĩ cứ làm khó cho tôi và gia đình đến như thế này. Vẫn biết rằng công việc gọi vong liệt sĩ lên để hỏi thông tin đi tìm mộ đã cho tôi những bài học đắt giá. Thông thường mỗi gia đình gọi vong linh lên tôi không can thiệp vào việc của họ, tôi chỉ dám hướng dẫn thân nhân cách tiếp xúc và lấy thông tin để phục vụ cho việc tìm hài cốt. Chỉ khi nào tôi thấy thông tin không ổn, tôi mới vào cuộc để hỏi liệt sĩ. Tất nhiên tôi đã hỏi là phải nói tới từ “chuyên nghiệp” và các câu hỏi của tôi luôn luôn mang tính “lập luận”, vì thế cuộc nói chuyện của tôi và liệt sĩ thành ra căng thẳng như thể cãi nhau, nhiều khi cả hai cùng đánh thừng đánh chão, có những lúc tôi như người cãi vã với liệt sĩ, song tôi vẫn phải “Nịnh như nịnh vong”. Cuộc gọi vong tuy thành công là gọi được vong về để gia đình gặp gỡ, nhưng thông tin của vong đưa ra không đủ niềm tin cho việc tìm mộ, ôi những người âm, họ khó hiểu!
Chẳng còn hiểu nổi người âm ra làm sao nữa.
Liệt sĩ này là người ích kỉ, đã hi sinh rồi thì phải thông cảm cho phụ nữ chứ! Ai lại vẫn còn ghen kinh khủng đến thế. Liệt sĩ nói vợ khiếp quá đi mất, nghĩ lại những lời liệt sĩ nói vừa thấy sợ lại vừa thấy tức. Ai lại gọi người đã từng là vợ mình là “Cái con mẹ ấy” bao giờ.
Tôi cũng chẳng hiểu liệt sĩ nghĩ sao mà cứ luôn mồm “ Con không phải đưa bố về, con cứ tìm được là bố có nhà nước lo, bố là người nhà nước, bố hi sinh vì nhiệm vụ quốc tế cao cả, bố về là nhà nước đưa rước bố về chứ không cần con đưa bố về, cả hai nước Việt - Lào tiễn đưa và tiếp đón bố về trong nghi lễ long trọng lẫn tưng bừng ấy chứ. Bố về là phải hoành tráng ấy chứ làm sao con phải đưa bố về…”
Bằng ấy câu của liệt sĩ cứ văng vẳng bên tai tôi, chẳng biết ông liệt sĩ này có hiểu được nỗi nhọc nhằn vất vả của những người đi truy tìm cũng như qui tập liệt sĩ hay không mà liệt sĩ nói cứ nhẹ như lông hồng thế không biết.
Như anh Mạnh nói thì khu vực chôn cất liệt sĩ ngày xưa, bây giờ là cánh rừng hoang vắng rậm rạp, chỗ liệt sĩ nằm sau này bị bom chà đi đánh lại, đội qui tập đã đến tọa độ đó đào bới mãi không thấy gì, không chắc có còn hài cốt của liệt sĩ hay bom bỏ bay hết cả rồi nên liệt sĩ nói thế. Chỉ mỗi việc tìm kiếm thông tin của liệt sĩ mà gia đình anh Mạnh đã phải đi nhờ hết thầy nọ, cô kia, vậy mà cho tới giờ vẫn chưa có nguồn thông tin nào đáng tin cậy để làm cơ sở lên đường đi tìm liệt sĩ…
Việc đi tìm liệt sĩ đâu có phải một bước tới ngay, tìm cái thấy ngay.
Không biết liệt sĩ có hiểu cho lòng tôi, liệt sĩ có thấu hiểu được nỗi lòng của người thân khi đi tìm không thấy mộ, người ta sẽ sụp đổ tinh thần, vì khi đó người thân của liệt sĩ quá kì vọng vào các nhà ngoại cảm.
Bài học về tìm mộ liệt sĩ Quang Minh ở Camphuchia tôi vẫn còn nhớ, vẫn biết lỗi không phải do tôi nhưng cũng chính tại anh Quang Minh nhập về bắt anh Lê Thái Thọ phải đi tìm ngay. Anh Minh nói tìm dễ quá tới mức tôi có góp ý thế nào anh Thái Thọ cũng không chịu nghe, anh bảo anh phải đón bằng được bạn anh về…Để rồi đến khi anh đi không tìm thấy hài cốt anh Quang Minh lại kéo theo cả một hệ lụy, anh Thái Thọ cứ đáu đáu một điều “Chị ơi bằng mọi giá phải tìm được bạn tôi, mong chị giúp đỡ, tôi thật sự không biết trông chờ vào đâu nữa”
Nghe anh nói lòng tôi đắng chát, tôi thì biết làm sao bây giờ, có phải người liệt sĩ nào tôi cũng tìm được hài cốt đâu?
Ôi, các liệt sĩ kính mến, khi người thân có nguyện vọng đi tìm hài cốt của liệt sĩ bằng con đường tâm linh ngoại cảm thì các thân nhân liệt sĩ đến nhờ các nhà ngoại cảm tìm mộ trong đó có tôi, khi muốn tìm liệt sĩ, người thân của liệt sĩ trông chờ tất cả vào tôi. Còn tôi kì vọng vào những cuộc giao tiếp với liệt sĩ mà bây giờ liệt sĩ nói như thể đánh đố tôi thế này thì tôi biết làm sao…
Băn khoăn, tôi gọi điện nói chuyện với chú Đinh Trần. Chú bảo Cánh đồng Chum là một khu vực thuộc tỉnh Xiêng Khoảng của Lào.
Nghe chú nói tôi hơi giật mình. Liệt sĩ đã chỉ dẫn đúng, nhưng vì tôi không thuộc địa danh cho rằng liệt sĩ nói sai lên liệt sĩ bực tức chăng? Tôi bỗng thấy sờ sợ….

xxxxxxxx

Một đêm tôi mời liệt sỹ về.
Tôi trình bày lí do mời liệt sĩ. Tôi xin lỗi liệt sĩ về những hành động thật không phải của tôi đối với liệt sĩ ở lần gọi trước và xin phép lần này được hỏi chuyện. Liệt sĩ đồng ý.
Thông qua lời kể của liệt sĩ, tôi chắp nối lại nội dung như sau: Liệt sĩ sinh ra trong một gia đình có 7 chị em, 2 trai 5 gái, có một chị gái chết khi còn bé. Liệt sĩ là con trai út, trước khi đi bộ đội, liệt sĩ có yêu một người cùng làng nhưng không lấy được nhau vì gia đình bắt cưới người khác. Người vợ này sinh được một người con trai là anh Mạnh. Vợ liệt sĩ lấy chồng có thêm 5 người con nữa. Người yêu của liệt sĩ cũng đã có gia đình và đang ở xa. Liệt sĩ nói phần mộ hài cốt còn ít khó tìm, nếu quyết tâm cao thì mới lấy được còn không thì không chắc…
Tất cả bấy nhiêu là những thông tin cần thiết giúp cho tôi “truyền thông” cho cõi sống này…
Ngay hôm sau tôi gọi cho anh Mạnh và kể cho anh Mạnh nghe về những thông tin tôi nắm bắt được qua vong hồn liệt sỹ. Anh xác nhận thông tin và hồ hởi :
- Đúng bố em rồi cô ơi. Đúng rồi! Đúng rồi! Thế thì chắc chắn lần này em sẽ tìm được bố em cô ạ
Nghe anh nói mà tôi băn khoăn, vì thông thường liệt sĩ sẽ hướng dẫn kĩ cho tôi đường đi nước bước để tôi còn biết cách hướng dẫn người nhà tìm mộ.Còn bố anh cứ lững lờ, hờ hững đến khó hiểu.
Anh Mạnh nói nhất định đi tìm bố nhưng tôi giao kèo phải có tôi đi cùng, bởi ai mà biết được cuộc tìm kiếm sẽ diễn ra như thế nào?
Phải công nhận anh Mạnh có quyết tâm rất cao, chứ tôi thì chùn bước. Tôi băn khoăn gọi điện tâm sự với chị Oanh. Chị đồng tình với ý kiến của tôi và tôi nhờ chị làm công tác tư tưởng cho anh Mạnh. Hơn ai hết tôi hiểu tâm lí của người đi tìm mộ.
Người ta có thể quá kì vọng vào nhà ngoại cảm, nhưng đến khi đi không tìm được mộ họ sẽ bị thất vọng, đau đớn và đổ vỡ trong lòng, vết thương tinh thần ấy khó mà hàn gắn kịp.
Tôi không muốn đau thương chồng chất lại chồng chất đau thương.

Sức mạnh yêu thương.
Vào tháng 12/ 2009, khi tôi đang đi công tác Trà Vinh, một đêm vong hồn bố anh Mạnh về gặp tôi, ông nhắc lại cái hẹn tìm ông đã đến ngày.
Tôi gọi điện cho anh Mạnh và mặc cả:
- Nếu anh còn nhờ em tìm bố anh thì anh nhất định phải chờ em về để em đi cùng. Anh không được tự đi, xa xôi khó khăn như thế không tìm thấy là khổ lắm đấy.
Nhưng sáng ngày 29/12/2009, tôi vừa đi công tác về đến văn phòng, nghe điện anh thông báo anh đang ở trên đất Lào. Tôi không còn dám nói câu gì, tôi hiểu lúc này niềm hi vọng duy nhất của anh là tôi, bởi ai đó đi tìm mộ thông qua ngoại cảm đều đặt một niềm tin to lớn vào nhà ngoại cảm mà họ đang nhờ cậy. Dù có lo lắng vì anh đã không làm theo ý kiến của tôi thì tôi cũng phải cố bình tĩnh động viên anh yên tâm, ngày mai tôi sẽ hướng dẫn cho anh tìm hài cốt bố anh. Nhưng thực sự sau cuộc điện thoại, áp lực tâm lý đè chặt lấy tôi.
Đêm 29/12/2009, tôi chẳng dám nghĩ đến nghỉ ngơi sau chuyến công tác dài. Tôi chủ động mời liệt sĩ về trong hồi hộp lo âu. Rất may liệt sĩ đã xuất hiện, khi nghe tôi thưa chuyện con trai ông đang ở Xiêng Khoảng thì liệt sĩ bảo tôi:
- Được! Tôi sẽ đi để chỉ cho nó.
- Bác đi đâu ạ? Bác phải ở đây với cháu chứ?
Nghe tôi nói liệt sĩ cười. Ôi nụ cười là mười thang thuốc bổ giành cho tôi lúc này. Tôi dỗ dành :
- Bác ơi! Bác đừng đi, bác phải ở đây với con chứ, mai sẽ tìm được hài cốt của bác, bác ơi bác muốn dùng thứ gì con dâng cúng bác.
Liệt sĩ nhắc tôi sáng mai cúng cho liệt sĩ cái bánh đa vừng nướng, rượu, trà...thuốc lá…bánh kẹo, cái gì thì…tùy tâm
Sáng sớm hôm sau, Anh Hải đã sắm một cái lễ thật tươm tất và không quên cái bánh đa vừng thơm phức cúng liệt sĩ. Khoảng 9 giờ, anh Mạnh gọi điện cho tôi. Tôi bắt đầu công việc chỉ dẫn cho anh. Hình ảnh nơi anh tìm kiếm hiện ngay trước mắt, vậy mà dù tôi chỉ dẫn ra các đặc điểm nơi anh đang đứng rất chính xác, nhưng còn phần quan trọng nhất tôi lại quá loay hoay không căn được nơi nằm của bố anh nằm chính xác ở chỗ nào trong cái khoảng hình ảnh tôi đang thấy có cả anh và mấy người nữa cùng hài cốt liệt sĩ. Quả là quá lúng túng bởi tôi biết cái mình thấy không lột tả hết bằng lời được, ngôn ngữ hạn hẹp thì phải, có thể tôi sẽ thất bại chăng?
Đang không biết xoay sở ra sao thì liệt sĩ xuất hiện. Tôi mừng hơn vớ được kim cương đá quí. Tôi van nài, cầu cứu ông, nhưng ông lạnh lùng nói:
- Thằng này vô tâm không khéo thành người bất hiếu, nó đi tìm bố nó có thèm mời ai lấy một điếu thuốc chén rượu. Bố nó là bộ đội thì phải có đồng đội chứ…Kém lắm! Kém lắm…
Dùng hết sức bình sinh tôi cố nhìn thật kĩ nơi anh Mạnh và đội qui tập đang hiện hữu. Tôi chỉ thấy có mấy nén hương đang cháy dở…
Kinh nghiệm cho tôi biết là không thể tìm được mộ bố anh nếu anh làm những việc mà ông chưa vừa ý. Tôi nhắc anh dừng cuộc tìm kiếm, hãy ra khỏi rừng chuẩn bị cho tươm tất bánh kẹo thuốc chè cho các liệt sĩ liên hoan với nhau và không quên nhắc anh thắp hương cho đồng đội của liệt sĩ đang nằm ở đội qui tập.
Tại văn phòng, tôi nhắc Anh Hải đi sắm ngay một mâm lễ cúng các liệt sĩ.
Ngày hôm sau anh Mạnh điện về cho tôi. Tôi bắt đầu vào việc. Hình ảnh nơi anh đứng đưa về khá rõ cho tôi hướng dẫn chi tiết. Liệt sĩ cũng xuất hiện, nét mặt ông tươi tỉnh. Lúc này, tôi nhìn rất rõ ông có đôi môi rất dày. Khi hướng dẫn từ xa qua điện thoại cho thân nhân liệt sĩ tìm hài cốt, điều tất yếu trong công việc là tôi phải định lượng được khoảng cách các vật chuẩn đặc biệt làm mốc để hướng dẫn cho thân nhân tìm mộ. Cái cây tôi lấy để làm chuẩn nhìn rất quen mà tôi không tài nào nhớ ra tên gọi của nó là cây gì để nói cho anh Mạnh nhận diện. Tôi cố vắt óc nhớ xem cái cây ấy nó được gọi chính xác là cây gì mà sao tôi đầu óc tôi lúc này lại mụ mị đến thế… Như hiểu được tôi, liệt sĩ cất tiếng hát :
- Con gà cục tác… lá chanh, con lợn ủn ỉn mua… hành cho tôi, con chó khóc đứng khóc ngồi, mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng…. giềng…
Mừng quá tôi hét vào máy :
- Anh tìm đi ở đó có một khóm giềng duy nhất, cái bụi cây mà ở Việt Nam người ta lấy củ ăn với thịt chó ấy, anh tìm xem có cái cây em nói không?
Sau một hồi chỉ dẫn anh Mạnh và đội qui tập đã tìm được phần mộ của bố anh. Liệt sĩ mừng lắm. Lúc này, tôi thấy ông vui vô cùng. Ông nói với tôi là cứ bình tĩnh, hôm nay ông sẽ hướng dẫn cho con trai tìm thêm cả đồng đội cùng nằm với ông và cứ thế ông dạy tôi. Tôi lại hướng dẫn anh Mạnh sau mỗi lần anh gọi cho tôi và thêm một bất ngờ sau khi tìm được hài cốt của ông, trong lần ông hướng dẫn tiếp sau xuất hiện thêm hai người bộ đội đến cùng nhưng ở phía xa tôi hơn, họ im lặng tôi nhìn thấy họ còn rất trẻ, trẻ lắm…
Ngày hôm đó ở bên Lào, anh Mạnh cùng đội qui tập đã tìm được cả thảy được 3 mộ liệt sĩ. Ở văn phòng tại Việt Nam, tôi sung sướng quá cũng nhảy tưng tưng. Nhưng nước mắt lại cứ trào ra.
Thấy tôi giống trẻ con, liệt sĩ cười bảo:
- Vui quá hóa khóc hẳn, cám ơn chị tôi về…
Tôi cố níu kéo các liệt sĩ ở lại với tôi. Tôi xin họ kể cho tôi nghe tại sao cả ba người lại xuất hiện ở đây và tôi hỏi hai người liệt sĩ đi cùng kia nhưng cả hai chẳng ai nói chuyện với tôi. Cả hai người đều hiền lắm còn liệt sĩ nhà anh Mạnh thì chỉ nhìn tôi cười chẳng nói gì. Kệ cho tôi ríu ran thưa gửi, tôi ngờ ngợ cách cười của ông không phải ông cười vì ông vui đã tìm được hài cốt mà có lẽ ông buồn cười cái tính của tôi. Không biết liệt sĩ có nghĩ là tôi cũng đang rất vui khi con trai liệt sĩ cùng đội qui tập đã tìm thấy mộ, mà còn tìm thêm được 2 liệt sĩ nữa nên tôi đang vui lắm hay liệt sĩ lại đánh giá tôi là một con người có tính cách dở hơi.
Phải nói rằng liệt sĩ đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất từ khi mời vong liệt sĩ lên cho đến khi tìm được mộ. Liệt sĩ đã làm cho tôi vừa tức, vừa buồn cười vừa sợ.
Sau này khi đã tìm được liệt sĩ Lương Xuân Tách, vì điều kiện công tác của cả hai người nên tôi và anh Mạnh không có dịp gặp nhau trực tiếp nhưng anh vẫn dành thời gian liên lạc điện thoại với tôi. Anh kể lại cho tôi nghe khi ở bên Lào tôi đã hướng dẫn như thế nào để cho anh tìm được mộ, nghe anh kể lại tôi có cảm giác như anh đang kể về một ai đó, chứ không phải là chính mình.
Công việc đã giúp tôi nhận ra mỗi lần tiếp xúc được với một liệt sĩ là một cuộc đời, là một câu chuyện. Tìm mộ liệt sĩ là cả một sự dẫn dắt con người trần thế tới kho tàng văn hóa tâm linh huyền bí nhưng cực kì hấp dẫn. Bởi vậy công việc này càng ngày càng thêm thôi thúc tôi khám phá một thế giới mới, thế giới cuộc đời thứ hai của con người đang tồn tại.


Trở về đất mẹ.

Thường thì việc tìm mộ sẽ dừng lại đây. Họa hoằn lắm cũng có liệt sĩ khi tìm được hài cốt mang về quê an táng, tôi có điều kiện đến gia đình dự lễ. Hơn mười năm tìm hài cốt liệt sĩ có lẽ tôi có vinh dự được dự ngày lễ an táng các liệt sĩ chỉ có thể điểm trên đầu ngón tay.
Tôi vinh hạnh được gia đình anh Mạnh mời sang Lào đón bố anh cùng các liệt sĩ về nước trong đợt này. Tôi rất vui vì biết rằng chỉ mấy ngày nữa thôi tôi sẽ được đi đến địa danh Cánh đồng Chum nổi tiếng thời chống Mỹ, khám phá là sở thích bất tận của tôi.
Tháng cuối năm, trời vừa mưa vừa rét. Mấy hôm nay trời lại mưa tầm tã. Anh Mạnh đến văn phòng đón tôi đi. Nhìn chiếc xe ô tô gầm thấp của anh, tôi ái ngại hỏi anh liệu chiếc xe này có sang tới Lào được không? Anh bảo lần trước anh đã đi bằng con xe này. Tôi lên xe ngồi cùng cô gái khá trẻ, anh không giới thiệu nên tôi cũng không tiện hỏi.
Xe chạy qua văn phòng một đoạn, tôi nghe cái ào thì đã nhìn thấy liệt sĩ ngồi ở giữa nghế của tôi và cô gái kia. Tôi khẽ nép người sát vào cánh cửa nhường chỗ cho bác. Cô gái kêu lạnh và cứ dịch ra xa tôi. Vô tình hai chị em tạo ra một khoảng trống giữa băng ghế đủ cho một người ngồi.
Tôi cố trấn tĩnh nhưng bắt đầu thấy run. Tôi cố lờ liệt sĩ đi vì tôi không biết phải làm thế nào khi mà trên xe còn hai người nữa. Nếu ứng xử không đúng lúc, đúng chỗ gia đình anh Mạnh lại cho tôi là “Điên”
Anh Mạnh mở đĩa có bài hát thời chiến ra nghe.
Qua trò chuyện, tôi mới biết cô gái tên là Tình là em gái của vợ anh Mạnh. Anh kể cho chị em tôi nghe tuổi thơ nhọc nhằn của anh, những kỉ niệm về người bố liệt sĩ, về bà nội, về quê hương anh, về những chuyến đi tìm bố đằng đẵng mà anh đã trải qua. Đoạn đường cứ dài thêm theo câu chuyện anh kể. Thỉnh thoảng anh lại thay đĩa hát các bài khác nhau để bố anh nghe. Tình cảm của anh đối với người bố đã khuất thấm dần sang tôi. Tôi chạnh lòng nghĩ về cuộc đời mình và người bố đẻ của tôi.
Hơn ai hết lúc này đây, tôi thèm muốn cái tình cảm của anh dành cho bố mình. Tôi ước ao giá như người bố đẻ của tôi cũng là liệt sĩ thì hạnh phúc cho tôi biết nhường nào? Anh hỏi tôi về thế giới bên kia nhiều lắm, tôi chỉ biết chia sẻ với anh trong sự hiểu biết của tôi. Tôi kể cho anh nghe cuộc đời của tôi, về cội nguồn của cuộc đời và hành trình truy tìm gốc tích người bố đẻ để mà sau mười năm cất công tìm kiếm, tôi đã phải sống như thế nào khi mà tôi phải tìm một trong bốn ông bố kia, ai là bố của tôi, cuối cùng tôi phải nhờ vào giám định ADN để có một kết luận chính thức.
Cả một đoạn đường trường trên nghìn cây số đi với nhau, phải đến hàng trăm lần anh Mạnh ao ước…Anh ước những năm tháng trong chiến trận bom rơi máy chảy, bố anh kịp có thêm đứa con nữa để lại trên đời này ở bên Lào, anh sẽ bảo lãnh đưa về sống ở Việt Nam….
Tôi bảo anh là nhà văn hay sao mà mộng ra chuyện ấy? có lẽ anh suy diễn câu nói của bố anh lúc nhập vong “ bố đi bản chơi bị thương rồi chết”. Tôi nhắc anh cẩn thận với những suy nghĩ của mình.
Xe đi hai ngày mới tới Xiêng Khoảng một đoạn đường dài đã giúp anh em tôi hiểu về nhau hơn.
Đường đi càng ngày càng như leo lên cao. Giữa trưa nắng gay nắng gắt, ông mặt trời như chúc xuống ngang đầu. Tôi nao nao hình dung ra 40 năm trước bố anh và những người lính cụ Hồ đi bộ ròng rã biết bao nhiêu tháng trời mới sang đến đất Lào. Ngồi trên xe nhìn con đường ngoằn nghèo hun hút càng khiến cho tôi khâm phục những con người anh hùng năm xưa.
Xe đến Xiêng Khoảng cũng là lúc ông mặt trời xuống núi. Chiều tà chạng vạng nơi đây khiến lòng người trống vắng quạnh hiu đến lạ thường. Cảm giác tha hương đè nặng lên tôi, lòng tôi bỗng dâng trào tình yêu quê hương mãnh liệt. Ôi sao nhớ Việt Nam yêu thương tới cồn cào.
Cảm giác lo sợ không quay về Việt Nam được xâm chiếm lòng tôi…
Anh Mạnh đi xe thẳng vào trong đội qui tập, anh em trong đội ào ra đón. Chúng tôi xuống nhà quàn thắp hương các liệt sĩ.
Hương hoa nghi ngút trên bàn quàn. Tất cả có hơn một trăm liệt sĩ. Tôi thương quá, nước mắt chỉ trực trào ra.
Chúng tôi lần lượt thắp hương, tôi chắp tay khấn thầm:
- Dạ thưa các bác, các chú liệt sĩ! Cháu tên là Nguyễn Ngọc Hoài, hôm nay đứng trước nơi thờ hài cốt các bác, các chú, cháu thắp nén nhang xin phép các bác, các chú cho phép cháu được dự ngày lễ truy điệu và được cùng mọi người rước đón các bác các chú về Việt Nam quê hương mình…
Người tôi như muốn đờ ra. Ôi nhiều liệt sĩ quá mọi người quanh tôi nói cười ồn ào…
Mùi máu tươi tanh nồng xộc vào mũi, tôi thì thầm với Tình:
- Tình…Tình em có thấy gì không? Có ngửi thấy gì không?
Tình hoảng hốt hít hít :
- Có, có mùi máu, mùi máu chị ạ.
Rồi ngơ ngác.
- Ở đâu thế nhỉ, mùi máu tươi…
Tôi bấu Tình kéo ra khỏi nhà quàn. Tình cứ liến thoắng hỏi tôi tại sao tôi biết có mùi máu. Tình phán đoán hay bộ đội làm thịt lợn. Tôi nhắc Tình chạy lại chỗ cũ ngửi lại, nó chạy lại thật rồi chạy ra “Không thấy mùi gì nữa chị ạ”. Tôi cười trêu “ Đặt tên em là gì, sắp thành trạng hít chưa”. Cả hai chị em cùng cười.
Đội qui tập mời chúng tôi nghỉ lại doanh trại nhưng do hôm nay đội cũng tiếp nhiều khách nên chúng tôi xin phép ra ngoài nghỉ. Anh Mạnh đưa chúng tôi đến nhà anh Cảnh là Việt kiều. Nghe anh Mạnh giới thiệu, anh Cảnh nhìn tôi từ đầu đến chân rồi lại nhìn từ chân lên đầu, anh bảo :
- Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài đây à, nhìn như người bình thường thôi nhỉ ?
Nghe anh nói thế tôi chỉ cười. Anh Cảnh hỏi tôi chuyện hôm trước tìm bố anh Mạnh ở Việt Nam tôi đã “nhìn” thấy tất cả mọi thứ tại hiện trường nơi các anh đang có mặt cách tôi hàng ngàn km như thế nào? Anh bảo :
- Cảnh nhìn chị Ngọc Hoài cũng bình thường như mọi người Việt mình thôi nhỉ, sao chị giỏi thế, có phải trong người chị có “Phi” không? ( phi nghĩa là ma).
Rồi những thắc mắc của anh về lần tìm bố anh Mạnh đưa ra thành một loạt câu hỏi để hỏi tôi. Tôi chỉ cười trừ vì không biết giải thích với anh như thế nào.
Chợt nhớ ra chúng tôi cần phải nghỉ ngơi, anh Cảnh lật đật đi tìm nhà nghỉ cho chúng tôi nhưng chỗ nào cũng hết phòng, cuối cùng cũng tìm được một nhà nghỉ của người Lào.
Nằm xuống giường người tôi như rệu rã. Hai ngày đi xe người đau như dần. Tôi cảm thấy sức khỏe của mình sa sút trông thấy. Tôi nhớ ngày nào đi Khe Sanh bị lạc trong rừng cả một ngày trời, phải đi không biết bao nhiêu là đường đất. Muỗi thì như vãi trấu, ve rừng già kêu inh tai nhức óc, vắt thì nhiều không biết đâu mà kể. Một con cắn được vào kẽ chân máu chảy ra, 7, 8 con khác bò lên chồng chất, châu đầu nhau vào vết cắn trước hút máu. Tôi phải nhảy xuống khe nước gỡ vắt, chao ơi vắt nhiều kinh khủng, nó trơn và dai như cao su, tôi cứ lôi dài người nó ra nhưng miệng nó vẫn cắn chặt vào kẽ chân thành thử không dứt con vắt ra khỏi chân được. Thật kinh khủng ! Cứ nghĩ lại chuyện vắt ở Trường sơn tôi lại muốn ói hết cả lòng phèo của tôi ra ngoài. Vậy mà ngày hôm sau chân và đùi đau như vỡ ra mà vẫn hăng vào rừng…sao lúc ấy mình khỏe thế. Bây giờ ngồi xe có hai ngày mà tôi đã thấy mình muốn nhắm mắt tắt hơi….rồi, già rồi nên vốn sức khỏe cũng sa sút nhanh thật.
Đang vừa nghĩ vừa lơ mơ ngủ thì tôi thấy bố anh Mạnh xuất hiện. Tôi mừng quá nhưng lặng thinh vì ngại Tình sợ hoặc cho tôi là kẻ lập dị.
Liệt sĩ nhìn tôi với cái nhìn trìu mến thân thương, ông nhẹ nhàng bảo tôi:
- Cảm ơn chị Hoài lắm, không gì quí bằng đâu. Thôi nghỉ cho đỡ mệt, bác vui quá, vui quá…
Rồi bác khóc, bác lại cười vì bác vui, bác vui vì sắp được cùng đồng đội trở về quê hương, bác khóc vì bác thương anh Mạnh. Bác bảo anh Mạnh khổ lắm, khổ từ khi còn trong bụng mẹ. Con người ta thiếu cha còn có mẹ, còn anh thiếu tất. Mẹ còn đấy mà cả đời chẳng bao giờ nhìn tới đứa con của mình…
Tôi bần thần rồi lơ mơ hiểu phần nào lời bác nói. Thương bác, giận mình đã không hiểu gì về người khác lại hay nói càn, chợt nghĩ thế nào tối nay bác cũng sang phòng anh Mạnh, băn khoăn tôi gọi với sang Tình:
- Không biết bên phòng anh Mạnh có biết buông màn cho bố anh ấy về nằm ngủ cùng không, hay em sang bên đó nhắc anh đi.
Tình ngần ngại vì đã quá khuya, tôi cũng ngại, mắt nó thao láo:
- Chị nhìn thấy gì?, bố anh Mạnh ở đây à?
Tôi biết nó sợ lên đánh trống lảng:
- Chả nhìn thấy cái gì sất cả, thì người ta đi tìm mộ vẫn hay làm thế, thôi ngủ đi em. Ngủ đi mai con đi thăm thú nơi này nữa chứ.
Chẳng thể nào chìm vào giấc ngủ, thấy thương bác quá, càng nghĩ lời bác kể càng thấy thương. Tôi trách mình hành xử quá không phải với bác trong lần áp vong trước. Bác ơi! cháu ngàn vạn lần xin lỗi bác, cháu hiểu giờ đây bác đã cởi lòng cho cháu biết những bí mật của bác mà câu chuyện này chỉ có người thân kiểm chứng.
Bác ơi! Cõi giới bên kia bác có biết phải khó khăn lắm bác cháu mình mới có thể bày tỏ được với nhau. Cháu cảm ơn anh Mạnh nếu không có sự quyết tâm tìm bố của anh thì làm sao cháu có duyên được đến tận nơi bác ngã xuống. Được nghe bác dốc lòng trò chuyện. Cháu biết bác quí cháu, cháu xin cảm ơn bác rất nhiều, nếu như bác không kể cho cháu nghe về bác thì cháu làm sao mà biết được, người về cõi thiên thu và câu chuyện về một con người chìm mãi trong hư vô...


Sáng sớm hôm sau anh Mạnh sang phòng tôi lập cập kể lại:
- Cô ơi, đúng là đêm qua bố em về với em, chưa bao giờ em thấy hiện tượng như thế cả. Em đang nằm ngủ thì giật mình tỉnh giấc mở mắt em nhìn thấy một người đàn ông còn rất trẻ chỉ khoảng 26, 27 tuổi thôi nhìn em trìu mến lắm, cứ như thể canh cho em ngủ. Em nhổm dậy thì người đó biến mất thế là em thức luôn tới sáng ngồi hút thuốc lào vặt mong trời sáng quá. Đúng là bố em cô ạ, chưa bao giờ em thấy thế cả cô ơi…
Tôi hỏi anh:
- Thế anh có nhìn rõ không? Có đúng bố anh không!
- Em có nhớ nổi mặt mũi bố em thế nào đâu cô. Lúc bố em đi em còn bé quá không hình dung ra bố như thế nào.
Anh sụt sùi. Tình há mồm nghe anh Mạnh kể rồi hết nhìn tôi lại nhìn anh Mạnh nó bảo:
- Eo ơi! Chị nói dối em, thôi tối nay em nằm chung với chị chứ em sợ lắm.
Anh Mạnh giục chị em tôi đi ăn sáng nhanh rồi còn vào đội thắp hương cho bố và các liệt sĩ.
Xong việc anh đưa tôi đi thăm Cánh đồng Chum. Thị xã Xiêng Khoảng hoang sơ nghèo nàn, dấu tích chiến tranh còn vương khắp nơi, một số nhà dân của thị xã phía trước cửa nhà họ xếp đầy vỏ đạn, vỏ bom, bình tông, mũ sắt để cho khách du lịch xem miễn phí.
Buổi chiều dự lễ truy điệu, các sư người Lào đến đọc kinh. Cả ngày hôm đó, tôi thấy vong bố anh Mạnh xuất hiện bên chúng tôi liên tục. Anh Mạnh vui lắm, tất cả tình cảm của anh giành cho bố dồn nén trong mấy chục năm qua mà hôm nay tôi là người chứng kiến.
Sáng hôm sau, đoàn phải đi từ 2, 3 giờ sáng cho kịp thời gian về Nghệ An, đoàn xe của chính phủ hai nước kéo dài nối đuôi nhau. Người tiễn kẻ đón diễn ra tưng bừng hai bên đường người dân đổ ra đông nghẹt cờ hoa vẫy chào lẫn trong sương mù. Cảm nhận hạnh phúc chứa chan, tôi cùng các liệt sĩ tạm biệt Xiêng Khoảng trở về Việt Nam.
Cửa khẩu Nặm Cắn hiện ra. Biên giới Việt Lào là đây, bánh xe vượt qua trạm chở các liệt sĩ về với đất mẹ. Hai bên đường cán bộ nhân dân và các em học sinh nhiệt liệt chào đón các liệt sỹ trở về trong niềm hạnh phúc hân hoan.
118 liệt sỹ được đưa về nghĩa trang tỉnh Nghệ An. Chỉ có duy nhất một liệt sĩ được gia đình nhận đó bố anh Mạnh. Còn lại những liệt sĩ đã có danh tính còn phải truy lại thông tin để tìm người nhà. Các liệt sĩ chưa biết tên đành phải tìm nhiều cách để có thể trả lại tên cho các liệt sĩ, công việc này còn dài… chiến tranh mà biết làm sao được.
Tôi ngậm ngùi thưa với các liệt sĩ rằng công việc tìm kiếm hài cốt các liệt sỹ mà tôi đang làm đã giúp tôi hiểu biết nhiều hơn. Mỗi một gia đình là một hoàn cảnh, mỗi lần tìm mộ là cả câu chuyện dài. Nhà nước ta vẫn đêm ngày tìm các anh qui tập về nghĩa trang liệt sĩ. Các đội qui tập liệt sĩ quanh năm ngày tháng lặn lội nơi rừng sâu núi thẳm, hải đảo xa xôi, đi cả ra nước ngoài lặn lội trong gian khổ để tìm kiếm hài cốt các anh qui tập về đất mẹ. Đi tìm mộ là gian nan, là vất vả, có khi còn cả có sự hy sinh tính mạng. Đất nước chiến tranh, dân tộc Việt Nam chịu bao đau thương mất mát. Dù chiến tranh đã qua đi từ thế kỉ trước nhưng con người Việt Nam vẫn tiếp tục phải gánh chịu đau thương và cả sự hi sinh to lớn do chiến tranh để lại, trong đó có việc tìm mộ liệt sĩ.
Nhưng không phải tất cả những chuyến đi tìm cũng mang lại được kết quả. Chúng ta có thể đi tìm mộ thất lạc bằng rất nhiều cách khác nhau. Qua những đội qui tập liệt sĩ trải dài khắp đất nước. Cũng có thể tìm từ giấy báo tử, từ đồng đội hoặc các cựu chiến binh, các tầng lớp nhân dân trong toàn xã hội bằng cách đưa thông tin và truy cập các trang website.
Đi tìm mộ liệt sĩ từ trích lục hồ sơ gốc của liệt sĩ để biết liệt sĩ đang ở đâu, rồi tìm đến Ban chính sách các quân khu. Cũng có thể tìm từ các phương pháp tâm linh như gặp lại linh hồn người quá cố hoặc tìm qua các nhà ngoại cảm tìm mộ, họ sẽ vẽ sơ đồ phần mộ liệt sĩ chỉ dẫn cho tìm mộ từ xa bằng điện thoại cho mỗi gia đình. Nhà ngoại cảm phải chỉnh đi chỉnh lại thông tin cùng với gia đình để tìm mộ…
Công việc tìm mộ thật gian nan, vất vả kể sao cho xiết. Nhìn vào các nghĩa trang liệt sĩ mà tôi kính nể và khâm phục những tập thể, những cá nhân đã và đang góp sức đưa các anh về.
Anh Mạnh làm thủ tục xin phép đưa bố về quê an táng, mọi người cũng tiễn đưa ông lên xe. Chị vợ anh Mạnh vào chờ đón bố ở cửa khẩu Nậm Cắn. Do vậy khi đi ra Bắc đoàn tôi có hai xe. Xe chạy được một lát anh Mạnh phát hiện có một con vật màu trắng nhìn giống con ve sầu, nó đậu ngay ở máy lạnh của xe, ngay phía ghế đặt hài cốt liệt sĩ. Nó nằm im giống chết rồi. Mọi người sợ hãi hỏi tôi rồi lại nghi ngờ nó nằm đó lạnh quá nên chết cứng, tôi bảo không sao đâu, nó chẳng chết đâu mà lo, bao giờ về tới nhà nó sẽ bay, anh Mạnh hỏi:
- Bố em hóa thân thành con vật đó hả cô?
Không phải, tôi quả quyết và giải thích cho anh hiểu là người âm có thể điều khiển được con vật, bố anh đã điều khiển con vật này để chứng minh cho anh thấy sự tồn tại của bố chứ không phải bố hóa thân thành con vật đó.
Chốc chốc anh lại quay sang bên hài cốt bố nói chuyện:
- Bố ơi, bố thích nghe bài hát nào để con mở, đây toàn bài hát thời bố đây này…
- Bố ơi trưa này bố ăn gì…Bố ơi con cố gắng đi thật êm…
- Bố ơi con đưa bố đi một vòng quanh thị xã Thái bình, bố nhé…
Rồi anh lo lắng:
- Không biết thời tiết này lúc đưa bố về tới nhà, trời có thương mà nắng lên không chứ mưa dầm dề lo quá cô ơi…
Tôi biết anh đang sung sướng, anh đang rất hạnh phúc, chẳng ngòi bút nào tả hết được tình cảm của người con xa bố mấy chục năm trời.
Đường càng về gần
Về Đầu Trang Go down
kiss
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tự truyện của nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài p2   Mon Apr 04, 2011 9:18 pm


Ngay buổi chiều hôm ấy chị Thủy - vợ anh Mạnh rủ tôi đi gọi hồn bác. Tôi theo anh chị đến nhà một “cậu đồng”. Đó là một người đàn ông trạc 40 tuổi sống độc thân người ngợm ẻo lả má phấn môi son mồm lúc nào cũng nhai trầu. Nhà “cậu đồng” thờ nhiều lắm. Bắt đầu cuộc nhập hồn vào “cậu”, thông qua thân xác “cậu” bác nói chuyện với vợ chồng anh Mạnh, trò chuyện được một lát, tôi ngồi đằng sau cất tiếng chào:
- Cháu chào bác ạ!
- Chào chị Hoài nhé, cảm ơn chị mọi công việc xong xuôi tốt lành cả, bác vui lắm rồi.
“Cậu” tiếp luôn:
- Con gái dâng cho bố chén rượu nào?
Anh Mạnh và chị Thủy ngơ ngác, tôi ngồi im “cậu” phán tiếp:
- Con gái Hoài đâu, bố muốn uống rượu của con dâng mời bố .
Anh Mạnh lập cập:
- Cô…cô Hoài, em…em… mời bố rượu đi bố nhận em là con gái rồi…
Rồi anh quay sang phía chị Thủy:
- Thủy…Thủy…lấy rượu lấy rượu cho em gái mời bố.
Anh chị khóc òa. Sau khi uống hết chén rượu đầy tôi dâng, “cậu” vừa hút thuốc tôi mời vừa bảo vợ chồng anh Mạnh:
- Bố nhận em gái cho các con, từ nay trở đi các con đã có anh có em. Các con yêu thương đùm bọc nhau, bảo ban nhau mà sống cho tốt các con nhé, thôi bố vui lắm bố đi đây…
Hôm đó trở về nhà anh chị vui như tết. Còn tôi không khỏi băn khoăn, không phải tôi không muốn làm con của bác nhưng thật khó khi một người đã khuất nhận tôi là con gái. Con người sống ở trên đời còn chẳng thể hiểu nhau để mà thương yêu nhau cho trọn vẹn… Tôi chưa thấy người đã khuất về nhận con nuôi bao giờ, chỉ người đang sống nguyện làm con người đã khuất… Liệu tôi có làm nổi cái trách nhiệm con cái trong nhà như liệt sĩ mong muốn hay không?
Tôi sẽ nói với gia đình thế nào về vấn đề này với chồng con và anh chị em trong đại gia đình tôi. Phải vất vả khổ sở lắm cả gia đình tôi mới tìm ra người bố đẻ cho tôi, bây giờ tôi sẽ phải nói với gia đình thế nào? Tôi đã phải tìm 4 ông bố để nhận ra một ông bố chính thức sinh ra mình, bây giờ tôi lại có thêm một ông bố mới nữa thì nghĩa là sao? Tại sao trong mắt mọi người tôi không phải là người đơn giản, tại sao lúc nào tôi cũng bị gắn với với lập dị, với những phức tạp cồng kềnh…
Trong chuyện này tôi chẳng biết sẽ phải vào đề với gia đình mình như thế nào được nữa… khó cho tôi quá!
Lẽ ra công việc xong xuôi là tôi trở về văn phòng nhưng tôi còn đang ôm ấp đi tìm một chứng nghiệm. Chuyện là, sau việc tìm mộ liệt sĩ Lê Hữu Hạc, một lần khoảng tháng 10/2009 chị Oanh gọi điện cho tôi nói có người chụp được hình ảnh anh bộ đội trên ngôi mộ anh Hạc mà tôi đã chỉ cho gia đình chị trong nghĩa trang Lộc Ninh và người ta bảo đó chính là hình anh Hạc. Người quản trang bèn gửi tấm ảnh chụp được về cho gia đình liệt sỹ xác nhận xem người trong ảnh có đúng là liệt sĩ nhà mình hay không?. Khi nhận được ảnh các chị em gái của liệt sĩ đã òa khóc, tấm ảnh anh bộ đội đó chính là liệt sĩ Lê Hữu Hạc.
Tôi biết trên thế giới người ta cũng đã chụp được một số tấm ảnh của người đã khuất nhưng chỉ do vô tình hình ảnh của người âm lọt vào ống kính, còn việc chủ động gọi linh hồn người chết về chụp ảnh thì tôi chưa nghe và cũng chưa thấy bao giờ, dù rất tin chị nhưng người làm khoa học không cho phép tôi chỉ nghe thông tin mà không trực tiếp thực hành công việc đó. Tôi nghĩ ngay tới gia đình anh Mạnh vì liệt sĩ Lương Xuân Tách cũng không có ảnh. Sau khi nghe tôi có ý kiến, gia đình anh Mạnh nhất trí liên lạc với anh Quân, người có khả năng gọi được hồn người chết về hiện hình để thân nhân chụp lấy hình ảnh người đã khuất.
Chiều hôm đó anh Quân đến. Đó là người đàn ông nhỏ nhắn nước da đen, khuôn mặt hiền lành, anh ngồi đối diện với tôi mắt nhìn chằm chằm vào một khoảng trống rồi nói với anh Mạnh.
- Bố anh đang ở đây!
Anh Quân nhắc anh Mạnh dẫn lên bàn thờ và anh quay sang bên tôi.
- Chị lên đi, bố chị bảo con gái cùng lên.
Tôi không nói gì, hơi bất ngờ không hiểu anh Quân tiếp xúc được với liệt sĩ nên nói thế hay anh ta tưởng tôi là con gái của liệt sĩ.
Anh Mạnh đi trước, anh Quân theo sau, tôi đi sau cùng nhưng khi lên gần tới nơi thờ tôi bỗng thấy liệt sĩ xuất hiện phía trước anh Mạnh.
Sau khi khấn làu làu một bài khấn dài, giọng khấn rất giống các thầy cúng, anh Quân nhắc tôi:
- Tí nữa bố chị về chỉ cho mình chị chụp hình bố chị thôi đấy!
Nói rồi anh ta móc chiếc điện thoại đeo bên hông rồi huơ lên huơ xuống và bất ngờ hình ảnh một người đàn ông hiện ra rất rõ.
- Bố về rồi này chụp lại nhanh lên… nhanh lên…
Tôi và anh Mạnh cuống cà kê. Anh Mạnh đưa máy điện thoại lên chụp, rồi anh giục tôi, vì quá bất ngờ lên tôi ớ ra, rồi tôi cũng lật bật đưa điện thoại di động của mình lên chụp, tất cả xảy ra chưa đầy mươi giây, hình liệt sĩ hiện lên trên điện thoại của anh Quân biến mất.
Anh Mạnh nhăn nhó xuýt xoa vì tôi chụp lại không được rõ như khi ba chúng tôi nhìn thấy. Anh Quân nói có thể gọi liệt sĩ lên chụp tiếp ở ngoài mộ. Vậy là chúng tôi cùng nhau đi ra nghĩa trang liệt sĩ, trên đường đi tôi đã hỏi anh Quân rất nhiều chuyện liên quan tới tâm linh và khả năng của anh. Thỉnh thoảng anh lại nhắc tôi nhớ chụp ảnh cho liệt sĩ vì liệt sĩ đã dặn anh là chỉ cho mình tôi chụp được hình liệt sĩ thôi. Tôi ậm ừ cho qua chuyện nhưng không làm theo lời anh dặn mà nhắc anh Mạnh nhờ thêm mấy “tay” chụp ảnh nữa cho chuẩn, còn tôi bỏ điện thoại mượn máy ảnh để chụp.
Tới nghĩa trang lên kì đài thắp hương xin phép rồi quay về phần mộ anh Quân tiếp tục lặp lại động tác lúc trước nhưng thời gian cứ lặng lẽ trôi đến sốt ruột mà không thấy hình ảnh liệt sĩ hiện lên, tôi càng thêm nôn nóng khoảng thời gian trôi đi khá lâu anh Quân khấn lên khấn xuống mãi vẫn chưa thấy gì, anh nhắc tôi và anh Mạnh gọi bố, thế là anh Mạnh gọi.
Còn tôi chưa kịp thì bất ngờ liệt sĩ lại hiện hình lên chiếc điện thoại của anh Quân đặt trên mộ. Ai cầm máy ảnh trong tay đều liên tục bấm máy, hình ảnh liệt sĩ hiện lên rất rõ, khoảng một phút lại biến mất, màn hình điện thoại lại trở lại một màu tối đen. Dù là chứng kiến lần thứ hai mà tôi vừa thảng thốt vừa vui mừng, mọi người đều kiểm tra máy ảnh của mình. Kỳ lạ thay, tất cả những chiếc máy ảnh kỹ thuật số đều không để lại dấu tích của một file ảnh nào. Hi vọng vào chiếc máy cơ do một chú tên là Hải chụp sẽ lấy được ảnh đẹp nên mọi người tích tốc mang máy ảnh ra thợ để rửa, nhưng đoạn phim trong máy ảnh đều bị cháy, không có một bức hình nào hiện lên. Riêng chiếc máy ảnh của tôi chụp lưu được 4 file ảnh. Song do sử dụng không quen và có ánh đèn flash nên bốn tấm ảnh liệt sĩ đều bị lóa.
Tôi tin vào khả năng của anh Quân, ngoài ra còn rất khâm phục vì trên thế giới đã có một số người chụp được ảnh của người đã khuất hiện hình bằng cách nào đó mà người chụp không hề nhìn thấy, họ vẫn thường gọi là chụp được “ma” hoặc chụp được “ảnh ma” nhưng chỉ là do vô tình hình ảnh của người âm lọt vào ống kính, người ta chỉ phát hiện được sau khi rửa ảnh. Còn trường hợp của anh Quân thì hoàn toàn khác, anh chủ động mời được linh hồn người quá cố về hiện hình lên màn hình điện thoại di động để người thân có thể chụp lại được hình ảnh.
Phải kết luận rằng đã có những trường hợp vô tình phó nháy chụp được ảnh người đã chết, còn trường hợp đặc biệt này là Việt nam có người gọi được hồn ma lên cho gia đình chụp ảnh.
Tôi đã nhìn thấy liệt sĩ bằng chính con mắt của mình rất nhiều lần, nhưng bây giờ nhìn vào tấm ảnh chỉ giống người tôi nhìn thấy khoảng 70 % nhưng đôi mắt và bộ lông mày với cái miệng của liệt sĩ thì không thể lẫn đi đâu được. Điều này tôi thấy cũng dễ hiểu vì chính tôi khi chụp trong ảnh nhìn cũng khác ở ngoài đời, nhưng những nét cơ bản thì không thể khác được. Tôi nhắc gia đình phải mang tấm hình tôi chụp được về quê, hai bên nội ngoại và những người biết liệt sĩ xem họ xác nhận người trong ảnh có đúng là liệt sĩ Lương Xuân Tách hay không?
Tại nghĩa trang chúng tôi chụp ảnh liệt sĩ Tách này cũng có một ngôi mộ giả của anh Hạc nên khi chụp ảnh bác Tách xong chị Oanh nhờ anh Quân sang bên đó mời anh Hạc lên chụp và chị Oanh cũng chụp được ảnh anh Hạc bằng điện thoại di động, tiếc rằng sau đó tấm hình chụp anh Hạc ở nghĩa trang Quảng Ninh nó bị biến mất không lưu lại được. Lúc đi cùng anh Quân, tôi hỏi anh có tìm được mộ thất lạc, anh bảo anh không phải là nhà ngoại cảm mà anh chỉ là “nhà công chứng”. Thấy anh nói chuyện hài hước tôi phì cười. Chia tay anh Quân, tôi thầm hứa sẽ hẹn anh một ngày nào đó tôi sẽ đi theo anh Quân nhiều buổi như thế này, có như vậy tôi mới có thể tìm hiểu và nghiên cứu kĩ hơn về khả năng của anh.

Tình nghĩa Âm Dương

Tối hôm ấy xong việc tôi xin phép gia đình về ngay. Gia đình anh Mạnh tặng tôi một chiếc ti vi tôi nhất định không nhận. Anh bảo thấy cái ti vi ở văn phòng bé quá nên anh chị tặng tôi mang về văn phòng cho mọi người cùng xem cái màn hình to thì tốt hơn. Hai anh em cứ đưa đi đẩy lại rồi anh Mạnh khóc nói bố đã nhận tôi làm con gái rồi.
Trên đường về xe càng chạy cách xa Quảng Ninh bao nhiêu thì lòng tôi càng thêm trống vắng bấy nhiêu. Tôi bâng khuâng nhớ lại những ngày bận rộn đã qua, tình cảm cha con của anh Mạnh cứ thấm sâu vào tâm khảm tôi, những chuyện tâm linh, những nhà ngoại cảm, những điều huyền bí… Tất cả đều có thể đến với con người .
Tôi về nhà được khoảng 3 ngày, anh Mạnh gọi điện thông báo anh đang ở quê. Người thân của liệt sĩ đã òa khóc nức nở khi nhìn thấy tấm hình và gia đình anh Mạnh quyết định dùng tấm hình đầu tiên tôi chụp làm ảnh thờ liệt sĩ. Còn tôi từ lúc về nhà tôi phải làm việc liên tục vì thời gian tôi đi vắng công việc ùn lại. Chuyện giữa tôi và liệt sĩ tôi cũng chưa sắp xếp được thời gian nói chuyện với gia đình thế nào cho hợp lí. Tôi có thói quen không kể chuyện công việc của tôi với người thân vì tôi rất ít thời gian rảnh dỗi. Hơn nữa trong gia đình mỗi người, mỗi lứa tuổi có nhận thức, hiểu biết khác nhau. Gia đình tôi có trẻ nhỏ tôi không muốn con trẻ biết đến những chuyện quá xa vời mà chúng chưa đến tuổi phải biết. Tuy nhiên tôi vẫn đang loay hoay không biết vào đề chuyện này ra sao cho thuận…
Chiều chủ nhật, tôi nhắc chồng tôi ra văn phòng để lắp cho tôi chiếc ti vi gia đình liệt sĩ tặng. Cả nhà háo hức cũng ra văn phòng hết để xem ti vi màn hình mỏng hình ảnh nó như thế nào.
Khi chồng tôi đang loay hoay tháo thùng ti vi thì tôi nhìn thấy liệt sĩ đứng ngay bên cạnh Anh Hải. Bé Lâm Như mới 9 tháng tuổi đang nằm trên tay mẹ Anh Hải bế. Bỗng nhiên Lâm Như khóc váng lên, nó giãy dụa tụt khỏi tay mẹ nó lao sang ôm chặt lấy chồng tôi khóc thét lẹt.
Lúc này người Anh Hải tím tái, nó run lẩy bẩy từng cơn rồi nó òa lên khóc. Tôi hoảng quá ào ra chỗ nó, nó vồ lấy tôi và cứ thế nó gào thét lên khóc một cách bất thường. Tôi biết là liệt sĩ đã nhập vào người nó lên cuống quýt dỗ dành, mặc cho tôi nói gì thì nói nó gào khóc ôm chặt lấy tôi. Tai tôi bị váng lọng hết óc bởi tiếng gào khóc quá độ của nó. Lo con bé là gái đẻ mà khóc thế này nó bị làm sao thì chết, lại tưởng liệt sĩ không vừa ý cái ti vi lên tôi khóc theo:
- Ôi trời ơi, bố liệt sĩ ơi, bố đừng làm con sợ nữa con không dám nhận cái ti vi này. Con sẽ đóng lại ngay trả anh Mạnh. Bố ơi ,con của con bị bố nhập vào người thế này thì nó chết mất bố ơi...Có gì không vừa lòng bố nhập vào con…Con của con chết mất bố ơi…Con xin bố con lạy bố…Con không phải điều gì bố tha thứ cho con…
Mặc cho tôi kêu xin, Anh Hải vẫn cứ gào lên thảm thiết. Tôi xin trả ti vi, tôi xin tha thứ, tôi xin bỏ qua lỗi lầm khi tiếp xúc với liệt sĩ, tôi đã sai điều gì thì tôi xin cắn cỏ cắn rơm… thôi thì tất cả mọi điều tôi đều van… đều lạy…
Bé Lâm Như vừa bám chặt lấy chồng tôi, vừa khóc thét lẹt từng cơn. Nó tè dầm hết ra áo ông nó. Chồng tôi vừa dỗ cháu vừa lo lắng hết nỗi, tôi bảo anh lấy cho chiếc điện thoại tìm mãi mới thấy số anh Mạnh gọi cho anh và dí vào tai Anh Hải.
- Bố! bố ơi, anh Mạnh gọi cho bố này, con trai của bố này bố ơi…
Mặc cho tôi dỗ dành chiếc điện thoại áp bên tai Anh Hải vẫn gào thét, tiếng gào khóc, đau đớn, ai oán khiến tôi rối như tơ vò không còn biết ra làm sao nữa, chồng tôi tới gần dỗ theo:
- Bố ơi, anh Mạnh gọi bố này…
( sau này chồng tôi kể chẳng biết đầu cua tai nheo ra sao, thấy cảnh này hoảng quá đành liều gọi con mình làm bố, anh nói theo tôi vậy )
Nghe chồng tôi nói, Anh Hải gạt điện thoại ra vừa khóc vừa nói:
- Con rể của bố ơi, bố đau lòng lắm…
Rồi ôm chặt lấy tôi gào khóc to hơn, trong tiếng gào tôi nghe được từng câu nói đứt quãng:
- Con gái… ơi! Con… gái ơi… bố đau đớn… đời bố lắm… con có hiểu lòng bố không con ơi…con ơi, bố đau đớn …quá…các con ơi….
Rồi lại gào… lại khóc, tôi dí máy điện thoại vào tai năn nỉ:
- Bố ơi, con thương bố… chúng con biết, chúng con hiểu bố, bố ơi, anh Mạnh gọi bố này bố ơi…
Chợt dừng tiếng khóc “ bố” gào lên:
- Các con ơi, bố đau đớn lắm, con có hiểu cho lòng bố không…mấy chục năm bố giữ chặt trong lòng…ôi đau đớn quá…
Tôi không hiểu đầu bên kia anh Mạnh đã nói những gì nhưng chỉ nghe bên này bố gào lên lẫn tiếng khóc:
- Ô cái thằng này, mày gặp bố mày…, không hề hỏi han bố có khỏe không? Bố sống như thế nào? Chỉ có bố phù hộ độ trì cho con thế là như thế nào hả cái thằng này…, Ôi bố thương con lắm, bố chỉ có mỗi mình con côi cút trên đời này thôi, con trai của bố…con dâu của bố…các cháu của bố…bố thương các con…
Vừa gào vừa khóc rồi bố hất điện thoại ra. Gục đầu vào vai tôi nằm im. Tôi gọi chồng châm thuốc, bố rít mạnh mấy hơi qua vai tôi, rồi ngồi thẳng người lại lúc này không khóc nữa bố ngồi hút thuốc, bắt đầu nói chuyện, vừa hút thuốc vừa nói, giọng cứ oang oang như lệnh vỡ…. Từ cái giọng nói…đến cung cách ngồi, cử chỉ hành động đều là của người đàn ông, đúng là không thể tưởng tượng nổi.
- Hôm con gái bố từ Quảng Ninh về bố cũng theo về luôn. Bố chờ con gái nói chuyện với con rể bố, các cháu của bố về bố mà con gái chẳng nói gì cả. Bố tủi thân quá, vậy mà con gái bố lại hứa với trai của bố, dâu của bố là về sẽ nói chuyện với rể bố chứ lại…
Rồi quay về phía chồng tôi bố nói tiếp:
- Con rể của bố, con có biết không mấy hôm trước vợ con với anh con sang Lào đón bố. Trên đường đi, anh em nó nói chuyện với nhau bố ngồi bố nghe hết, thương chúng nó quá, đứa nào cũng khổ. Anh con có bố thì bố hi sinh sớm nên anh con côi cút lắm các con ơi, tuổi thơ của anh con khổ cực lắm đấy các con ạ… Còn vợ con có bố đẻ sống đấy mà chẳng nhìn nom đến phút nào, cứ như thể không có mặt con mình trên đời, người gì mà vô tình bạc nghĩa đến vậy, nên bố thương con trai, con gái bố. Đời bố bị người ta phụ bạc, đã vậy lúc bố ra đi người ta cũng quên luôn cả hòn máu đào của bố…, Bố thương anh con lắm. Các con của bố, tội nghiệp các con quá, bố thương, bố xót lắm…
Và rồi bố quay sang phía bé Lâm Như đã ngủ, bố sờ nắn tay con nhỏ, bố bảo:
- Cháu ngoại của cụ, nó nhìn thấy cụ nên nó lạ quá, nó sợ nó khóc đấy, chứ cụ về cụ có làm gì đâu mà con sợ thế con…khổ thân nó, cụ về thăm mà nó hết hồn hết vía vì cụ nó đây…
Rồi bố cười nhẹ:
- Ơn trời giờ đây bố có con trai, con gái, con dâu con rể, có cháu nội, cháu ngoại, có cả chắt ngoại nữa. Bố sung sướng, hạnh phúc lắm, các con của bố ơi, giai của bố, dâu của bố, gái của bố, rể của bố, các cháu của bố…
Tôi chen ngang:
- Thưa bố con lạy bố, xin bố nhập vào con, cháu Anh Hải nó mới sinh con bố về thế con sợ lắm bố ạ…
Bố xoa đầu tôi bảo:
- Bố hợp nó, thôi bố đi đây bảo anh chị con từ nay đến tết lên đây cho bố gặp nhé. Bố cảm ơn con, nhất là con rể bố.
Thấy bố đã vui tôi thật lòng thưa:
- Thưa bố, con có sai gì con xin bố tha thứ, bố về bố khóc hết hơi thế này, lần sau bố lại về con sợ lắm.
- Thông cảm cho bố, chỉ một lần này thôi bố dồn nén trong tâm mấy chục năm rồi, bố không có ai có thể hiểu để bố chia sẻ nỗi khổ day dứt trong tâm này. Nay bố nói được với con gái bố, bố thấy nhẹ nhõm đi nhiều rồi, bố sẽ cố gắng không nghĩ đến chuyện buồn đó nữa, lần sau về bố sẽ vui. Bố không chấp gì con vì khi đó con chưa biết, chưa hiểu, còn bây giờ con đã biết mà còn hành động như thế là không được. Hai con nghe bố dạy, từ nay bố về nhà ở với các con, chứ bố không ở nhà anh chị con đâu, bố hợp với con gái bố, cho nên từ nay trở đi phải thờ bố đấy nhé, bố hợp với gái bố, bố ở với gái bố…
Nói đến đây Anh Hải đổ vật ra. Chân, tay, người ngợm nó lạnh ngắt, môi tím tái, tôi đặt Anh Hải nằm đắp chăn cho nó rồi lay nó tỉnh lại…Cả nhà tôi được một mẻ hồn bay… phách lạc…. Lúc này tôi mới bình tâm lại. Đúng là sợ quá, sợ hết cả hồn lẫn vía, cái tai trái của tôi nhức buốt vì Hải khóc hét vào bên đó. Tôi ngồi thở dốc như con hết hơi nghĩ lại mà hãi mà kinh, cũng may tôi đã trải qua nhiều năm tháng làm việc. Tôi đã chứng kiến rất nhiều những hiện tượng tương tự như thế này, chứ nếu như tôi và người thân của tôi chứng kiến lần đầu thì có lẽ sợ quá mà phát loạn lên mất, không thì cũng vỡ tim mà chết.
Còn Hải lần đầu tiên bị hồn nhập. Ngày hôm sau con bé nằm li bì như người bệnh nặng, nhiều ngày sau đó nó cứ như người mất hồn, tôi lên trạm y tế xã nhờ người khám và tiếp đạm, nước cho nó.
Thế là sau chuyện xảy ra, cả nhà tôi chẳng ai bảo ai, tôi cũng khỏi phải tìm cách nói chuyện với gia đình. Cả nhà tôi vui hẳn lên vì từ nay gia đình tôi có thêm một ông ngoại nữa. Các con tôi luôn mồm nói chuyện về “ông ngoại liệt sĩ nhà mình” vì bây giờ tôi có tới ba người bố, nên gia đình tôi quyết định đặt danh như sau cho dễ hiểu. Người bố sinh ra tôi nhưng không một ngày nuôi nấng gọi là ông ngoại sinh. Người bố cả một đời nuôi dưỡng tôi gọi là ông ngoại nuôi và gia đình tôi tự hào có thêm một ông ngoại liệt sĩ.

Nguồn sống bất tận

Sau lần đó mỗi lần tôi gặp được bố, tôi thấy bố tôi vui lắm. Bố dạy bảo, trò chuyện, căn dặn tôi rất đủ điều. Tôi sung sướng và hạnh phúc lẫn tự hào được làm con gái bố. Mỗi bước tôi đi dù khó khăn đến đâu bố cũng bên tôi động viên kịp thời. Bố kể cho tôi nghe về cuộc đời của bố.
Chuyện rằng: Thời gian trôi đi từ nửa thế kỉ trước, câu chuyện này chỉ còn những người già họa chăng mới nhớ. Ở một làng quê thuộc tỉnh Thái Bình có hai gia đình rất thân nhau. Họ thân nhau tới mức củ khoai bẻ nửa, đấu thóc chia hai. Và một ngày cả hai bà vợ đều mang thai. Họ hẹn với nhau rằng nếu cả hai cùng sinh trai hoặc gái thì khi hai đứa bé sinh ra sẽ làm lễ cho chúng kết nghĩa làm chị làm em như anh em một nhà. Còn nếu như hai bà, người sinh con trai kẻ sinh con gái thì họ sẽ làm lễ gả con cho nhau ngay sau khi cả hai đứa trẻ ra đời.
Đến ngày khai hoa, hai đứa trẻ một trai mộ gái ra đời trong sự vui mừng khôn xiết của hai họ, giao ước được thực hiện.
Ngày qua tháng lại, hai trẻ lớn lên và trở thành đôi trai tài gái sắc. Họ yêu nhau giống như ông tơ bà nguyệt sắp đặt xe duyên cho họ từ kiếp nào. Nhưng thương thay cho mối tình mặn nồng tưởng không gì có thể chia cắt được lại bị vướng vào chuyện vẫn thường xảy ra trong cuộc đời này. Gia đình người con trai vướng vào chuyện mang ơn một gia đình khác. Người con trai buộc phải lựa chọn giữa “ bên tình bên nghĩa bên nào nặng hơn” ?
Người con trai phải lấy một người con gái không yêu để trả món nợ đời của gia đình. Vậy là mối giao ước keo sơn đành để lại. Gia đình nhà cô gái càng thêm thương cho gia đình người bạn, xót xa cảnh hai con trẻ phải đôi đường đôi ngả.
Người con gái sống âm thầm, lặng lẽ vắng hẳn tiếng cười tiếng nói. Mỗi lần nhìn thấy bóng dáng người yêu lại thảng thốt nhớ lại mối tình xưa.
Người con trai dù đã lấy vợ song chàng chẳng thể nào quên nổi người con gái mình yêu.
Chuyện từ ngàn xưa ở trên đời cho tới tận bây giờ có mấy ai sống hạnh phúc bên người mình không yêu, người con trai cũng không là ngoại lệ.
Sau đám cưới chẳng được bao ngày, đôi vợ chồng trẻ cơm chẳng lành canh không ngọt, ông chằng bà chuộc bắt đầu ruồng rẫy lẫn nhau.
Người vợ cắp nón về nhà đẻ trong lúc bụng đang mang thai đứa con đầu lòng. Sinh con xong, người vợ mang trả cháu cho gia đình bên nội. Rồi cả đôi vợ chồng ấy thoát li khỏi quê hương theo một cách riêng.
Chuyện vợ chồng đứt ngang đường, người con trai càng nhớ tới mối tình đầu nồng thắm, nghĩ tới người yêu bao nhiêu thì chàng trai càng thương đứa con của mình bấy nhiêu.
Một lần về thăm quê, lấy hết can đảm của người đi xa về, trái tim người con trai vẫn thổn thức tiếng gọi tha thiết của tình yêu. Người con trai dẫn con đến gặp người yêu, tuy nhiên chuyện cũ qua rồi dù có đau đớn bao nhiêu thì cả hai cũng chẳng dám nhắc tới, dù cho bên ngoài vẫn nói nói, cười cười nhưng trong sâu thẳm con tim cả hai đều đau như thắt chẳng thể vỡ òa tiếng yêu thương.
Dằn lòng gửi lại những yêu thương, thổn thức chia tay người con gái, người con trai chỉ dám dặn một câu ý tứ xa vời:
- Thôi, hay cậu đừng đi lấy chồng nữa, ở nhà nuôi con giúp tớ.
Tay trong tay, người con gái lặng im mắt ngấn lệ sầu.
- Chờ anh về… chờ anh về…
Người con trai lí nhí trong họng mấy lời hẹn ước.
Chỉ bấy nhiêu thôi lời người yêu nói, cô gái như hiểu được tất cả nỗi giằng xé trong lòng của người yêu mình, chẳng biết nói làm sao? Biết hẹn ước thế nào cho đúng nghĩa?
Bây giờ người con trai còn đi chiến đấu, biết hẹn ngày nào về…

Bước trong hàng quân, lòng người nơi chiến trận mong đất nước hòa bình, quê hương sạch bóng quân thù. Người con trai trở về trong vòng tình yêu của người con gái. Người con trai sẽ bù đắp cho người con gái tất cả. Họ và con sẽ sống một cuộc đời viên mãn. Các thành viên trong gia đình phải nhất mực yêu thương nhau, những đứa con sau của họ phải hết lòng yêu thương anh trai chúng nó, bởi chúng đều cùng một bố sinh ra, nhưng anh chúng nó thiệt thòi lớn lắm, không có tình yêu thương của mẹ lại thiếu vắng cha, những thứ đó không gì bù đắp được ngòai tình yêu thương to lớn của tổ ấm gia đình.
Niềm khát khao nhỏ nhoi nhưng cháy bỏng của người con trai không thành hiện thực. Như bao chàng trai Việt Nam khác người con trai đã ngã xuống nơi chiến trận. Người con trai hi sinh cho ngày mai, cho nền độc lập tự do và khi ấy người con trai còn mang theo cả nỗi niềm của mình sang thế giới bên kia…
Còn người con gái đẹp người đẹp nét ấy thề với lòng quyết chờ ngày tái hợp lên duyên với người con trai. Lời dặn, cô gái vẫn nhớ như in nhưng không thể mang con người yêu về nuôi được vì cô chẳng phải vợ cũng chẳng phải họ hàng. Cô gái chỉ biết âm thầm chăm con của người yêu bằng cả tấm lòng của người mẹ.
Năm này qua năm khác cô gái mong bóng nhạn trở về.
Nhưng rồi một ngày, cô gái là một trong những người chính thức dự lễ truy điệu chàng trai mình yêu ở ủy ban xã, đất dưới chân cô như sụp đổ… Cô tôn thờ mối tình trong trắng….
Nghe truyện mà tái tim tôi như vỡ ra, tan nát. Tôi mất hết cảm giác của con người thực tại, đau khổ trào dâng trong lòng, thương xót không vô cớ… tôi đã ngồi khóc như mưa như gió, tôi xót xa…
Người ta thường có câu “ chết là hết”. Nhưng không, người ta đã quá nhầm. Chết chưa phải là hết, chết chỉ là sự chấm dứt một cuộc đời hiện tại để tiếp tục sống một cuộc đời khác.
Tôi đã hiểu hơn những gì bố tôi muốn nói với tôi, và tôi càng thấm thía một điều trên đời này, mỗi con người đều có một khoảng riêng tư sâu lắng. Không phải gặp ai cũng nói ra chuyện của mình, cái gì cũng có thể chia sẻ, bố tôi cũng vậy. Tôi hiểu giờ đây bố đã gửi gắm tình cảm yêu thương nhất mực dành cho tôi người con gái nuôi của bố.
Tôi nhớ lại lần thứ hai bố về nhập vào Hải đó là vào một ngày giáp tết nguyên đán. Vợ chồng anh Mạnh lên văn phòng chia tay gia đình tôi trước khi chúng tôi về quê ăn tết. Bố đã về nhập vào Anh Hải như lời dặn lần trước, nhưng hôm đó bố không khóc. Bố ngồi nói chuyện với chúng tôi, những đứa con trai, con gái, con dâu, con rể của bố, bố căn dặn chúng tôi sống với nhau cho cho có tình có nghĩa.
Bố nói rằng:
- Các con hãy hiểu rằng bố đang tồn tại, đừng bao giờ nghĩ bố đã chết. Bố vẫn còn sống trong trái tim các con từng giờ từng phút, thân xác của bố tuy không còn nhưng linh hồn bố luôn gần gũi các con. Bố nói thế này cho các con của bố hiểu ý bố dạy. Ví như bố đã hi sinh cách đây mấy chục năm nhưng trong lòng con Mạnh chưa khi nào quên bố, còn bố dù không còn thân xác như các con nhưng ở nơi đây bố vẫn đau đáu nghĩ về con, bố trông con trưởng thành từng ngày… như vậy bố không phải là người đã chết. Tuy không nhìn thấy bố nhưng trong thâm tâm các con lúc nào cũng thấy sự hiện diện của bố như vậy chứng tỏ rằng bố vẫn đang còn tồn tại cùng người thân. Chỉ có những người còn đang sống mà họ không cần biết đến cha mẹ ông bà của họ là ai, người thân ruột thịt của họ con cháu họ là ai, ở đâu, họ chỉ sống cho riêng họ, họ cố tình quên đi cái cái đạo lí con người, cái tâm của họ bị mất đi, họ không hiểu thế nào là sống cho có đạo làm người, đạo gia tiên. Họ sẵn sàng bỏ đi tất cả để theo đuổi mục đích riêng phục vụ cho chính họ, họ chà đạp lên cả luân thường đạo lí, không biết yêu thương đồng loại, không coi đồng loại như máu mủ ruột thịt của mình, những người như thế mới thật sự đã chết, họ đã chết trong lòng người thân và trong xã hội nơi họ đang tồn tại…Khi nghe bố nói các con sẽ hiểu hơn có quan niệm mới hơn về chữ “sống” và “chết” của con người. Khái niệm về sự sống chết sẽ được hiểu rộng hơn… Bố cảm ơn các con đã giành cho bố hạnh phúc này. Hôm nay bố gọi con giai bố, con dâu bố lên đây là để gia đình ta đoàn viên, các con trai, gái, dâu, rể của bố hãy nhớ mốc ngày hôm nay, để rồi mỗi ngày qua đi…ta đã sống tốt rồi thì ta sẽ sống cho tốt hơn nữa…sống sao cho “tốt đời đẹp đạo” Con người sống phải lấy chữ lương tâm đạo đức làm đầu các con ạ…
Và rồi bố nhận xét điểm ưu, nhược của mỗi đứa con của bố, cần phải thay đổi thế nào cho con người toàn diện hơn.
Bố bảo lẽ ra những điều này các con đã được bố mẹ dạy từ khi nhỏ nhưng nay vì chúng tôi những đứa con của bố lớn đến bằng này tuổi mà vẫn chịu một nỗi thiệt thòi không lấy gì bù đắp được. Chúng tôi chưa được nghe một lời dạy bảo nào từ bố, thì lần này âu cũng là một kỉ niệm đáng ghi nhớ trong cuộc đời của mỗi chúng tôi, và đây cũng là niềm an ủi, một hạnh phúc nho nhỏ theo lẽ thường của người làm cha làm mẹ.
Chúng tôi, những người con của bố đã khóc trong hạnh phúc thiêng liêng mà tôi biết không phải bất cứ ai cũng có hạnh phúc này.
Rất nhiều ngày sau này tôi vẫn nhớ những điều dạy bảo của bố, qua bố tôi hiểu hơn về thế giới tôi đang tiếp cận trong đó có những người ruột thịt của tôi. Trước đây tôi tự hào về mình lắm, tôi tự cho mình là người đặc biệt, là kì tài, và hiểu biết về thế giới tâm linh hơn hẳn những người khác, nhưng giờ đây tôi mới hiểu thêm rằng người ta nói con người luôn luôn vướng phải cái chữ “tôi” quả là không sai chút nào.
Nhớ lại cả một quá trình gặp bố đúng là bố đã dẫn dắt tôi hiểu nhiều về cuộc đời của bố, tôi sẽ hiểu về những con người nơi ấy nhiều hơn và đây cũng là những bài học cho tôi cố gắng tự hoàn thiện mình.
Khi trước chính tôi không hiểu gì về cuộc đời bố để mà chia sẻ, để mà thông cảm để mà yêu thương, đã thế tôi chụp mũ đánh giá bố tôi là người ích kỉ, không biết thông cảm cho người vợ trẻ của bố.
Hoặc cả những điều bố nhắc nhở dặn dò khi bố trở về có cờ dong trống rước thì tôi lại cho rằng bố nói vậy mà bố chẳng hiểu gì, nhưng thực ra tôi mới là người không hiểu gì cả, tôi bảo thủ chỉ cố tình hiểu theo cái lí của mình mà không chịu lắng nghe người khác nói.
Bố nhận tôi làm con là vì bố quá thương tôi và bố cũng muốn bù đắp cho anh tôi. Bố nhận tôi làm con gái bố là để cho chúng tôi những người đang sống. Nhớ hôm bố về gặp các con, anh Mạnh hỏi bố.
- Bố ơi! Bố cứ nói thật với con đi, thế bao nhiêu năm ở bên Lào bố có “dì” nào sinh cho con một đứa em không hả bố.
Nghe anh nói bố nghiêm mặt quát:
- Con nghĩ thế nào về bố mà hỏi bố câu ấy? Phẩm chất đạo đức của người lính cụ Hồ là phải như thế nào? Con nghĩ gì mà hỏi bố thế, các con coi thường bố đấy phải không?”
Thấy bố quát tôi sợ xin lỗi thay anh rồi thắc mắc:
- Dạ thưa bố con có nói sai bố tha thứ cho con gái bố, thế sao trước khi đi tìm mộ bố chúng con mời bố về bố lại bảo bố đi bản chơi bị phỉ nó bắn chết có phải không ạ?
Bố cười bảo tôi:
- Con gái nghe bố dạy, con làm việc này là việc tâm việc đức khi tiếp xúc với người âm, con phải biết lắng nghe người ta nói, khi người ta nói cái gì không biết phải tìm hiểu rồi hãy nói không nên nói bừa nói ẩu, bố rất không vừa lòng với con, khi con hỏi trường hợp bố hi sinh, bố đã nói bố hi sinh ở Cánh đồng Chum rồi con còn cãi bố, tức quá thì bố nói như vậy. Bố hi sinh trong trường hợp đang chiến đấu bố bị thương rất nặng ở đùi và bụng bên phải máu ra nhiều nên hi sinh.
Tôi tò mò hỏi:
- Bố ơi, con rất muốn biết, trước lúc chết bố có biết mình sẽ chết không ạ, lúc đó bố có nghĩ gì không hả bố.
Dừng một lúc bố rầu rầu nói:
- Bố bị thương nặng lắm. Trước lúc chết bố vẫn tỉnh táo. Bố nghĩ về cuộc chiến tranh này và tin vào ngày chiến thắng…rồi bố nghĩ về quê hương, bố nghĩ về con trai bố, bố thương anh của con thắt ruột…, rồi bố… ngóp ngép bố… chết…
Nghe bố nói, họng tôi nghẹt đắng không thể nào hỏi thêm bố được câu nào, tôi hình dung ra cảnh đó mà trong lòng cồn cào xót xa.
Tôi hiểu tại sao bố lại thương lại xót anh Mạnh đến như thế. Cái lần tôi gặp mẹ anh Mạnh. Khi nói chuyện, tôi thấy bà xưng mợ với vợ chồng anh Mạnh nhưng người em cùng mẹ của anh Mạnh thì bà lại xưng bằng mẹ. Tôi hỏi anh Mạnh, anh bảo, anh cũng chẳng biết từ hồi bé tí mẹ đã dạy anh gọi mẹ là mợ mỗi khi anh tìm đến thăm bà, và cái từ mợ ấy anh cũng chỉ được gọi năm thì mười họa chứ có được gặp bà đâu mà gọi.
Ôi trời ơi! Tôi chẳng biết nói thế nào chỉ biết nhớ như in câu chuyện bố kể “… Những đứa con sau của chàng và nàng phải hết lòng yêu thương anh trai chúng nó, bởi chúng đều cùng một bố sinh ra, nhưng anh chúng nó thiệt thòi lớn lắm, không có tình yêu thương của mẹ lại thiếu vắng cha, những thứ đó không gì bù đắp được ngoài tình yêu thương to lớn của tổ ấm gia đình…
Có lẽ bố giận mẹ anh Mạnh nhất là việc mẹ anh bỏ đứa con mà chính mình dứt ruột đẻ ra. Thương bố bao nhiêu thì tôi chỉ biết cố sống tốt hơn, cố hoàn thiện mình nhiều hơn để có thể bù đắp cho tất cả những gì mà khi xưa bố đã mất mát. Tôi hiểu bố đã rất cố gắng tiếp tiếp xúc với tôi bằng mọi cách, bằng cử chỉ hành động bằng lời nói, có nghĩa bằng tất cả tình thương yêu bố dành cho tôi là bố muốn truyền sang cho tôi sức mạnh của tình yêu thương bao la, và tôi cố gắng cảm nhận nó một cách chính xác nhất, tôi thật cố gắng hết mình để đón nhận tình cảm thiêng liêng, quí báu này của con người từ hai cõi giới.
Bố tôi thường bảo chuyện của bố tôi đã được biết, bố mong tôi hiểu, sự hiểu biết của tôi về bố phải được liên hệ rộng hơn trong cuộc đời này. Điều này thật quan trọng bằng công việc của tôi đang làm, nó đòi hỏi phải trải qua nhiều sự việc, hiện tượng và tôi biết còn nhiều gian nan vất vả đang nằm phía trước.
Bố tôi là người rất nóng nóng tính, nhưng bố tôi là người rất đỗi thương yêu tôi. Bố bảo bố chỉ hợp nhất với mỗi con gái bố cho nên tôi mới được bố cho biết về cuộc đời bố nhiều hơn bất cứ ai.
Qua bố tôi tự tích lũy thêm được nhiều hiểu biết, việc nhận thức này như một sự thẩm thấu trong tôi, bố vẫn thường dạy tôi rằng nếu như con người ta không chịu trải mình và trau dồi, để gột bỏ bớt cái “ Tôi” trong mỗi người thì khó lắm, điều bố mong muốn nhất là chính tôi phải hiểu rằng công việc của tôi còn rất dài. Tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người âm, tôi đã được trải nghiệm trong thế giới nhiệm màu, qua đây sẽ là một sự minh chứng, chứng minh sự tồn tại của con người trong thế giới bên kia, sự nhận thức ấy chính là một sự khai sáng tâm linh của con người
Và bố nhấn mạnh với tôi rằng nếu như tôi không phải người am hiểu về bản chất của tâm linh thì rồi tất cả đều sẽ trở thành nửa vời..
Bố muốn tôi hiểu được điều bố nói.
Nghe bố dạy tôi giật mình, quả thật tôi chưa nghĩ đến điều này, việc bố nói tôi còn phải nghĩ xem nên bắt đầu từ những việc như thế nào? vấn đề này đòi hỏi tôi phải có nhiều trải nghiệm mới có thể hiểu để mà tự giải thích được phần nào.

Một đời trăn trở.

Tôi đã bắt tay vào viết từ rất lâu câu chuyện có thật này. Tôi viết từ thủa câu chuyện được khai sinh, từ những ngày đầu tiên tôi lọt vào khoảng trời đất của thế giới thứ hai. Cơ thể tôi phát tác ra khả năng nghe, nhìn về một thế giới khác đang tồn tại song hành với chúng ta và tôi đã tiếp xúc với biết bao nhiêu tầng lớp người của thế giới đó. Tôi đã tìm ra biết bao câu chuyện và cả những bí mật trong chính cuộc đời tôi và những người khác nữa. Cứ thế con đường khám phá tâm linh huyền bí cứ dẫn dắt tôi đi ngày một dài thêm và tôi, từ những câu chuyện rất đỗi đời thường của con người cho đến những lần tìm mộ, những thông tin tôi nhận được về thân thế liệt sĩ. Từ những chuyến đi tìm mộ đã để lại cho trong tâm tôi rất nhiều câu chuyện cảm động về tình anh em, tình cha con, tình đồng đội. Điều này càng thôi thúc tôi làm việc hết mình và nghiên cứu về những lĩnh vực liên quan đến tìm mộ bằng phương pháp ngoại cảm của con người.
Cũng trong những lần sử dụng khả năng của mình trong việc tìm mộ, tôi cũng cố gắng tìm hiểu những luận cứ mang tính khoa học để phần nào lý giải những thắc mắc mà chính tôi cũng muốn tìm lời giải đáp. Những người có khả năng tiếp cận được với người đã khuất là rất ít, có thể như anh Khanh nói “ 99% là nhà ngoại cảm rởm” và khả năng ngoại cảm là khả năng hoàn toàn tự nhiên của con người, không ai có thể học hoặc được truyền nghề mà trở thành nhà ngoại cảm được.
Những lần tìm mộ nơi rừng sâu núi thẳm trong lòng đất lạnh, những phần xương cốt mục nát vụn tơi chỉ thành vệt trắng bột hình người nằm theo nhiều tư thế chất khác nhau. Từ những thông tin của liệt sĩ mà sau đó tìm ra được những hố chôn tập thể, bao nhiêu hài cốt chồng chất lên nhau, hoặc khi tìm thấy di vật bé tí ti của liệt sĩ phải tẩn mẩn mò tìm, nhưng chiếc răng viền vàng, răng giả, chiếc cúc áo, đôi dép liệt sĩ đi… những di vật nằm cùng hài cốt và cả những ngôi mộ trong rừng mà khi khai quật thì cả đoàn tá hỏa vì sau bốn mươi năm lòng trong lòng đất lạnh thân thể người liệt sĩ không hề tiêu, tất cả còn y nguyên.
Và tôi cũng biết có rất nhiều trường hợp không thể tìm được hài cốt, chính điều này làm tôi phân vân nhất. Vậy thì có nhất thiết phải tìm bằng được hài cốt hay không? Người ta sẽ phải tìm như thế nào khi mà hài cốt không còn nữa? Chính vấn đề này mới gây nhiều bức xúc, tranh luận trong nhiều người, vấn đề này tôi cần phải được nghiên cứu thêm trước khi kết luận. Nhưng bằng trải nghiệm thực tế thì rõ ràng tôi phải hiểu con người khi sống gồm có hai phần đó là linh hồn và thân xác. Khi người ta chết linh hồn và thân xác tách dời nhau, cho dù hài cốt có trở về với cát bụi thì linh hồn vẫn còn tồn tại chính vì thế khi chúng ta đi tìm hài cốt phần linh hồn buộc phải tìm cách xuất hiện để hỗ trợ chúng ta tìm kiếm phần hài cốt.
Hoặc giả linh hồn cho chúng ta những thông tin để chúng ta nhận biết hài cốt có còn hay không? Nhưng tôi vẫn biết rất nhiều trường hợp vì quá thương quá tiếc người đã khuất cho nên khi có thông tin từ linh hồn hài cốt không còn người thân vẫn không chịu tin.
Tôi nghĩ điều quan trọng nhất trong cuộc đời này là con người ta không bao giờ lãng quên nhau. Là cái tình con người, là sự nối kết của hai cõi âm dương, là sự hiểu nhau, chắc người chết không bao giờ sợ bị mất hài cốt, bởi rằng những thứ đó sẽ dần trở về với cát bụi, người chết chỉ sợ người sống lãng quên họ.
Tôi đã tiếp cận với bao nhiêu câu chuyện có thực của các linh hồn. Nhờ vào sự tiếp cận này người thân mới tìm lại được nhau, con người tồn tại ở hai cõi giới dạy bảo lẫn nhau, họ cùng nhau soi vào những cái gương của người đi trước để rồi lấy đó làm bài học cho người người đi sau sẽ tự hoàn thiện chính mình hơn nữa…
Vẫn biết rằng thế giới tâm linh là một thế giới có thật tồn tại song song với thế giới của chúng ta đang sống, nhưng nhận thức điều đó như thế nào mới là cả một vấn đề lớn cho chúng ta phải suy nghĩ. Tôi tự ý thức rằng khả năng ngoại cảm chỉ là sự ứng dụng, là sự tiếp cận với con người cả hai thế giới duy vật và duy linh của tôi, để từ đó tôi có thể vận dụng vào làm một số việc hữu ích cho cả hai thế giới này.
Tuy nhiên khả năng tiếp cận với thế giới bên kia của tôi không phải lúc nào cũng thực hiện được, và cũng không phải khi tôi là nhà ngoại cảm thì có nghĩa tôi là người cái gì tôi cũng biết cũng hiểu, nhất là cái hiểu biết ở thế giới bên kia, hoặc giả cái gì tôi cũng làm được, vì nhà ngoại cảm chỉ là một con người hoàn toàn bằng xương bằng thịt.
Sự trải nghiệm này cho tôi những kinh nghiệm rút ra từ chính trong công việc tôi đang làm, nó tích cóp thêm những hiểu biết, những thật và những giả trong thế giới hư ảo này.
Tôi chắc một điều rằng tâm linh không phải là mục đích trong cuộc đời mỗi người, mà thông qua đó mỗi người tự cố gắng hoàn thiện mình theo từng cách riêng.
Phải chăng tâm linh là cả một kho tàng tri thức.
Mỗi cá nhân đều phải có nhận thức đúng đắn về lĩnh vực “tâm linh”
Bởi chữ Tâm là cái tâm của con người, cái suy nghĩ của con người, cái tính cách của con người, ý diễn đạt cái tâm là góc nhìn hiểu biết về một góc độ nào đó.
Và chữ Linh, là một cái nhìn về linh hồn, linh hồn thì theo thế giới vật chất người ta khẳng định không tồn tại.
Tôi đã và đang hàng ngày tiếp cận cùng những con người tồn tại thế giới bên kia. Tôi cần phải hiểu phải biết nhiều hơn để chứng minh sự tồn tại của con người trong thế giới tâm linh, những con người đó họ cũng đang tồn tại và cũng sống phần nào như chúng ta mà chỉ có tôi hoặc một số người khác biết được họ qua những khả năng ngoại cảm của chính mình.
Có thể khả năng này của tôi kéo dài cả một đời của cá nhân tôi, cùng với nhiều đời, nhiều người có những phần nào về khả năng đặc dị như thế này.
Khả năng ngoại cảm của nhà ngoại cảm là chứng minh một sự thật có tồn tại một thế giới duy linh, quá trình chứng minh này không phải một lần mà phải nhiều lần, nhất định tâm linh phải được chứng minh cho dù nó có phải trải qua một quá trình dài dằng dặc để được mọi người cảm thấy xác đáng và sự thật.
Để rồi một thế giới vô hư được tỏ trong tâm mỗi người.
Tôi nhận thấy trách nhiệm dành cho tôi và các nhà ngoại cảm lớn lao lắm. Có thể tôi chưa tin vào những điều kỳ diệu một cách tuyệt đối, tôi luôn luôn đòi hỏi sự kiểm chứng có thể bằng cách này hay cách khác, song tôi tin thế giới tâm linh đã và đang diễn ra mọi lúc mọi nơi, ở những thời khắc bất chợt nào đó trong cuộc sống trần tục này.
Có thể tôi chưa hiểu về Chúa, về phật, và các đấng siêu nhiên cũng như những thiên thần hộ mệnh. Về người âm, về linh hồn…
Tôi chưa hiểu chính cả tôi, trong khi tôi vẫn đau đớn vì tình yêu thương con người với con người mất đi, và cả những người thân thiết của tôi ra đi mai mãi không bao giờ gặp lại, tôi sợ sự chết chóc, tôi sợ cả sự đau thương, những tai nạn, cả những căn bệnh hiểm nghèo hoành hành con người.…Nhưng tôi tin con người là một sinh vật mầu nhiệm nhất và trực giác chúng ta có một sức mạnh vô địch.
Điều này được chứng minh qua cá nhân tôi và rất nhiều người khác nữa, qua rất nhiều câu chuyện có thật đang diễn ra hàng ngày.
Những người có khả năng thấu thị họăc có giác quan thứ sáu để “nhận thức” được những đấng vô hình trong khỏanh khắc…
Những tiếng nói vọng về từ cõi xa xăm, những hình ảnh, hoặc một hiện tượng nào đó xảy đến trong những giây phút thóang qua trong đời mỗi người, Tôi luôn luôn tin tưởng và lắng nghe, tìm kiếm những điều kỳ diệu trong cuộc sống.
Những trải nghiệm kỳ bí nhưng rất thật này sẽ giúp tôi tin rằng cuộc sống này cuộc đời này là sức mạnh của tình yêu thương bao la.
Qua thực hành tâm linh tôi thấy mình là người hạnh phúc nhất thế gian, tôi đã được trải nghiệm với con người của hai thế giới, tôi hiểu được nhiều điều, và tôi hiểu ra rằng trong cuộc đời này người hạnh phúc nhất là người là biết cho và biết nhận, sự chia sẻ không phải chờ chời điểm.
Sự cống hiến phải là cả cuộc đời. Sống cuộc đời này là để yêu thương và tha thứ. Sức mạnh của tình yêu thương sẽ xóa tan hận thù.
Trải nghiệm tâm linh giúp tôi nhìn nhận vào cuộc sống thực tế nhiều hơn, và từ cuộc sống của mỗi người quanh tôi để tôi đúc rút thêm ra kinh nghiệm trong cuộc sống của cuộc đời này.
Xã hội Việt nam hiện nay số đông đã nhận thức khá rõ vấn đề nhạy cảm, nhà ngoại cảm là những người sở hữu tự nhiên những cảm quan không bằng các giác quan bình thường, tìm mộ bằng ngoại cảm là một bộ môn khoa khọc, người tìm hiểu khai thác lĩnh vực này phải có nhận thức, hiểu biết đúng đắn, các nhà ngoại cảm giỏi là những người ngoài việc người đó có khả năng xuất chúng kì tài, họ còn phải là một người có học thức hiểu biết sâu rộng.
Tôi nghĩ rằng những hiện tượng ngoại cảm cũng là một nét văn hóa trong nền văn hóa tâm linh. Từ những trải nghiệm tâm linh đã cho tôi biết, không ai làm việc này một mình, ai ai cũng có những khả năng cảm nhận, có điều khả năng có nhiều hay ít của chúng ta phụ thuộc vào mỗi cá nhân, chúng ta sẽ ứng dụng được vào được trong cuộc sống thực tế của mỗi chúng ta.
Tôi biết rằng khả năng ngoại cảm của tôi chỉ là phương tiện cho tôi tự hoàn thiện chính mình. Từ đây tôi rút ra được những bài học hữu ích trong cuộc đời và sự trưởng thành của tôi, tôi tin rằng suy nghĩ, nhận thức của tôi cũng sẽ phần nào giống như rất nhiều người. Cả đời này tôi chỉ mong được cùng tất cả mọi người cùng chia sẻ cái biết, cái thấy, cái hiểu, những mắc mớ những băn khoăn về thế giới vô hư, và rồi tất chúng ta cùng hành trình, cùng khám phá, cùng phân tích những phải trái những đúng sai, để chúng ta tích lũy nhiều hơn vào vốn hiểu biết của chính chúng ta về cuộc sống thứ hai của mỗi chúng ta trong thế giới tâm linh huyền bí lung linh luôn tỏa sáng.
Để rồi trong mỗi chúng ta khi nhắc đến điều này đều thật sự trân trọng cái giá trị đích thực của nó.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10/2010.
Nguyễn Ngọc Hoài.
Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Giải oan cho "bảo tàng văn hóa" lên đồng    Mon Apr 04, 2011 9:23 pm


Giải oan cho "bảo tàng văn hóa" lên đồng


Cập nhật lúc 24/02/2011 09:37:54 AM (GMT+7)

- Lần đầu tiên, có một cuộc "giải oan" cho lên đồng - “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc.




Chương trình hội thảo và biểu diễn “Lên đồng – Bảo tàng sống của người Việt” tối 23/2 đã khiến Trung tâm Văn hóa Pháp - L’Espace (24 Tràng Tiền, Hà Nội) lần đầu tiên rơi vào tình trạng quá tải. TS Nguyễn Xuân Diện (Viện nghiên cứu Hán Nôm) chắc sẽ không còn rơi nước mắt khi biết được rằng có hàng trăm bạn trẻ đứng theo dõi chương trình của ông qua màn ảnh lớn bên ngoài trung tâm. Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa – GS.TS Ngô Đức Thịnh thẳng thắn trả lời mọi câu hỏi khi bị nghi ngờ về việc nghiên cứu lên đồng để “tiến căn trình đồng mở phủ”…





Không nặng nề và khô cứng, cuộc nói chuyện đầy lí thú của GS Ngô Đức Thịnh và TS Nguyễn Xuân Diện đã xóa tan khoảng cách giữa khán giả trẻ tuổi và những người am hiểu về lên đồng.

GS Thịnh đưa một ví dụ sinh động về thái độ với hoạt động Lên đồng hiện nay: “Lên đồng chỉ giống một đứa trẻ mới sinh ra, những kẻ "đồng đú - đồng đua" khiến đứa trẻ đó bị bẩn. Bỏ rơi đứa bé là điều không nên, hãy gột rửa cho nó như người Việt ta có câu gạn đục khơi trong mới là hành động đúng đắn”.

Lên đồng là một bảo tàng sống

TS Nguyễn Xuân Diện thu hút sự chú ý bằng lời trích dẫn của một học giả nước ngoài trước khi đưa ra lí giải: “Lên đồng có đầy đủ âm sắc của âm nhạc Việt qua hát chầu văn và dàn nhạc chầu, các điệu múa và trang phục thiêng của các vùng miền cũng được thể hiện. Rồi mỹ nghệ chế tác tinh xảo cùng nghệ thuật điêu khắc, hội họa qua các đồ dâng cúng, tranh thờ, tượng Phật… Đặc biệt hơn cả, do không phải kiêng nên lên đồng còn tôn vinh văn hóa ẩm thực Việt Nam qua các sản vật của ba miền đất nước khi dâng hầu”

GS Đức Thịnh cho rằng: “Lên đồng là bảo tàng sống vì ba lí do. Các nhân vật lịch sử được sống lại và nhập hồn vào thanh đồng qua quần áo, điệu múa chứ không phải là bức tượng trong tủ kính. Tính đa văn hóa và bình đẳng giữa các dân tộc Việt Nam thông qua điệu nhạc nhảy múa của những giá chầu là lí do thứ hai. Và cuối cùng việc thờ đạo Mẫu như câu nói tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ là biểu hiện của nét văn hóa gia đình đặc trưng của người Việt”.




Giá hầu Đức Trần Triều mang tính “saman” nặng hơn khi thanh đồng dùng thanh sắt nhọn đâm xuyên qua má và xuyên qua quả cau lúc “nhập hồn”




Cấm người có “căn” tức là cấm họ trở lại cộng đồng !

Với những điều tra của mình, GS Ngô Đức Thịnh đã khẳng định: “Gần 100% những người có “cơ đầy” mắc các bệnh tật sau khi trình đồng đều thoát bệnh”. Ông nhấn mạnh rằng: “Đây không phải mê tín dị đoan mà nhân tố quan trọng nhất đó chính là niềm tin vào những thứ mang tính chất siêu nhiên, những cái con người không giải thích được”.

Đặt ngược vấn đề vị GS cũng thẳng thắn nói: “Nếu như chúng ta cấm những người có “căn” và có nhu cầu hầu đồng để giải tỏa niềm tin tôn giáo thì liệu có giống chúng ta đã đẩy họ ra khỏi cộng đồng? Tôi thấy câu trả lời đã có khi chúng ta nhìn vào số lượng và sự quan tâm tới buổi hội thảo ngày hôm nay”.

Ông cũng nói thêm rằng, hiện nay có nhiều người có khả năng tìm mộ như bà Trần Ngọc Ánh (có công tìm ra phần một của cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập đã được nhà nước công nhận) đang được tổ chức của ông kêu gọi tập hợp để nghiên cứu và giải thích một cách khoa học.

Chính chúng ta tự làm hỏng đạo Mẫu

Không thể phủ nhận, một trong những nguyên nhân khiến hoạt động lên đồng “có tính chất mê tín dị đoan” bị cấm theo Nghị định 75 là từ chính những người đã lợi dụng nó cho những động cơ không lành mạnh. GS. Ngô Đức Thịnh trong buổi đăng đàn cũng đã phải thừa nhận: “Chính chúng đã làm hỏng đạo Mẫu. Không có một tôn giáo nào trên thế giới dạy con người ta làm điều xấu, chỉ có con người lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng đó làm điều xấu mà thôi.”

Khép lại buổi nói chuyện, GS Thịnh một lần nữa đã kêu gọi ngay chính những “ông đồng bà cốt” hãy tự chấn chính lại “ngôi nhà thánh Mẫu” để mọi người nhìn vào đó và công nhận đạo Mẫu, ghi nhận lên đồng là một hoạt động văn hóa tốt đẹp mà ông cha đã để lại.



Thanh đồng Trần Đức Hạnh biểu diễn các giá Mẫu, giá Đệ Nhị, Ông Bảy, Bà chúa Thượng ngàn, Cô Bơ


Buổi biểu diễn lên đồng công khai lần đầu tiên tại trung tâm Hà Nội đã được tổ chức một cách bài bản, khoa học và nghiêm túc đã “giải oan” cho một “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc vốn bị mang tiếng lâu nay.
Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Cần đánh giá khoa học về loại hình “lên đồng”10:46:00 25/02/2011   Mon Apr 04, 2011 9:27 pm


Cần đánh giá khoa học về loại hình “lên đồng”10:46:00 25/02/2011


Thay vì phải "lén lút" diễn ra tại các điện thờ tư nhân hay những đền miếu tự phát, lần đầu tiên, các "thanh đồng" đã đường hoàng trình diện giữa trung tâm Thủ đô, trong khuôn khổ Hội thảo "Lên đồng, bảo tàng sống của văn hóa Việt" do Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam phối hợp với L'Espace tổ chức vào tối 23/2 vừa qua.


Có minh họa diễn xướng hầu đồng với các giá tiêu biểu (trong tổng thể 36 giá đồng): Ba giá Mẫu, Trần Triều, Quan Đệ Tam, Quan lớn Tuần Tranh, Chầu Đệ Nhị, Chầu Bát, Chầu Bé, Chầu Thác Bờ, Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười, Cô Cam Đường, Cô Bơ Thoải, Cô Bé…, nên Hội thảo đã thu hút được số lượng khán thính giả đông ngoài dự đoán của nhà tổ chức.

"Bảo tàng sống của văn hóa Việt" hồi sinh mạnh mẽ



GS Ngô Đức Thịnh, người đã bỏ nhiều năm để nghiên cứu về Đạo Mẫu, diễn giả chính tại Hội thảo, khẳng định "Lên đồng là nghi lễ tiêu biểu, điển hình nhất trong tục thờ Mẫu, một hành trình của thần linh và số phận", ẩn chứa đặc trưng nội tâm rõ rệt của người Việt. Bản chất tôn giáo của lên đồng chính là "sự nhập hồn nhiều lần của thần linh Tứ phủ vào thân xác ông đồng, bà đồng, nhằm trị bệnh, cầu sức khỏe, tài lộc, may mắn".

Theo biến thiên lịch sử, lên đồng từng bị coi như điều cấm kỵ, một ví dụ hùng hồn của hủ tục mê tín dị đoan cần loại bỏ khỏi đời sống xã hội. Dù vậy, mặc những dè bỉu và lên án trong tư duy một thời, lên đồng vẫn tồn tại, là hình thức diễn xướng dân gian, một nghi lễ không thể thiếu trong Đạo Mẫu, tín ngưỡng riêng của người Việt, tôn thờ nữ thần, người Mẹ, như đấng tối cao có "quyền năng sáng tạo, che chở cho con người, đáp ứng khát vọng của con người về Phúc, Lộc, Thọ".

Từng trực tiếp tham dự nhiều buổi "hầu đồng", GS Ngô Đức Thịnh cũng phải công nhận, diễn tiến của mỗi lần trình diễn lên đồng cực kỳ phong phú, đa dạng, và có tính khu biệt, độc đáo nhất định ở mỗi vùng, miền khác nhau. Đó cũng là kết tinh của đời sống tinh thần vốn mang đậm bản sắc nền văn minh lúa nước, được nhân dân Việt Nam truyền lại tự bao đời.

Trong hầu đồng, văn học truyền miệng, âm nhạc mà điển hình nhất là thể loại chầu văn, cùng với nhảy múa, điêu khắc, hội họa… được tích hợp, làm nên trò diễn xướng dân gian mê đắm, có một không hai.

GS Thịnh nhấn mạnh: "Lên đồng lắng đọng tinh túy, là bảo tàng sống của văn hóa Việt bởi: Các nhân vật lịch sử sống lại và nhập hồn vào thanh đồng (trong mỗi buổi lên đồng, người đứng giá hầu được gọi là "thanh đồng", nam xưng "cậu", nữ xưng "cô, bà") qua quần áo, điệu múa chứ không phải những bức tượng.

Đồng thời, từ âm nhạc và các động tác nhảy múa của mỗi giá chầu, tính đa văn hóa, sự bình đẳng giữa các dân tộc được biểu hiện mạnh mẽ. Hơn nữa, tín ngưỡng thờ Mẫu là minh chứng tiêu biểu của truyền thống đề cao giá trị gia đình, như vốn quý ngàn đời của người Việt chúng ta".




Lên đồng chưa thành di sản nhân loại, vì thiếu kiểm soát

Hơn bất kỳ một quyển sách khô cứng, một bức tranh hay một bức tượng nào, lên đồng là một bảo tàng sống động. Người Việt đã triển lãm nền văn hóa Việt Nam cho người Việt và người nước ngoài. Những người tham gia hầu đồng chính là những người quản lý nhà bảo tàng, những người bảo vệ cho văn hóa Việt Nam.

Việc làm của họ đảm bảo cho các thế hệ tương lai vẫn sẽ tiếp tục có cơ hội được chiêm ngưỡng những khía cạnh khác nhau của văn hóa Việt Nam, mà chúng đang dần bị nhạt nhòa đi trong đời sống xã hội hằng ngày, chỉ còn hiện diện trong điện thần của Đạo Mẫu", TS. Frank Proschan - Chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể của Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) nhận định.

Tụng ca lên đồng bằng những lời lẽ biểu cảm, sự đam mê cộng với nhiều năm dồn công sức tìm tòi, khám phá, nhưng GS Ngô Đức Thịnh lại khăng khăng bảo lưu ý kiến, chưa nên đề xuất UNESCO phong tặng lên đồng là "di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại". Dẫu đau lòng, GS Thịnh vẫn phải bày tỏ thái độ, hiện lên đồng chưa được nhìn nhận thực sự đúng mức ngay ở trong nước. Các nhà quản lý văn hóa, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, đồng thuận về lên đồng.

Cốt yếu hơn, GS Ngô Đức Thịnh tha thiết, lên đồng nhiều lúc bị gán cho "tội danh" mê tín dị đoan, cũng khởi nguồn từ chuyện, còn nhiều người lợi dụng nghi lễ tôn giáo này để làm những việc xấu. Hoạt động của một số thanh đồng thiên về bói toán, phán truyền, nhắm vào sự cả tin, nhẹ dạ của các "con nhang đệ tử" khiến cho lên đồng nhuốm màu sắc tiêu cực.

GS Ngô Đức Thịnh đúc kết, chỉ khi nào hình thức hầu đồng được chấn chỉnh theo nguyên bản như nó vốn có bao đời nay, và cả xã hội cùng đồng tình, nhìn nhận ra bản chất tốt đẹp của lên đồng, thì khi ấy, tự thân lên đồng sẽ thành di sản nhân loại

xxxx

Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Lên đồng - văn hóa hay dị đoan? Cập nhật lúc :8:28 AM, 23/02/2011   Mon Apr 04, 2011 9:33 pm



Lên đồng - văn hóa hay dị đoan?
Cập nhật lúc :8:28 AM, 23/02/2011

Cứ vào dịp lễ hội, hình thức lên đồng hay còn gọi là hầu đồng lại diễn ra một cách rôm rả. Tuy nhiên, theo GS.TS Ngô Đức Thịnh, cần phải phổ biến rộng rãi vấn đề lên đồng tới công chúng để mọi người hiểu rõ hơn để tránh tình trạng lợi dụng để thu lợi bất chính.

Lên đồng là hình thức tín ngưỡng dân gian, rất phổ biến ở Việt Nam, châu Á và nhiều nước trên thế giới. Một số nước đã ghi nhận giá trị của hình thức tín ngưỡng dân gian này là di sản văn hóa phi vật thể như Kut ở Hàn Quốc, Shaman ở Indonesia và Shaman ở Mông Cổ. Lên đồng của Việt Nam chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật và lịch sử, đã được nhiều chuyên gia trong nước, quốc tế nghiên cứu, giới thiệu và bảo tồn.

Bảo tàng sống của văn hóa Việt

“Hơn bất kỳ một quyển sách khô cứng, một bức tranh hay một bức tượng nào, lên đồng là một bảo tàng sống động. Những người tham gia hầu đồng chính là những người quản lý nhà bảo tàng, những người bảo vệ cho văn hóa Việt Nam. Việc làm của họ đảm bảo cho các thế hệ tương lai vẫn sẽ tiếp tục có cơ hội được chiêm ngưỡng những khía cạnh khác nhau của văn hóa Việt Nam, mà chúng đang dần bị nhạt nhòa đi trong đời sống xã hội hàng ngày, chỉ còn hiện diện trong điện thần của đạo Mẫu”, TS Frank Proschan, nói.

Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn tín ngưỡng dân gian, Ủy viên Hội đồng di sản quốc gia và là nhà nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này, thì việc lên đồng hiện nay rất phổ biến ở Việt Nam và ngày càng phát triển mạnh. Lên đồng là bảo tàng sống của văn hóa Việt. Hình thức diễn xướng của lên đồng tích hợp những giá trị văn hóa rất lớn. Đây không phải là một tín ngưỡng độc lập mà là một nghi lễ của Đạo Mẫu của Việt Nam”.


Một buổi lên đồng.
Cũng theo vị GS này, lên đồng còn được xem là thứ hiện sinh. Đạo Mẫu và lên đồng thể hiện quan điểm về nhân sinh quan gắn với dân tộc. Đây là thứ tín ngưỡng thể hiện chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Tất cả các vị thần trong đạo Mẫu đều được lịch sử hóa. Đặc biệt, lên đồng còn có giá trị tri thức và là một hình thức chữa bệnh.

Có thể khẳng định, lên đồng ở Việt Nam là một di sản văn hóa phi vật thể rất đặc biệt. Theo GS Thịnh, trước đây đã có nhiều bạn bè quốc tế khuyên ông đưa lên đồng trình UNESCO và chắc chắn sẽ được công nhận, vì sự lôi cuốn của nó không kém những cái được công nhận thậm chí còn hơn. “Mặc dù vậy, tôi cho rằng chưa nên đưa lên đồng trình UNESCO, vì sự đồng thuận trong xã hội chưa nhiều. Mọi người hiểu về hầu đồng chưa rõ và còn bị lợi dụng nhiều và làm biến dạng. Phải khi nào người dân đồng thuận, quốc tế đồng thuận mới tốt được”, GS Thịnh cho biết.

Lên đồng có thể chữa được bệnh?

Hiện nay, bên cạnh hình thức lên theo đúng truyền thống, vẫn còn không ít những người lợi dụng hình thức này để thu lời bất chính. Không những thế, nhiều người khẳng định lên đồng có thể chữa được bệnh. Về vấn đề này, GS Thịnh khẳng định là đúng. Bởi chính ông đã có những nghiên cứu và thống kê. “Những trường hợp tôi đã thống kê, những người có căn số thường điên loạn, ốm đau không có chỗ nào chữa khỏi và sau khi lên đồng 100% đã khỏi. Tôi đã viết hẳn một chương trong cuốn sách Lên đồng để chứng minh điều đó hoàn toàn đúng, không có gì mê tín dị đoan. Tôi gọi lên đồng là cách họ tái hòa nhập với cộng đồng như một con người trong cộng đồng. Cấm lên đồng là một sai lầm”, GS Thịnh, cho biết.

Tuy nhiên, theo GS Thịnh, trong nghi lễ lên đồng, có người tốn rất nhiều tiền nhưng cũng có người tốn rất ít. Có những người lên đồng một buổi chỉ mất vài triệu đồng thôi nhưng có những người mất hàng trăm triệu đồng. Đó là quyền của mỗi người. Cái quan trọng là vận động sao cho người tham gia lên đồng có ý thức để không phung phí.

“Còn trong chuyện lợi dụng lên đồng để làm giàu, chúng ta cần uốn nắn, hạn chế. Chẳng hạn, có một bà đi buôn, đến hầu đồng có thể sẵn sàng bỏ ra 10 triệu để phát lộc, nhưng ngày mai tới mua hàng bà ấy lại tính toán từng xu, đó là tính cách của mỗi người”, ông Thịnh cho biết thêm.

xxxxxxxxx

Lên đồng 'tái sinh' 50 vị thánh thần
Cập nhật lúc :6:53 AM, 27/02/2011

“Trong lên đồng, các vị anh hùng lịch sử nhập vào thân xác của những ông đồng, bà đồng và họ được sống lại bằng xương bằng thịt…”.



Lên đồng - bảo tàng sống của Văn hóa Việt là tiêu đề của một buổi hội thảo vừa diễn tại Trung tâm văn hóa Pháp (Hà Nội) chiều tối ngày 23/2. Tại hội thảo, giáo sư Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam đã diễn giải những góc nhìn mới lạ về bản chất của lên đồng với tư cách là một loại hình nghi thức tín ngưỡng đang gây nhiều tranh cãi ở Việt Nam.

Hiểu thế nào về về lên đồng?

Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng, muốn hiểu về lên đồng thì trước tiên phải hiểu về đạo Mẫu của người Việt. Bản thân đạo Mẫu lại là một vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp.

Hiểu một cách khái lược, đạo Mẫu là sự tôn thờ Thánh Mẫu theo quan niệm đây là người cai quản các miền khác nhau của vũ trụ và có thể che chở cũng như ban phát cho con người sức khỏe, tài lộc. Đạo Mẫu khác với nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác ở Việt Nam ở chỗ, đạo này không hướng con người về một thế giới sau khi chết, mà hướng đến đời sống trần tục ở nhân gian.

Bên cạnh đó, đạo Mẫu là một tín ngưỡng đa thần, với trên dưới 50 vị thần được phân thành các hang bậc từ cao xuống thấp. Vị thần cao nhất là Thánh Mẫu, dưới Thánh Mẫu có hàng Quan, hàng Ông Chầu, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu… Các vị thần cũng được phân theo 4 phủ, được biểu tượng bằng 4 màu khác nhau: Thiên phủ màu đỏ, Địa phủ màu vàng, Thượng ngàn màu xanh...



Lên đồng chính là nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị thần này vào thân xác của các ông đồng, bà đồng. Lúc đó họ không còn là mình nữa mà trở thành hiện thân của các vị thần linh trong một màn diễn xướng vô cùng đặc sắc với sự kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật như hát, múa và cả điêu khắc, hội họa…

Trên khía cạnh tôn giáo, lên đồng được coi là một trong những hình thức Shaman (xuất nhập hồn) giáo trên thế giới. Shaman giáo là hiện tượng tâm linh phổ quát của rất nhiều dân tộc trên thế giới, điển hình là ở vùng Siberi Mông Cổ. Tại Hàn Quốc, Trung Quốc…cũng có hình thức tín ngưỡng tương tự lên đồng nhưng có nhiều khác biệt so với lên đồng của Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước trong lên đồng

Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, đạo Mẫu và lên đồng ẩn chứa nhiều giá trị đối với đời sống tinh thần người Việt ngày nay. Trong đó, có một giá trị rất đặc biệt được giáo sư nhấn mạnh, đó là sự thể hiện chủ nghĩa yêu nước trong diễn xướng lên đồng.

Điều này thể hiện trước hết ở chỗ, khoảng 50 vị thần trong đạo Mẫu phần lớn đều đã được lịch sử hóa, trở thành những nhân vật có công với nước. Đó là những nhân vật lịch sử có thật như Phạm Ngũ Lão, Đức Thánh Trần, Yết Kiêu, Dã Tượng, bà Bát Nàn và nhiều vị khác. Nói một cách khác, những nhân vật lịch sử đó đã được thần thánh hóa.


Diễn xướng lên đồng là sự tái hiện các nhân vật lịch sử.

Trong diễn xướng lên đồng, sự tái hiện của các vị thần linh cũng chính là sự tái hiện các nhân vật lịch sử kể trên. Trong màn diễn xướng này, các vị anh hùng lịch sử nhập vào thân xác của những ông đồng, bà đồng và được sống lại bằng xương bằng thịt với những hành động, bằng những trang phục đặc trưng.

Bởi vậy, có thể nói, đạo Mẫu chính và diễn xướng lên đồng là biểu hiện của một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được tâm linh hóa và trở thành tín ngưỡng. Việc tôn thờ những vị thần trong đạo Mẫu chính là tôn thờ chủ nghĩa yêu nước của người Việt. Một chủ nghĩa yêu nước như vậy là rất sâu sắc.

Lên đồng và tinh thần hòa hợp dân tộc

Bên cạnh chủ nghĩa yêu nước, một giá trị khác không kém phần quan trọng của diễn xướng lên đồng là tinh thần hòa hợp dân tộc.

Tinh thần này thể hiện ở sự tích hợp văn hóa, với sự xuất hiện dấu ấn văn hóa của các dân tộc thiểu số trong lên đồng. Đó là các vị thần có nguồn gốc từ các dân tộc miền núi như những vị hàng Chầu, hàng Quan… Đặc biệt thú vị là khi các vị đó giáng đồng vào các ông đồng bà đồng thì từ ăn mặc đến âm nhạc, đến nhảy múa là sự tái hiện lại văn hóa của dân tộc đó. Vì vậy, khi xem lên đồng chúng ta không chỉ thấy được văn nhóa của người Kinh mà còn cả văn hóa của các dân tộc khác.

Có thể khẳng định rằng không có một tín ngưỡng nào của người Việt lại tôn thờ các vị thần thuộc nhiều dân tộc khác nhau như đạo Mẫu. Điều này cho thấy sự bình đẳng trong quan niệm tín ngưỡng, không có sự phân biệt dân tộc lớn, dân tộc nhỏ trong đạo Mẫu.

Đây là sự phản ánh tinh thần cố kết, gắn bó của các dân tộc trong lãnh thổ Việt Nam trước kia trên bình diện tâm linh, một vốn quý mà người Việt Nam ngày nay cần vun đắp để góp phần phát huy tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc.

Giáo sư Ngô Đức Thịnh kết luận: “Bản chất của lên đồng là tốt đẹp và không phải là một hoạt động mê tín dị đoan. Vấn đề là một số người đã lợi dụng lên đồng để mưu cầu một số điều không tốt. Không một tôn giáo hay tín ngưỡng nào dạy con người làm điều xấu cả, chỉ có con người lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để làm điều xấu mà thôi… Việc chúng ta cần làm là gạn đục khơi trong, thanh lọc để lên đồng luôn là một hiện tượng lành mạnh như cha ông, tổ tiên của chúng ta đã làm”.

xxxxxxxx

“Vỡ sân” xem lên đồng tại L’Espace “



(TT&VH) - Chiều 23/2/2011, rất đông những người quan tâm đã đổ xô về Trung tâm văn hóa Pháp L’Espace (24 Tràng Tiền - Hà Nội) trước thông tin có biểu diễn hầu đồng trong cuộc tọa đàm khoa học về đề tài này.

Theo lịch của Ban tổ chức, buổi tọa đàm có tên: Lên đồng - Bảo tàng sống của văn hóa Việt khai mạc vào 17h. Nhưng từ rất sớm, bãi để xe đối diện L’Espace đã chật cứng. Rất đông những người chậm chân phải tới các bãi xe dù trên phố Nguyễn Khắc Cần, thậm chí là gửi nhờ tầng hầm của khách sạn cạnh đó với giá 10.000 đồng/xe máy.


30 phút trước khi bắt đầu, cửa vào hội trường L’Espace phải đóng chặt vì lý do an toàn. Trước tấm biển “Hội trường đã kín chỗ”, rất đông người tới dự chương trình phải dồn đống lại trong phòng chờ của L’Espace, thậm chí là chen chúc kín các bậc cầu thang. Trong số này có một số gương mặt quen thuộc của giới nghiên cứu văn hóa như GS Chu Hảo, PGS-TS Nguyễn Thị Minh Thái, PGS-TS Nguyễn Đỗ Bảo (Chủ tịch Hội Mỹ thuật HN), nhiếp ảnh gia Xuân Bình... cùng nhiều phóng viên báo chí.


Dòng người chen chúc trước cầu thang lên hội trường

16h50, cảnh lời qua tiếng lại diễn ra khá căng thẳng trước hai cánh cửa đóng kín của hội trường. Kiên nhẫn giải thích, rồi cũng tới lúc nhân viên an ninh của L’Espace phải to tiếng trước những đám đông đang nổi nóng. “Tây hay ta cũng ở ngoài, đây là lệnh của giám đốc”. Vừa nói, anh vừa hì hục hé cửa cho diễn giả GS Ngô Đức Thịnh lách vào rồi hớt hải ập cửa. Dưới cầu thang, những người nhanh chân đã lập tức xí chỗ, ngồi bệt trước màn hình lớn được nối trực tiếp vào hội trường.

17h, buổi tọa đàm bắt đầu. 2 diễn giả, GS Ngô Đức Thịnh và TS Nguyễn Xuân Diện, cùng bắt đầu điểm lại lịch sử phát triển và những nét đặc sắc của văn hóa Đạo Mẫu tại Việt Nam. Dưới phòng chờ, một đám đông người đứng kẻ ngồi cùng chen vai một cách... rất có trật tự trước màn hình lớn đang truyền hình trực tiếp buổi tọa đàm. Lác đác có mặt một vài du khách người Pháp rất háo hức chứng kiến sự nghiêm túc và cầu thị của những người đang căng tai dán mắt vào màn hình.

17h30, trước câu hỏi của TS Nguyễn Xuân Diện về ý tưởng đề cử hầu đồng vào danh sách xét duyệt di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, GS Ngô Đức Thịnh lắc đầu: “Chưa nên, nếu không tự ổn định ngay ở môi trường VN trước đã. Khác với bản chất nguyên sơ là một hành vi tín ngưỡng giàu tính văn hóa, hầu đồng bây giờ lai tạp, biến tướng và bị lợi dụng vào mục đích kiếm tiền quá nhiều”. Trước đó, trong lúc chờ tới màn biểu diễn hầu đồng, một số người trong hội trường có nhu cầu ra ngoài phòng chờ để giải lao nhưng cũng đành quay vào trước hai cánh cửa đóng kín.

Rồi theo nhịp thời gian, cũng tới lúc chương trình biểu diễn về hầu đồng được bắt đầu trước sự háo hức của người xem. Hội trường vẫn đóng kín, một số khán giả đứng ngoài mỏi chân đã bỏ về. Nhưng trước màn hình tại phòng chờ vẫn còn rất đông những người chăm chú ngồi thưởng thức nghệ thuật hầu đồng. Máy ảnh và điện thoại được tận dụng tối đã để quay lại những khuôn hình đang hiện ra trên màn ảnh lớn.

Cần hiểu rõ, trước những quan điểm khá trái chiều, đây là một lần hiếm hoi mà những giá đồng tiêu biểu được mang ra trình diễn trong một trung tâm văn hóa tại Hà Nội - chứ không phải là trong những buổi lên đồng theo hình thức bán công khai. Háo hức trước một sự tò mò có thật, việc một chương trình miễn phí tại L’Espace trở nên quá tải là điều dễ hiểu...








Về Đầu Trang Go down
kiss
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tác phẩm “THỜ CÚNG VÀ Lễ BÁI”    Mon Apr 04, 2011 9:44 pm

Thờ Cúng và Lễ Bái


Con người sanh ra ở đời, ắt phải có tôn ti trật tự, có trước có sau, có trên có dưới, có lớn có nhỏ, có thứ lớp giai tầng, đó là một qui luật tự nhiên, không ai có thể chối cãi, phủ nhận hay từ bỏ. Đó là một đạo lý tuyệt đối là căn bản đạo đức, là cương kỷ, nề nếp mà các Ngài Giáo Chủ đứng lên lập đạo phải lấy nó làm nền tảng, chủ đích để dạy tập con người bảo giữ nguồn gốc tôn ti trật tự, để qui định cho sự hòa hiệp sống chung, thái bình an lạc trong cõi đời. Từ đó mà vấn đề “THỜ CÚNG và LỄ BÁI” được đặt ra.

Con người sanh ra ở đời, ắt phải có tôn ti trật tự, có trước có sau, có trên có dưới, có lớn có nhỏ, có thứ lớp giai tầng, đó là một qui luật tự nhiên, không ai có thể chối cãi, phủ nhận hay từ bỏ. Đó là một đạo lý tuyệt đối là căn bản đạo đức, là cương kỷ, nề nếp mà các Ngài Giáo Chủ đứng lên lập đạo phải lấy nó làm nền tảng, chủ đích để dạy tập con người bảo giữ nguồn gốc tôn ti trật tự, để qui định cho sự hòa hiệp sống chung, thái bình an lạc trong cõi đời. Từ đó mà vấn đề “THỜ CÚNG và LỄ BÁI” được đặt ra.

Đây là phương pháp hay phong cách giáo hóa rất quan trọng của đời sống nhân loại; cũng lại là một giáo lý tốt đẹp làm nền tảng cho sự thương yêu, thân thiện, cung kính, lễ phép với nhau trong cuộc sống. Một cung cách xử sự liên quan truyền kiếp và nối tiếp đời đời đối với loài người nói riêng và vạn vật chúng sanh nói chung. Nhất là sự liên quan truyền nối giữa kẻ còn người mất của nhân loại. Lại nữa, truyền thống và tập tục của người Á đông càng thâm thiết hệ trọng hơn, từ trong guồng máy gia đình giòng tộc đến các tổ chức Tôn giáo Tín ngư­ỡng tâm Linh như Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo v.v... Tác phẩm “Thờ Cúng và Lễ Bái” này do Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, một nhà Duy Thức Học, một vị Giáo Phẩm lãnh đạo cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đã dày công nghiên cứu và biên soạn, làm tài liệu căn bản cho mọi giới đồng bào Phật tử Việt Nam, nhất là đồng hương tị nạn nơi đất khách quê người có quá nhiều phức tạp nhiều khê.

Đây là một Pháp Bảo cung ứng nhu cầu thiết thực cho đại đa số quần chúng Việt Nam. Là kim chỉ nam cho người Phật tử từ hạng bậc sơ cơ cho chí đến những người trí thức mà chưa hề quan tâm đến vấn đề “Thờ Cúng và Lễ Bái”, nó có một tác dụng hữu ích như thế nào cho cuộc sống mà các Ngài khai đạo đã mở đường giáo hóa nhân sanh bằng qui cũ trong sự Thờ Cúng và Lễ Bái nầy vậy.

Tác phẩm “THỜ CÚNG VÀ Lễ BÁI” đã dẫn giải, phân bày rất là khúc chiết, mạch lạc và cụ thể, sẽ giúp cho độc giả hiểu biết rõ ràng hơn tầm quan trọng của sự Thờ Cúng và Lễ Bái. Nhà Xuất Bản Nguồn Sống chúng tôi xin đ­ược hân hạnh Giới thiệu đến quí đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước; Quí đồng hương Phật tử ở rải rác khắp Năm Châu Thế giới với tác phẩm “Thờ Cúng Và Lễ Bái” nầy.


Thượng Tọa Thích Giác Lượng.

xxxxxxxx

LỜI MỞ ĐẦU



Thờ Cúng Và Lễ Bái là một trong những Gia Bảo tinh thần đáng quý của Tổ Tiên để lại cho con cháu kế thừa. Gia Bảo này đã được hấp thụ tinh hoa lâu đời do các Tôn Giáo bồi đắp và xây dựng. Gia đình Việt Nam có Truyền Thống, đều coi trọng và thiết lập Hương án trong nhà để chuyên trách về việc Thờ Cúng Và Lễ Bái.

Người Thờ Cúng Và Lễ Bái thì nhiều nhưng người hiểu rõ ý nghĩa và giá trị vấn đề thì lại quá hiếm. Nhất là những người Việt Nam tỵ nạn ra nước ngoài ít ai thông hiểu về ý nghĩa và giá trị của sự Thờ Cúng Và Lễ Bái. Họ cũng thiết lập bàn thờ và tổ chức nghi lễ trong nhà có tính cách giả chiến, hời hợt tạm bợ cho có lệ theo tập tục cổ truyền, nhưng việc làm của họ thiếu sự tôn kính thiêng liêng. Thành thử vấn đề Thờ Cúng Và Lễ Bái không tạo đ­ược niềm tin vững chắc cho thế hệ con cháu trẻ tuổi tân học.

Ngoài ra, lại có một số người lợi dụng niềm tin và sự hiểu biết nông cạn của đa số quần chúng trong việc Thờ Cúng Và Lễ Bái, nên họ đã manh nha khai thác tận cùng vấn đề mê tín dị đoan nhằm mục đích buôn bán làm ăn. Họ bày vẽ thêm nhiều nghi cách mơ hồ vô nghĩa, khiến cho việc Thờ Cúng Và Lễ Bái trở nên phức tạp để độc quyền tín ngưỡng. Họ vô tình làm giảm giá trị Truyền Thống Văn Hóa lâu đời của Dân Tộc về ý nghĩa Thờ Cúng Và Lễ Bái. Đã vậy lại thêm một số người Trí Thức có thành kiến, họ bôi bác và kết án, cho việc Thờ Cúng Và Lễ Bái là một hình thức hoang đường.

Những lý do trên thúc đẩy chúng tôi cho ra quyển sách: “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái”. Tác phẩm này không có cao vọng lột trần được toàn diện chiều sâu ý nghĩa và giá trị của vấn đề. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày một vài quan điểm có tính cách biện minh lý giải ý nghĩa và giá trị của sự “Thờ Cúng Và Lễ Bái” qua lăng kính Phật Giáo.

Hơn nữa, sự ra đời của quyển sách “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái” nhằm đóng góp một phần nào trong phong trào phục hưng nền Văn Hóa Dân Tộc và tạo cơ hội phục vụ cho Cộng Đồng Việt Nam ở hải ngoại về mặt Tín Ngưỡng. Nền Văn Hóa Dân Tộc cần phải được phát huy rộng lớn và làm sáng tỏ quan điểm Truyền Thống lâu đời qua nhiều khía cạnh trong mọi lãnh vực, để làm khuôn vàng thước ngọc cho người Việt ly hương nương tựa sống còn. Quyển sách nhỏ này được gói ghém bằng một tâm nguyện khiêm tốn hầu đóng góp vào kho tàng Văn Hóa Phật Giáo và Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam, xem như một công tác hiếm hoi, hướng trở về Nguồn, phụng sự Chánh Pháp. Tác phẩm “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái” nhất định còn thiếu sót nhiều về mặt hình thức cũng như nội dung. Chúng tôi kính mong các bậc cao minh chỉ bảo góp ý thêm để cho tác phẩm có giá trị và đầy đủ hơn khi tái bản.
xxxxxx

VẤN ĐỀ THỜ CÚNG VÀ LỄ BÁI



Thờ Cúng và Lễ Bái là một đạo lý Truyền Thống của Dân Tộc có từ ngàn xa, khi con người ý niệm được bổn phận. Ở thời kỳ Quân Chủ, các triều đại Vua Chúa cho Thờ Cúng và Lễ Bái là biểu tượng cao quí nhất đối với các bậc Tiền Nhân, nên đặc trách riêng một Bộ gọi là Bộ Lễ để trông coi việc này.

Còn riêng về Phật Giáo, vấn đề Thờ Cúng và Lễ Bái lại càng hàm xúc bao ý nghĩa và giá trị, thể hiện được tinh thần thiêng liêng trọng đại đối với các bậc Thánh Hiền. Thế mà cho đến hôm nay ý nghĩa và giá trị vấn đề Thờ Cúng và Lễ Bái đã được bao nhiêu người thông suốt? Vì không thông suốt, đa số quần chúng thiếu sót Lễ Nghi cung cách, gây nhiều tội lỗi với các bậc bề trên. Họ không phải không muốn, nhưng không được ai chú dẫn tư­ờng tận để có đức tin.

Nhằm mục đích giúp người con Phật thông suốt giá trị vấn đề trên, tôi xin trình bày ý nghĩa Thờ Cúng và Lễ Bái qua những nhận định như sau:



I. VẤN ĐỀ THỜ:

Trước hết là vấn đề Thờ. Thờ nghĩa là thể hiện, tỏ bày sự Tôn Kính của mình lên các Tiền Nhân, các Thánh Đức mà mình đã dâng trọn niềm tin, như thờ Phật, thờ Chúa, thờ Tổ Quốc, thờ Tổ Tiên, Ông-Bà v.v... Người con đã có Giòng Họ Tông Môn thì phải có bàn thờ Tổ Tiên. Con người có giống nòi chủng tộc thì phải có bàn thờ Tổ Quốc. Tín Đồ có Tín Ngưỡng Tôn Giáo thì phải có bàn thờ đức Giáo Chủ của mình. Ngược lại, con cái mà không có bàn thờ Tổ Tiên, Ông Bà là con bất Hiếu. Một công dân mà không có bàn thờ Tổ Quốc là kẻ bất Trung. Một tín đồ mà không có bàn thờ đức Giáo Chủ của mình là người bất Tín.

Nhưng hiện nay có một số người không hiểu bảo rằng Thờ Cúng là hành động mê tín dị đoan, kém văn minh, thiếu khoa học, bởi vì những hình tượng được thờ đều bằng xi măng, hoặc bằng giấy và hương đèn đều bằng cây, bằng mạt cưa làm nên v.v... rồi tin tưởng đặt lên thờ và cho là thiêng liêng. Những hành động ấy đã không lợi ích chi, lại còn nhơ bẩn đến nhà cửa và tốn hao tiền bạc.

Lời này mới nghe qua như có lý, nhưng kỳ thực xét cho kỹ thì hoàn toàn sai lầm. Sự sai lầm này được nhận định như sau:

a. Hình Tượng mặc dù được xây dựng bằng giấy hay bằng xi măng hoặc hương đèn được làm nên bằng mạt cưa hay bằng gỗ đi chăng nữa, những vật thể ấy đã trở thành thiêng liêng cao quí, nhất là đã tượng trưng (Symbolizes) cho dòng họ, Tổ Tiên, Ông Bà, cho Thánh Hiền, cho chư Phật mà mình đã Tôn Thờ. Cũng như Lá Cờ của một Quốc Gia, mặc dù nó được kết bằng vải tầm thường không giá trị, nhưng nó đã được tiêu biểu cho Tổ Quốc, cho Quốc Hồn Quốc Túy của một Dân Tộc mà ngời Công Dân hay Chiến Sĩ đều phải Tôn Thờ. Một Công Dân hay Chiến Sĩ mỗi khi chào cờ không phải chào miếng vải ấy, hoặc hy sinh dưới cờ không phải chết cho miếng vải mà ở đây họ chào và chết vì Tổ Quốc, vì Hồn Thiêng đất nước đã được biểu hiện qua lá cờ. Nước Mỹ ai cũng cho là một nước Văn Minh đứng đầu trên Thế Giới về phương diện khoa học cơ giới. Thế mà họ vẫn tôn trọng ngày Hollyvine nh là một Quốc Lễ và đến ngày đó dân chúng cả nước đều được phép nghỉ để tổ chức lễ theo phong tục của họ. Chúng ta đối với ngày lễ này cho là hành động mê tín dị đoan, nhưng đối với người Mỹ, ngày lễ này là một ý nghĩa trọng đại nhất và mỗi năm cần phải đợc tổ chức linh đình không cho mất gốc. Còn ngày Lễ Tổ Tiên Ông Bà của chúng ta chính là ngày cao cả không kém của Giòng Họ Tông Môn, nhưng một số người khinh thường cho việc làm đó là hành động mê tín dị đoan thiếu Văn Minh tiến bộ rồi cho nó đi vào quên lãng. Thật là một tội lỗi nặng nề. Mỗi quốc gia đều có nền Văn Hóa riêng của họ và Văn Hóa đó được họ tìm mọi cách đề cao tuyệt đối tột đỉnh. Chúng ta cũng có nền Văn Hóa riêng của Dân Tộc ta. Chúng ta cũng phải có bổn phận phát huy nền Văn Hóa của Tổ Tiên đợc sáng tỏ thêm hơn là đi bôi bác và chà đạp lên nó để đắc tội với Tiền Nhân.

b. Chúng ta thờ Tổ Tiên là để tri ân và báo ân các bậc Cha Ông đã dày công sanh trưởng cuộc đời mình. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc kiến tạo xã hội và giòng họ. Chúng ta thờ Tổ Quốc là để ghi ân và noi gương các bậc anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho sự sống còn của giống nòi. Chúng ta thờ Phật là để quy ngưỡng hướng về các bậc đã giác ngộ và giải thoát, nhờ các Ngài dẫn dắt chúng ta và chúng sanh vững vàng đi trên con đường Thánh Thiện. Bàn thờ Ông Bà không được thiết lập làm biểu tượng thì con cháu không biết nương vào đâu để thể hiện lòng hiếu thảo đối với Tổ Tiên và bàn thờ Phật không được an vị trang nghiêm thì đệ tử cũng chẳng biết nương tựa vào nơi nào để bộc lộ lòng tôn kính đối với bậc Thầy chứng ngộ. Khác nào trên mộ không có đặt vòng hoa tưởng niệm thì những người còn sống làm sao tỏ bày được lòng tri ân đến những kẻ đã hy sinh vì đại nghĩa. Con ngời cần phải có điểm tựa để an tâm, mặc dù điểm tựa đó bằng bất cứ hình thức nào.

Chúng ta chưa phải là Thánh Nhân thì nghi lễ, cung cách Thờ Cúng và Lễ Bái rất cần thiết cho việc tu thân, giáo dục gia đình và hướng dẫn con người làm tròn bổn phận trong xã hội loài người, nhất là con người ở vào thời đại văn minh. Như vậy Thờ thế nào cho đúng nghĩa?



A. Ý NGHĨA THỜ:

Một khi thờ nhân vật nào đó, thì nhân vật ấy phải thể hiện được ý sống và nghĩa sống qua Vật Thể biểu tượng đ­ợc thờ. Một Vật Thể biểu tượng cho Nhân Vật được tôn thờ phải thể hiện giá trị tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm. Một Vật Thể biểu tượng tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm sẽ trở thành Vật Linh, làm môi trường giao cảm giữa người thờ và Nhân Vật được tôn thờ. Thế nào là Tâm ân Sắc và Sắc ấn Tâm;



a. TÂM ẤN SẮC:

1. Tâm: tiếng Phạn là Citta nghĩa là Tâm linh của mỗi con người. Tâm linh này vẫn hiện hữu trong con người khi xa lìa tất cả đối tượng và có khả năng xét nghiệm tư duy để quyết định mọi việc. Nói một cách khác, Tâm con người vẫn sinh hoạt suy tư trong khi tất cả đối tượng không còn hiện hữu. Trước mặt, Tâm là danh từ chung gồm Tâm Vương và Tâm Sở, là những Tâm Pháp quan hệ tương đối với Sắc Pháp. Tâm ở đây tương đương với bốn Uẩn là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Tâm này là chỉ cho Tâm Vương một trong năm Vị (Năm Vị là: Tâm Pháp, Sắc Pháp, Tâm Sở Pháp, Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp, Vô Vi Pháp).

Theo Đại Thừa Duy Thức Tông, Tâm đây chính là Tâm Thức Alaya. Tâm Thức Alaya là thể căn bản có khả năng sanh ra vạn pháp. Tâm Thức Alaya ngoài việc sanh ra vạn pháp, còn có khả năng sanh khởi Tâm Ý (Thức Mạt Na) để chấp trì vạn pháp và sanh khởi Tâm Thức Phân Ly (Ý Thức) để phân biệt vạn pháp. Tâm đây còn có nghĩa là Tinh yếu.

2. Ấn: là in vào, chứng nhận, tức là tiêu biểu hiển bày cái Đức chỗ chứng đắc nội Tâm của chư Phật. ấn còn có nghĩa là quyết định. Nhưng Ấn ở đây nghĩa là dùng Tâm in sâu vào vật nào đó và khiến cho vật đó trở thành Vật Linh (đồ vật được thể hiện sự linh cảm) biểu hiện được Phật Tâm linh cảm.

3. Tâm Ấn: theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 3 và Đại Nhật Kinh Sớ Diễn Áo Sao quyển 2 giải thích rằng: “Tâm Ấn là nơi tự thân thực hiện được tất cả Phật Tâm tác dụng”, nghĩa là khiến cho tất cả Phật Tâm sinh hoạt. Theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 5, Mục Bất Động Minh Vương giải thích: “Tâm Ấn là biểu thị vạn Đức ở trong Tâm”.

Như vậy Tâm Ấn nghĩa là Tâm biểu thị vạn Đức và khiến cho Phật Tâm tác dụng chứng đắc cho Hành giả khải thỉnh.

4. Sắc: là sắc chất, tức là chỉ cho một vật nào đó hoàn toàn thuộc về vật thể được dùng làm biểu tượng để tôn thờ, như là Hình Giấy, Tượng Cốt, Ấn Dấu, Pháp Khí, Đồ Hình, lá Bùa, khăn Ấn v.v... đều là Sắc Chất. ẤN: là in sâu, tức là dùng Tâm in sâu vào vật nào đó và khiến cho nó trở thành Vật linh (đồ vật được linh cảm).

5. Tâm Ấn Sắc: nghĩa là Tâm Linh của con người in sâu vào một vật nào và khiến cho vật đó trở thành có giá trị đợc gọi là Tâm Ấn Sắc. Vật đó được Tâm Linh con người ấn vào gọi là Vật Thể, vì nó là một Vật Linh. Vật Linh là một Vật Thể biểu tượng có tánh cách linh cảm đối với con ngời.

Thí dụ: Một em bé đem Tâm ấn vào cái gối nằm (Pillow) của em thì cái gối nằm đó trở thành vật linh đối với em. Em quí gối nằm nói trên như quí thân mạng của em. Gối nằm nói trên nếu như mất đi thì em đòi cha mẹ phải tìm cho được, mặc dù em đã trưởng thành và cái gối nằm kia đã rách nát. Một lá thơ của bà con ở Việt Nam gởi là một Vật Linh, nguyên vì bà con đã Ấn Tâm vào đó. Một Danh Thiếp (Card) chúc tết là một Vật Linh, nguyên vì người chúc tụng đã Ấn Tâm vào đấy.



b. SẮC ẤN TÂM:

Sắc Ấn Tâm: nghĩa là một Vật Thể nào được in sâu vào trong Tâm Linh của con người và hình bóng Vật Thể đó làm khởi điểm trợ duyên cho Tâm Linh con người tác dụng giao cảm bằng cách nhớ nhung, hồi tưởng, tưởng niệm gọi là Sắc Ấn Tâm.

Thí dụ: Anh A nhớ quê hương, nhớ Ông Bà nhà cửa, nhớ bà con thân thuộc, nhớ bạn bè làng xóm, nhớ những hình ảnh kỷ niệm của tuổi học trò, nhớ những quá trình kinh nghiệm sống của mình v.v... Những hình ảnh nhớ nhung nói trên được gọi là Sắc Ấn Tâm.

Cũng từ tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm vừa trình bày, người có tín ngưỡng phát tâm thờ Phật hoặc thờ Ông Bà trong nhà thường rước Thầy đến làm lễ an vị hầu giúp cho bàn thờ Phật hay bàn thờ Ông Bà trở thành Vật Linh để làm biểu tượng (Symbolizes) cho sự cầu nguyện. Bàn thờ Phật hay bàn thờ Ông Bà sau khi làm lễ an vị thì đã thể hiện được ý sống và nghĩa sống giữa chư Phật, chư Bồ Tát cùng với Tín Đồ, cũng như giữa Tổ Tiên Ông Bà cùng với con cháu. Tâm Linh của chư Phật, chư Bồ Tát liền cảm ứng với Tâm Linh của Tín Đồ, cũng như Tâm Linh của Tổ Tiên ông Bà liền giao tình với Tâm Linh của con cháu qua tầng số từ trường (Magnetic-field) ý sống và nghĩa sống được phát xuất từ Vật Thể biểu tượng nơi bàn thờ qua sự nguyện cầu.

Trường hợp này cũng giống như Tấm Thiệp chúc Tết là một Vật Thể biểu tượng ý sống và nghĩa sống tình cảm của Tâm Linh người chúc tụng với Tâm Linh người được chúc tụng. Tấm Thiệp chúc Tết sau khi mua về được ng­ười chúc tụng Ấn Tâm vào đấy bằng cách thành tâm viết vài chữ cầu chúc trong đó hến trở thành Vật Linh, nghĩa là tấm Thiệp chúc tết này đã có chứa đựng ý sống của người chúc tụng. Người được chúc tụng sau khi tiếp nhận tấm Thiệp chúc Tết nói trên của bạn gởi, liền phát khởi Tâm Linh giao cảm nghĩa sống truyền đến ng­ười bạn chúc tụng qua từ trường (Magnetic-field) ý sống của Vật Thể (Tấm Thiệp). Tấm Thiệp chúc Tết trợ duyên này đóng vai trò vật đới chất (vật dùng làm chỗ nương tựa) cho Tâm Linh của hai người giao cảm ý sống và nghĩa sống với nhau. Duy Thức Học có dạy: “Dĩ Tâm Duyên Tâm Chân Đới Chất” là ý nghĩa của đoạn văn nói trên. Câu “Dĩ Tâm Duyên Tâm Chân Đới Chất” nghĩa là đem tâm mình duyên với tâm người qua sự nương tựa nơi Vật Thể làm khởi điểm giao cảm một cách chân thành. Bàn thờ Ông Bà nếu như không có để làm chỗ trợ duyên đới chất thì nhất định Tâm Linh của Tổ Tiên không thể giao cảm với Tâm Linh của con cháu, cũng như Tấm Thiệp chúc Tết nếu như không có đại diện thì Tâm Linh người chúc tụng không thể giao cảm đến với ngời được chúc tụng. Bàn thờ Phật cũng thế. Người Tín Đồ cầu nguyện, nếu không có bàn thờ Phật để làm biểu tượng trợ duyên thì sự linh thiêng của chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền trong mười phương khó có thể cảm ứng đến với người cầu nguyện.

Nhưng ở đây, một cành hoa giấy và một cành hoa sống thì cành hoa giấy chỉ có giá trị trang trí bàn thờ cho thêm sắc sảo so với một cành hoa sống. Một cành hoa sống, ngoài nhiệm vụ tô điểm làm đẹp bàn thờ lại còn có giá trị thể hiện được ý sống và nghĩa sống một cách trọn vẹn so với bông hoa giấy. Nguyên vì cành hoa tươi tự nó có từ trường (Magnetic-field) sức sống tỏa ra, trong lúc đó cành hoa giấy chỉ là một loại hoa chết. Một đôi đèn nến có giá trị hơn đôi đèn điện. Đôi đến nến, ngoài sự tiêu biểu cho ánh sáng, còn nói lên được ý sống và nghĩa sống của một Vật Thể. Đôi đèn nến biểu tượng được ý sống và nghĩa sống của một Vật Thể qua sự biến thuyên liên tục không ngừng. Nhờ sự biến thuyên liên tục không ngừng mà Vật Thể mới sống còn tồn tại. Nhưng cũng vì sự biến thuyên liên tục không ngừng này mà Vật Thể nói trên phải chết đi để chuyển sang một Vật Thể khác qua ý sống và nghĩa sống của nó kết hợp nối liền. Một Vật Thể nếu như không có ý sống và nghĩa sống tức là Vật Thể đó đã chết. Dòng nước chảy là dòng nước sống và dòng nước không chảy chính là dòng nước đã chết. Dòng nước đã chết thì không thể hiện được ý sống và nghĩa sống của dòng nước.

Như vậy trên bàn thờ, chúng ta không thể không đốt hương, đốt đèn, cắm hoa tươi v.v... là những Vật Thể biểu tượng được ý sống và nghĩa sống, làm tăng thêm sự uy nghiêm, tôn kính, linh động đối với chư Phật, chư Tổ, Thánh Hiền hoặc đối với Tổ Tiên Ông Bà qua sự linh ứng biểu trưng này. Trên bàn thờ, những Hình Tượng, những nén hương, những đôi nến, những cành hoa tươi v.v... đều là những gạch nối giao cảm quan trọng giữa Tâm Linh của Ôg Bà Tổ Tiên, của chư Phật mười phương cùng với Tâm Linh của Môn Đồ Đệ Tử và của con cháu họ hàng. Nh vậy, Thờ thế nào cho phải cách?



B. CÁCH THỜ:

Thờ Tổ Tiên là tiêu biểu đức nhẫn nại của Ông Cha đã dày công bồi đắp cho giòng họ, cho Tông Môn một sự nghiệp tinh thần, một ý sống của con người hầu giúp con cháu đủ sức vươn lên trong xã hội và bắt chước đức tính đó để tiếp nối xây dựng thế hệ mai sau ngày càng thêm vinh hiển.

Thờ Tổ Quốc là tiêu biểu gương cao quý của các bậc Tiền Nhân đã hy sinh xương máu để tài bồi Giang Sơn Cẩm Tú của chúng ta trường tồn và noi theo gương sáng đó để bảo vệ giống nòi, phồn vinh đất nước và xây dựng một cuộc sống thanh bình an lạc thật sự cho Dân Tộc, dĩ nhiên trong đó có con cháu của mình.

Thờ Phật là tiêu biểu cho Trí Tuệ Giác Ngộ, cho Đức Hạnh Từ Bi, cho ý chí Dũng Mãnh của chư Phật mà chúng ta nương theo những gương cao quý này để đào luyện cho mình đầy đủ sáng suốt, đầy đủ tình thương và đầy đủ nghị lực giống như các đức Như Lai, ngõ hầu đả thông trước mọi vấn đề mê ngộ, chân giả, để khỏi bị lầm lạc và nhận thức được chân giá trị của cuộc đời, giải thoát mọi khổ đau sanh tử luân hồi. Đó là chân nghĩa của cách thờ tự mà chúng ta đã và đang theo đuổi thực hiện.



C. CHỖ THỜ:

Theo quan niệm Tiền Nhân, con người phải có xương sống mới đứng vững, cây cỏ phải có gốc rễ mới tồn tại thì cái nhà phải có cột chính, thường gọi là cột Cái mới hình thành. Cột chính bao giờ cũng ở giữa gọi là “Trung” để gánh vác hai mái nhà và cột hai bên gọi là cột Con, cũng gọi là cột Biên chỉ đóng vai trò phụ đỡ hai mái nhà yên đứng. Đây là nói về phương diện hình thức tổ chức. Còn về phương diện tiêu biểu, cột chính gọi là cột Trụ của cái nhà, cũng như Tổ Tiên Ông Bà cha mẹ là cột Trụ của gia đình giòng họ, có nhiệm vụ gánh vác cả sự nghiệp của Tiền Nhân và bảo tồn sự sống còn của con cháu từ khi sanh ra cho đến khi thành nhân. Thế nên người xưa, trong ba căn nhà, họ chọn căn giữa là căn Chính của cái nhà để thờ Tổ Tiên Ông Bà. Lớn hơn nữa, mỗi giòng họ như họ Trần, họ Nguyễn, họ Lê v.v... phải có nhà thờ Họ, được thiết lập riêng trong làng Họ của mình để cùng nhau thờ tự. Giả sử một gia đình nghèo khó đến mấy đi chăng nữa, dù chỉ có túp lều tranh, họ cũng chọn chỗ nào chính giữa của túp lều ấy để trang trí bàn thờ Tổ Tiên.

Ngày nay theo quan niệm Tây phương, họ cho chỗ chính của cái nhà là phòng khách, vì họ không chủ trương thờ Ông Bà. Họ sống theo chủ nghĩa cá nhân, chỉ biết lấy mình mà thôi, ngoài ra không cần thiết đến ai cả, nhất là những người thân thuộc về quá khứ, cho đến tông môn của họ cũng thế.

Chúng ta là người Á Châu, ý thức được huyết thống giống nòi, nhận chân được sự liên quan chặt chẽ hệ thống Tâm Linh trong quá trình chuyển hóa luân lưu, nhất định phải có bàn thờ Ông Bà trong nhà để làm điểm tựa tinh thần, mặc dù bàn thờ đó lớn hay nhỏ tùy theo hoàn cảnh của mỗi người. Ở nước ngoài, khi nhu cầu đời sống còn thiếu thốn, chúng ta khó chọn chỗ thờ tự đúng theo ý mình muốn. Đạo Phật chú trọng tinh thần hơn hình thức. Chúng ta thờ tự như thế nào cũng được miễn sao chỗ thờ đó thể hiện được lòng thành của mình đối với các Đấng Thiêng Liêng và những Bậc trên trước.

D. GIÁ TRỊ NƠI THỜ:

Chúng ta thờ tự đức Phật hay Tổ Tiên Ông Bà bằng cách nào đi chăng nữa cũng phải nói lên được giá trị thiêng liêng nơi thờ. Theo Phật Giáo chúng ta có thể đặt bàn thờ bất cứ nơi nào trong nhà, nhưng với điều kiện vị trí chỗ thờ phải được thanh tịnh và bàn thờ phải được thiết trí trang nghiêm, có thể gợi lên cho con cháu một ấn t­ượng Tôn Kính mỗi khi chiêm ngưỡng. Chúng ta đừng quan niệm rằng, bàn thờ như kệ đựng sách, như bàn đựng r­ượu v.v... bỏ lên trên đó đủ thứ tạp nhạp để phải đắc tội với các bậc Thiêng Liêng. Chúng ta có một bàn thờ rất sang trọng lộng lẫy, nhưng cứ để hương tàn khói lạnh thì càng thêm có tội với Người Trên. Chi bằng chúng ta chỉ có một bàn thờ đơn giản, nhưng được thiết trí trang nghiêm thanh tịnh và được con cháu tới lui thăm viếng mỗi ngày cũng đủ nói lên bổn phận làm người và giá trị nơi thờ. Chúng ta hằng ngày phải có nhiệm vụ chăm sóc bàn thờ cũng như chăm sóc phòng khách, và coi trọng bàn thờ như trọng bản thân, đừng tỏ thái độ khinh thường nơi thờ tự và mỗi khi chiêm bái.

Để xác định một lần nữa, thờ tự không phải là một hành động mê tín dị đoan mà là Truyền Thống Văn Hóa và Tín Ngưỡng của Dân Tộc, chúng ta không thể quên được sự nghiệp của nguồn gốc Văn Hóa Đông Phương. Đó chính là một trong những biểu tượng văn minh của người Á Đông mà các nước Tây phương khó có thể tìm được giá trị Tâm Linh ấy trong cuộc sống xã hội con người.

Người Phật Tử chúng ta đã hiểu được ý nghĩa, giá trị và phương cách thờ tự theo quan niệm Phật Giáo, hãy cố gắng giữ gìn Truyền Thống và thực hiện cho kỳ được việc Thờ Tự tại gia cho chu đáo, vừa lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân, cải thiện hoàn cảnh và giáo dục con em sau này trờ nên Thiện Mỹ để xứng đáng là người Phật Tử trong hoàn cảnh hiện tại giữa thời đại hiện kim này.
Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: . VẤN ĐỀ CÚNG:   Mon Apr 04, 2011 9:46 pm


II. VẤN ĐỀ CÚNG:

Vấn đề Cúng là một nghi vấn không ít trong quảng đại quần chúng và cũng có lắm người hành động sai lệch, thành thử vô tình làm mất giá trị của sự Cúng Bái. Không gia đình Á Châu nào mà không có Cúng kỵ Tổ Tiên và cũng không Quốc Gia nào mà không có Quốc Lễ, nhưng không được bao nhiêu người hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của sự Cúng Bái. Theo Phật Giáo, Cúng Bái có những ý nghĩa và giá trị như sau:

A. Ý NGHĨA CỦA SỰ CÚNG:

Cúng gọi đủ là “Cúng Dường”, đó là danh từ của Phật Giáo. Danh từ này được chuyển ngữ từ hai chữ “Cung D­ưỡng” của tiếng Trung Hoa. Trước hết chúng ta cần hiểu hai danh từ: Cung Dưỡng và Cúng Dường.

a. Cung Dưỡng: nghĩa là cung cấp và phụng dưỡng, tức là cung ứng theo sự nhu cầu về vật chất của những kẻ thiếu thốn và nuôi dưỡng khi họ đói cơm rách áo v.v... Sự Cung Dưỡng ở đây có tánh cách bố thí với tình th­ương được mở rộng, giúp đỡ những phương tiện cần thiết về đời sống cho những kẻ đang cần sự hỗ trợ qua tinh thần vị tha của những người dư thừa.

b. Cúng Dường: (Tiếng Phạm là: Pùjana) nghĩa là hiến cúng và dâng lễ, tức là dâng hiến những lễ vật lên các bậc tôn kính, mong cầu ơn trên chứng minh. Cúng Dường ở đây có tánh cách chí thành, quy ngưỡng, tưởng niệm đến các Tiền Nhân, các bậc Thánh Đức thâm ân mà kẻ dưới có bổn phận tri ân và báo ân.

B. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CUNG DƯỠNG Và CÚNG DƯỜNG:

a. Cung Dưỡng: nghĩa là phụng dưỡng, chăm sóc những người hiện đang sống trên đời với tình thương sẵn có mà bổn phận làm người cần phải trang trải trong sự quan hệ sanh tồn lẫn nhau, như phụng dưỡng cha mẹ, anh chị em, phụng dưỡng đồng bào ruột thịt v.v...

Còn đối với những kẻ đã quá cố, tức là những người đã chết mất, chúng ta không dùng hai chữ “Cung Dưỡng” trong sự tế lễ để khiến mất đi lòng Tôn Kính ở đây chúng ta dùng hai chữ “CÚNG TẾ” nhằm để thể hiện lòng thành đến với họ trong sự Lễ Nghi cung cách. Cúng Tế nghĩa là đem lễ vật hiến cúng theo lễ nghi tế tự, như cúng tế tổ tiên ông bà, cúng tế Thần Thánh v.v...

b. Cúng Dường: nghĩa là tưởng niệm đến những bậc thâm ân, những Thầy chỉ đạo mà mình đã tri ân, đã quy ng­ưỡng với hành động Tôn Kính. Chúng ta không chỉ “Cúng Dường” cho những người hiện đang còn sống mà còn “Cúng Dường” đến cho những bậc đã quá vãng, đã qua đời. Hơn nữa, trong Phật Giáo còn gọi là Cúng Dường Tam Bảo (Cúng dường Phật, Pháp, Tăng), cúng dường Thầy Tổ, cúng dường Trai Tăng v.v...

C. GIÁ TRỊ VÀ QUAN NIỆM SỰ CÚNG:

Người Việt Nam phần đông ít ai thông suốt ý nghĩa và giá trị của sự Cúng Bái. Họ chỉ biết hành động theo tập tục cổ truyền của Ông Bà để lại mà bổn phận con cháu phải giữ gìn Gia Bảo tinh thần ấy. Đó là một điều rất tốt nhưng cũng rất tai hại cho những con cháu thiếu đức tin. Vì không hiểu ý nghĩa Cúng Bái, người kế thừa Gia Bảo Tổ Tiên không giải thích được cụ thể cho con cháu lãnh hội và còn làm lệch lạc giá trị cao quý của Truyền Thống Văn Hóa. Hơn nữa, một khi gặp phải kẻ khác xuyên tạc, họ lại xem thường và thiếu tâm thành trong sự Cúng Bái là hành động mê tín dị đoan.

Con người mỗi khi làm điều gì bị bắt buộc nếu như không hiểu ý nghĩa về việc mình đang làm thì xem như bị một hình phạt đau khổ rất lớn. Nhất là đối với những kẻ có học thức, có trình độ Văn Hóa cao, họ đòi hỏi phải hiểu tư­ờng tận và cụ thể những sự việc mà họ phải làm. Không ai có thể bắt buộc họ làm những việc mà họ không hiểu. Đúng ra, họ rất muốn học hỏi và tìm hiểu tất cả những gì có tánh cách Tín Ngưỡng và Văn Hóa, nhưng không đư­ợc ai giải thích vấn đề cho rõ ràng và thực tế. Nguyên do kẻ trên trước đã không hiểu Văn Hóa và Tín Ngưỡng thì đâu thể nào giải thích cho hậu lai được thông suốt. Cũng từ đấy, một số người lầm lạc khinh thường sự Cúng Bái và tỏ thái độ thiếu Lễ Nghi cung cách với bề Trên mà thật ra họ rất cần đến sự giao cảm giữa Tâm Linh của họ với Tâm Linh của các bậc Tiền Nhân qua sự nguyện cầu. Vì lẽ không hiểu, đôi khi họ mượn duyên cớ Cúng Bái làm bình phong nhằm mục đích họp bạn ăn uống vui chơi hơn là tưởng niệm để tri ân và báo ân. Họ không thể nào tin được có Ông Bà hay Thần Thánh đến hưởng đồ Cúng Bái. Giả sử trong khi Cúng Bái, con cháu nhìn thấy được Ông Bà hay Thần Thánh hiện nguyên hình đến ăn uống giống như người sống thì lúc đó họ sẽ đau khổ cực độ vì quá hoảng sợ mà con cháu lại tưởng ma quỷ hiện và sẽ đốt nhà bỏ đi nơi khác. Nguyên do Ông Bà hay Thần Thánh không còn hình tướng giống như người sống bình thường nữa.

Trên thực tế, có những hiện tượng mà chúng ta bất lực trên lãnh vực quan sát. Chúng ta chỉ hiểu biết những hiện tượng đó trên bình diện giả thuyết để tìm đáp số cho đức tin. Chúng ta không thể nào nhìn thấy điện thể trong không gian bằng sự quan sát. Chúng ta chỉ nhìn thấy điện trên lãnh vực tác dụng. Nhưng điện tác dụng không phải là điện thể mặc dù điện tác dụng được phát sanh từ điện thể trong không gian. Hơn nữa chúng ta chỉ nhìn thấy sự vật bên ngoài bằng Ảnh Tử (Cause’s Images of Illusions) ảo giác méo mó và không thể nào nhìn thấy mọi vật đúng với giá trị và ý nghĩa của nó, nếu như không đặt quan niệm thương ghét vào. Giả như chúng ta nhìn sự vật trên quan niệm thương ghét thì thấy vạn pháp càng méo mó hơn. Chúng ta làm sao cụ thể hóa được toàn diện về phần vật lý những thế giới siêu hình theo sự mong muốn. Khác nào chúng ta nếu như có thể thì cũng chỉ hiểu biết được những chúng sanh hiện hữu trong phạm vi Thái Dương Hệ (Solar- Systems) này mà thôi và ngược lại không thể nào biết được những chúng sanh hiện hữu trong các Thái Dương Hệ khác ngoài Thế Giới chúng ta đang sống. Tại sao thế? Nguyên do chúng ta là con người hiện đang sống trong Thế Giới gọi là Ngoại Giới có hiện tướng (Thế Giới hiện hình tướng ra bên ngoài) hoàn toàn lệ thuộc vật chất thì không thể nào thấy được chúng sanh đã và đang sinh hoạt trong những Thế Giới có tánh cách Nội Giới không hiện tướng. Chúng sanh trong những Thế Giới Nội Giới không hiện tướng đều được xây dựng nên bởi Tâm Thức và chúng nó thì không bao giờ bị lệ thuộc chút nào về vật chất cả, mặc dù những Thế Giới Nội Giới vô hình này và những Thế Giới Ngoại Giới hữu hình kia rất tương quan chặt chẽ với nhau trong sự duyên sanh. Những Thế Giới Nội Giới vô hình kia nếu như không có thực chất để làm Nhân thì những Thế Giới Ngoại Giới hữu hình này nhất định không thể thành lập để làm Quả. Trường hợp đây cũng giống như Điện Thể không gian ở trạng thái không hình tướng (Trạng thái không có hiện tướng) nếu như không thật chất để làm Nhân thì Điện Dụng (Điện đã tác dụng) sấm chớp ở trạng thái có hình tướng (Trạng thái có hiện tướng) nhất định không thể phát sanh để làm Quả. Thể và Dụng, Nhân và Quả là hai trạng thái rất quan hệ với nhau một cách chặt chẽ không thể tách rời trong chiều h­ướng duyên sanh để thành hình vạn pháp. Chúng ta chỉ biết được vạn pháp từ nơi thành Quả, từ nơi tác dụng hiện tướng và ngược lại chúng ta không thể nào quan sát được vạn pháp ở trạng thái Nguyên Nhân cũng như ở trạng thái Thể Tĩnh không hiện tượng. Hơn nữa, con người nhìn thấy vạn pháp qua Nhãn Quang (Lenz-lights) chiếu soi. Nhãn Quang nếu như không chiếu soi thì con người không thể nhìn thấy vạn pháp. Nhưng Nhãn Quang lại bị ảnh hưởng nơi Nhãn Căn (Giác quan con mắt) cho nên chiếu soi không được tinh nhuệ. Trường hợp này cũng giống như dòng điện bị ảnh hưởng bóng đèn nên phát ra ánh sáng không được đúng độ. Vã lại, Nhãn Quang bị ràng buộc quá nhiều bởi ánh sáng mặt trời. Do đó con người không thể nhìn thấy rõ sự vật về đêm. Ngược lại, một số loài động vật như con mèo, con chó v.v... cũng nhìn thấy vạn pháp qua Nhãn Quang của chúng. Nhưng Nhãn Quang của những loài động vật nói trên không lệ thuộc bởi ánh sáng mặt trời và cũng như không bị ngăn cách bởi bóng đêm. Cho nên chúng nó có thể nhìn thấy những hiện tượng vô hình cả ngày lẫn đêm mà loài người không thể nào biết được. Nguyên do Nhãn Quang của loài người không phải là Nhãn Quang của các loài vật kia. Khác nào ánh sáng của mặt trời không phải là ánh sáng của mặt trăng. Như ánh sáng mặt trời soi vào nhà, chúng ta mới thấy được vô số vi trần bay khắp nhà xuyên qua ánh sáng. Trái lại, chúng ta nếu như không có ánh sáng mặt trời chiếu soi thì không thể nào thấy được những vi trần nói trên hiện đang bay lượn trong không gian. Như vậy, chúng ta mặc dù không nhìn thấy các chúng sanh của những Thế Giới Nội Giới ở trạng thái vô hình, nhưng đừng vội cho là chúng nó không có mặt trong vũ trụ bao la.

Vũ trụ bao la có nhiều Thế Giới thì tất nhiên cũng có nhiều loại không sanh hiện đang sinh hoạt trong đó. Các nhà Khoa Học chưa khám phá được chúng, nhất là chưa biết được chút nào về lãnh vực siêu hình. Các nhà Khoa Học chỉ biết lẩn quẩn trong Thái Dương Hệ (Solar-system) có vật chất này mà thôi và cũng chưa biết rõ tất cả Hành Tinh hiện có mặt trong không gian. Trong không gian bao la, Thế Giới này được kết hợp bởi những nguyên liệu không giống nhau như những Thế Giới khác, thành thử chúng sanh ớ Thế Giới này không thể sinh hoạt nơi những Thế Giới khác và hình tướg của họ cũng không giống nhau với các Thế Giới khác. Tương tợ như khối nước chính là Thế Giới của loài cá và không khí chính là Thế Giới loài ngời. Khối nước và không khí khác nhau cho nên loài người không phải là loài cá. Vì thế loài cá không thể sống trong Thế Giới của loài người và ngược lại, loài ng­ười cũng không thể sống được dưới nước giống như loài cá sinh hoạt.

Theo Phật Giáo, vũ trụ bao la có hằng hà sa số Thế Giới, nghĩa là Thế Giới nhiều như hạt cát của sông Hằng (sông Gange), trong đó chúng rất quan hệ từng loại với nhau, đức Phật phân chia chúng thành ra ba nhóm khác nhau theo sự quan hệ nói trên. Ba nhóm Thế giới gồm có: Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới.

1 Dục Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó đều do ái dục cực thịnh tạo thành. Những Thế Giới này gồm có: Thế Giới loài người, Thế Giới Địa Ngục, Thế Giới Ngạ Quỷ và Thế Giới Bàng Sanh (Súc Sanh).

2. Sắc Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó cũng do ái dục và dục tưởng kết hợp sắc chất tạo thành. sắc Chất ở đây thuộc thanh khí của Sắc Ấm một trong năm ấm tạo thành Thân Thể và Thế Giới của Sắc Giới. Sắc Chất này không phải Trược Khí của Sắc Uẩn, một trong Năm Uẩn tạo thành Thân Thể vâ Thế Giới của Dục Giới. Sắc Uẩn thì nhơ nhớp tanh hôi. Còn Sắc Ấm thì trong suốt giống như chất pha lê.

3. Vô Sắc Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó chỉ do Nghiệp Thức kết thành Thân Thể và Thế Giới. Những Thế Giới này muốn thấy được phải nhờ đến Phật Nhãn mới quán thông. Mắt thịt của chúng ta không thể nào biết được họ sinh hoạt trong những Thế Giới này.

Loài người còn không thể thấy được sự sinh hoạt, cách ăn uống của các chúng sanh trong những Thế Giới Địa Ngục, Ngạ Quỷ và A Tu La v.v. . . thuộc về cõi Dục thì làm sao biết được những chúng sanh trong các cõi Vô Sắc.

Hiện tượng trong thế gian cho chúng ta nhận thức rằng, con người sinh hoạt thường lệ thuộc quá nhiều nơi ánh sáng mặt trời cũng như ánh sáng đèn cho nên không thể biết được những gì thuộc về bóng đêm, nghĩa là con người muốn nhìn thấy được sự vật phải nhờ đến ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn chiếu soi. Ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn nếu như không soi sáng thì con ngời không thể nhìn thấy được những sự vật của bóng đêm mặc dù những sự vật của bóng đêm vẫn hiện có mặt trong thế gian. Ngược lại, những chúng sanh bị lệ thuộc bóng đêm thì không thể biết được những gì của ánh sáng ban ngày, nghĩa là chúng nó chỉ nhìn thấy được những sự vật thuộc về ban đêm. Như con chim vạc, con rắn lục, con chim quốc v. v... chỉ nhìn thấy được những sự vật của bóng tối thuộc về ban đêm và chúng nó không thể nhìn thấy được những sự vật của ánh sáng thuộc về ban ngày giống như con người. Còn những chúng sanh không bị lệ thuộc bởi ánh sáng mặt trời cũng như không bị lệ thuộc bởi bóng tối thì có thể nhìn thấy những sự vật của ban ngày và những sự vật của ban đêm. Như con mèo, con chó v.v... có thể nhìn thấy những sự vật cả ngày lẫn đêm không bị ngăn cách, nghĩa là bóng tối và ánh sáng mặt trời không trở ngại cho sự sinh hoạt của chúng. Trường hợp này cũng tương tợ như loài cá sống trên đất liền thì bị chết khô và loài người sống dưới nớc thì bị chết ngạt. Ngược lại loài rùa thì sống trên bờ hay sống dưới nước đều không bị trở ngại. Sự ăn uống của những chúng sanh trong các cõi khác cũng thế.

Chúng sanh đã có sự sống thì nhất định phải có sự hưởng thụ, nghĩa là họ phải có sự ăn uống và sinh hoạt để tồn tại. Nhưng sự ăn uống của họ không giống như sự ăn uống của loài người. Sự ăn uống của họ tùy theo nghiệp quyết định.

Thí dụ: Cùng một loại Thủy Tộc chuyên sống dưới nước như nhau,có giống thích ăn thịt như là Cá Mập, có giống chuyên ăn nhớt như là Cá Nược và có giống chỉ biết ăn rong


xxxxxxxxxxx

D. VẤN ĐỀ ĂN:

Ăn, tiếng Trung Hoa gọi là Thực, tiếng phạn và tiếng Pali gọi chung là ÀHÀRA, nghĩa là duy trì và nuôi dưỡng Thân Thể xác thịt của chúng sanh hoặc Pháp Thân của các Thánh Nhân để hình thái được tồn tại, để tinh thần được nẩy nở và phát triển lâu bền. Trong ba cõi, những thực vật để nuôi lớn Thân Thể xác thịt thì gọi là món ăn của thế gian. Còn những thực vật dể nuôi lớn Pháp Thân Trí Tuệ Giác Ngộ thì gọi là món ăn của xuất thế gian. Thế Gian ăn có bốn cách và Xuất Thế Gian ăn có năm cách. Bốn cách ăn của Thế Gian cộng với năm cách ăn của Xuất Thế Gian gọi chung là chín cách ăn. Trước hết chúng ta tìm hiểu bốn cách ăn của Thế Gian. Bốn cách ăn này được Kinh Tăng Nhứt A Hàm quyển 41 giải thích như sau:

Tứ Thực: (Nghĩa là bốn cách ăn của thế gian tiếng Phạn là Catvàra-àhàràh, hoặc Ahàracatuska. Tiếng Pali là Cattàro- àhàra). Bốn cách ăn này nhằm mục đích nuôi lớn Sắc Thân sanh tử trong thế gian. Bốn cách ăn của Thế Gian gồm có: Đoạn Thực, Xúc Thực, Tư Thực và Thức Thực. Hình thức bốn cách ăn được giải thích như sau:

1. ĐOẠN THỰC: (Tiếng Phạn là: Kavadim=Kàràhàra, Kavlì-kàràhàra. Tiếng Pali là: Kabalinkàràhàra). Đoạn Thực còn có tên là Đoàn Thực, Kiến Thủ Thực và còn có tên nữa là Tuy Thực. Ý nghĩa của những tên này được giải thích nh sau:

a. Đoạn Thực: nghĩa là chia lương thực ra từng đoạn, từng phần để ăn nên gọi là Đoạn Thực.

b. Đoàn Thực: nghĩa là nắm đồ ăn vo tròn đưa vào miệng để ăn nên gọi là Đoàn Thực. Đây cách ăn của người An Độ thời xưa dùng tay nắm vắt đồ ăn bóc đưa vào miệng.

c. Tuy Thực: nghĩa là vò nát đồ ăn hoặc bẻ ra từng mảnh để ăn nên gọi là Tuy Thực.

d. Kiến Thủ Thực: nghĩa là cầm lấy đồ ăn đưa vào miệng nên gọi là Kiến Thủ Thực. Bốn hình thức ăn vừa giải thích đều nằm trong ý nghĩa của Đoạn Thực được nêu ở trên. Theo Phật Học Đại Từ Điển quyển 4, Trang 3997-3998 Đoạn Thực được giải thích như sau:

ĐOẠN THỰC: nghĩa là ăn uống bằng cách lấy mùi hương, chất vị và tinh thể của xúc trần nơi sắc pháp để tươi nhuận và bổ ích cho các Căn trong thân thể nên gọi là Đoạn Thực. Đoạn Thực có hai phần: Phần Thô và Phần Tế.

a. Phần Thô: (Tiếng Phạm là Odàrika. Tiếng Pali là Olària), nghĩa là thể chất của thực vật phổ thông để ăn được nằm trong cơm, trong miến, trong cá, trong thịt.

b. Phần Tế: (Tiếng Phạm là Sùksma. Tiếng Pali là Sukhuma), nghĩa là các thứ để uống và các mùi thơm như là h­ương, dầu, sinh tô v.v... Nói tóm lại Đoạn Thực nghĩa là ăn bằng cách dùng tay đem đồ ăn đưa vào miệng để nuôi dưỡng Thân Thể, như loài người ăn v.v...

2. XÚC THỰC: (Tiếng Phạm là Spar-sàkàràhàra. Tiếng Pali là phassà- Kàràhàra), cũng gọi là Lạc Thực và Ôn Thực.

a. Xúc Thực: nghĩa là Khí quản cảm giác xuyên qua tinh thần làm chủ thể tức là Tâm tác dụng tiếp xúc ngoại cảnh liền sanh ra cảm giác và ý chí để bồi dưỡng và nuôi lớn Nhục Thân nên gọi là Xúc Thực. Nói cách khác, Xúc Thực nghĩa là ăn bằng cách dùng miệng thay thế tay chân tiếp xúc thẳng lương thực không qua trung gian đưa vào, như cách ăn theo kiểu heo, gà, chó v.v...

b. Lạc Thực: nghĩa là Tâm Sở xúc khi tiếp xúc trực tiếp với cảnh vật đối tượng liền phát sanh hỷ lạc ưa thích để nuôi lớn Nhục Thân nên gọi là Lạc Thực. Như người mê xem hát suốt ngày mà không cảm thấy đói.

c. Ôn Thực: nghĩa là như chim Khổng Tước, chim Anh Vũ v.v... khi sanh Trứng xong, liền đích thân trực tiếp ấp Trứng cho đến khi nào Trứng nở thành con mới thôi. Chúng ấp Trứng nhầm mục đích nuôi dưỡng sức ấm để sanh Lạc Xúc và Trứng nhờ đó mới nẩy nở thành con, nên gọi là Ôn Thực. Con người tắm rửa, mặc áo cũng gọi là Xúc Thực.

Nói tóm lại, căn cứ nơi nghiệp lực của chúng sanh mà nhận xét, Xúc Thực ở đây có nghĩa là ăn bằng cách dùng miệng tiếp xúc thẳng lương thực mà không dùng đến tay chân mang thức ăn vào miệng giống như cách ăn của loài ngời.

3. TƯ THỰC: (Tiếng Phạm là Manah-Samce=Tanàkàràhàra. Tiếng Pali là Mano-Sance=Tanàkàràhàra), cũng gọi là Tác ý Tư Thực (Ý Thực), Niệm Thực (Ý Niệm Thực), Ý Chí Thực, Nghiệp Thực, nghĩa là tác dụng của ý Chí (Tư) mong cầu cho mình được trạng thái tốt đẹp và tồn tại tức là trạng thái sanh tồn được kéo dài nên gọi là Tư Thực. Nói cách khác, Ý Thức thứ sáu đối với cảnh sở duyên liền phát khởi tư tưởng mong muốn và phát sanh Ý Niệm hy vọng các Căn (giác quan) được tiếp tục thêm lớn. Luận Thành Thật cho là “Tư nghiệp hoạt mạng”, nghĩa là do Nguyện Lực của tư tởng khiến cho Mạng Căn sinh hoạt. Còn Đại Thừa Nghĩa Chương, tiết mục Đại 44, trang 620 giải thích rằng: “Do Tư Nghiệp của quá khứ khiến Mạng Căn tiếp nối không dứt, nên gọi là Tư Thực. Như thế, tất cả chúng sanh có sanh mạng đều do tư tưởng ở quá khứ tạo nên, hoặc mang sống của họ đều do tư tưởng hiện tại tạo thành nên gọi là Tư Thực”.

4. THỨC THỰC: (Tiếng Phạm là Vi-jnànàkàràhàra. Tiếng Pali là Vinnànà- kàràhàra), nghĩa là Tâm Thức hữu lậu nư­ơng nhờ nơi Thức Alaya làm thể và ỷ lại vào thế lực của ba cách ăn ở trước để cồ thể tạo tác quả báo cho kiếp sau nhầm mục đích duy trì thân mạng của chúng sanh hữu tình không cho hư hoại, nên gọi là Thức Thực. Chúng sanh hữu tình trong các cõi Vô Sắc và Địa Ngục thường dùng cách ăn này nên gọi là Thức Thực.

Trong bốn cách ăn nói trên, Tâm Thức sinh hoạt một cách linh diệu để duy trì vạn pháp được tồn tại trong thế gian nên gọi là Thức Thực. Xúc Thực Tư Thực và Thức Thực đều thông cả ba cõi, nghĩa là chúng sanh hữu tình trong ba cõi phần nhiều sử dụng ba cách ăn này nên gọi là thông cả ba cõi. Riêng Đoạn Thực chỉ hạn cuộc trong cõi Dục, nghĩa cách ăn này chỉ dành riêng cho các chúng sanh hữu tình trong cõi Dục sử dụng nhiều hơn.

Có thể nói, Thức Thực là cách ăn bằng Tâm Thức và lương thực để cho Tâm Thức sử dụng chính là hương vị của các pháp. Riêng những người bị chết, sau khi bỏ Thân Thể xác thịt hôi tanh liền nương tựa nơi Thân Thể bằng Tâm Thức nên gọi là Thức Thân và cũng gọi là Thân Trung Ấm. Những người mang Thức Thân thì họ ăn bằng cách Thức Thực và lương thực của họ nuôi sống chính là hương vị của những đồ cúng tế mà phần đông những chúng sanh trong các cõi Đia Ngục, Ngạ Quỷ, A Tu La và cõi Trời thuộc Dục Giới đều thọ hưởng.

Như chúng ta đã biết sự ăn uống của chúng sanh hữu tình trong năm cõi (Cõi Trời, cõi Ngời, cõi Địa Ngục, cõi Ngạ Quỷ, cõi Súc Sanh) sở dĩ khác nhau chính là do bởi chúng có nhiều hình thái được sanh ra từ nơi bốn loại không giống nhau (loại sanh ra bằng trứng, loại sanh ra bằng bào thai, loại sanh ra bằng chỗ ẩm thấp và loại sanh ra bằng sự chuyển hóa từ hình tướng này sang hình tướng khác). Do đó so với các bậc Thánh Nhân, bốn loại chúng sanh nói trên đều thuộc hạng phàm phu và chúng ăn uống cũng khác với sự ăn uống của các bậc Siêu Đẳng. Bốn cách ăn này của bốn loại chúng sanh hữu tình trong năm cõi cũng gọi là Bất Tịnh Thực (Cách ăn không trong sạch).

Khác hơn bốn cách ăn của các hàng phàm phu, năm cách ăn của các bậc Thánh Nhân được gọi là Thanh Tịnh Thực (Năm cách ăn rất trong sạch) và cũng gọi là Xuất Thế Gian Thực (Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian). Đây là năm cách ăn của các đức Phật, của các vị Bồ Tát, các vị Duyên Giác và các bậc Thinh Văn th­ường sử dụng. Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian gồm có:

1. Thiển Duyệt Thực: nghĩa là Hành Giả dùng phương pháp Thiền để bố ích Tâm Thần, tức là những vị ấy hưởng đặng cái vui trong Thiền Định, nên gọi là Thiền Duyệt Thực.

2. Pháp Hỷ Thực: nghĩa là Hành Giả khi nghe pháp liền sanh tâm hoan hỷ, khiến tăng trưởng thiện căn và lợi ích huệ mạng, nên gọi là Pháp Hỷ Thực.

3. Nguyện Thực: nghĩa là Hành Giả vì muốn cứu độ chúng sanh đoạn trừ phiền não sớm chứng quả Bồ Đề nên phát nguyện rộng lớn duy trì bản thân để thường tu vạn hạnh, nên gọi là Nguyện.

4. Niệm Thực: nghĩa là Hành Giả sau khi an định được Tâm ý, thường ghi nhớ mãi những thiện pháp Xuất Thế mà mình đã chứng đắc không bao giờ quên, nên gọi là Niệm Thực.

5. Giải Thoát Thực: nghĩa là Hành Giả khi tu hạnh Thánh Đạo Xuất Thế của bậc Thánh Nhân đã đoạn được sự trói buộc của Nghiệp Phiền Não và không còn thọ nhận sự bức bách hay bị chi phối bởi khổ sanh tử nên gọi là Giải Thoát Thực.

Đây là danh xưng năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian. Năm cách ăn này được thiết lập là căn cứ nơi Pháp Hỷ của năng lực Thiền Định, của năng lực Chánh Nguyện, của năng lực Chánh Tư Duy làm nền tảng. Hành Giả nhờ năng lực Thiền Định, năng lực Chánh Nguyện và năng lực Chánh Tư Duy sau khi đoạn được phiền não và đ­ược học hỏi Phật Pháp liền sanh ra Pháp Hỷ. Pháp Hỷ thường nuôi dưỡng sanh mạng và bảo trì hạt giống Trí Tuệ, nên gọi là Thực.

Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian cộng chung với bốn cách ăn của Thế Gian nói trên trở thành chín cách ăn, gọi là Cửu Thực. (Hoa Nghiêm Kinh Sớ, quyển 28 và Kinh Tăng Nhứt A Hàm, quyển 41).

E. CÁCH ĂN CỦA TỔ TIÊN ÔNG BÀ:

Thế thì Tổ Tiên, Ông Bà ăn như thế nào?

Như đã trình bày ở trên, Tổ Tiên, Ông Bà có thể ăn uống thường gọi là Hưởng Thực nghĩa là ăn bằng cách Thức Thực những hương vị của món đồ mà con cháu dâng cúng và nếu như không có món đồ dâng cúng thì làm sao có hương vị để cho Tổ Tiên, Ông Bà hưởng thực.

Sở dĩ sự hưởng thực của Ông Bà không giống như sự ăn uống của loài người, nguyên vì các vị ấy không còn mang tấm thân xác thịt như loài người và cũng không còn sống trong thế giới loài người. Họ chết, nghĩa là họ bỏ lại tấm thân xác thịt bằng chất liệu máu huyết tanh hôi của cha mẹ. Họ chỉ còn lại thân thể bằng Tâm Thức, gọi là Thức Thân và cũng gọi là Trung Ấm Thân hay Danh Thân. Đã là Thức Thân sống trong thế giới nội Tâm không hiện tướng thì sự ăn uống của họ chỉ bằng Tâm Thức nên gọi là Thức Thực và lương thực của họ sống chính là Hương Vị của vạn pháp, thường gọi là Dưỡng Khí. Thức Thân là thân thể thuộc trạng thái vô hình không thể dung chứa những vật chất thuộc hữu tình, cho nên họ không thể hưởng đồ ăn bằng vật chất giống như sự tăn uống của loài người. Đến khi nào đi đầu thai thọ thân kiếp sau, họ kết hợp với sắc chất tức là tinh cha huyết mẹ để thể hiện Thức Thân nói trên trở thành Nhục Thân hiện tướng thì chừng đó họ có thể ăn uống những vật chất vào giống như sự ăn uống của loài người. Hoặc họ sanh vào những cõi khác, ngoài Thế Giới loài người thì sẽ ăn uống theo cách của chúng sanh ở những cõi đó.

Hơn nữa, Tổ Tiên Ông Bà đã đi đầu thai vào Thế Giói nào khác từ lâu, vậy chúng ta cúng kỵ có ý nghĩa gì? Trư­ờng hợp này chúng ta cúng kỵ có hai ý nghĩa:

a. Ý nghĩa thứ nhất, chúng ta cúng kỵ nhằm mục đích tri ân và báo ân những đấng sanh thành đã từng hy sinh tạo nên chúng ta cũng như gầy dựng nên giòng họ Tông Môn của Gia Phả mình. Đồng thời chúng ta giáo dục con cháu thiêng liêng hóa Tông Đường để tiếp nối sự nghiệp hiển vinh giòng họ Nội Ngoại hai bên. Không khác nào Dân Tộc Việt Nam mỗi năm thường làm lễ kỷ niệm Quốc Tổ Hùng Vương để nhắc nhở giống nòi đừng quên cội mất nguồn. Cũng như Tín Đồ làm lễ kỷ niệm Phật Tổ hay Thánh Chúa là để hình ảnh thiêng liêng đó ăn sâu vào tâm khảm của mỗi Tông Đồ.

b. Ý nghĩa thứ hai, chúng ta cúng kỵ với giá trị là sử dụng năng lực tâm linh thành kính của mình biến hương vị lương thực hiến cúng thành dưỡng khí và chuyển dưỡng khí đó thành chất liệu dưỡng sinh để mang đến cho ng­ười mình cúng qua hệ thống tâm linh. Người mình cúng ở cõi khác tự nhiên được nhiều sự may mắn không biết từ đâu đến mà người đời thường gọi là được phước đức ông bà. Trờng hợp này cũng tương tợ như bóng đèn điện đã bể, chúng ta thay vào đó một cái quạt máy. Hình thức quạt máy hoàn toàn không phải là hình thức một bóng đèn. Giờ đây chúng ta tăng sức dòng điện cho đường giây bóng đèn cũ thì trên thực tế quạt máy tự nhiên được ảnh hưởng ngay. Người mình cúng tuy không còn là hình thức ông Bà, nhưng Tâm Linh của họ vẫn cùng một dòng Tâm Linh với Tổ Tông không khác. Chúng ta tăng năng lực cầu nguyện trên đường giây Tâm Linh dòng họ thì người mình cúng sẽ được ảnh hưởng ngay. Giá trị này cũng giống như chúng ta đánh Fax hay gọi Điện-thoại viễn liên thay vì điện tử qua hệ thống Tâm Linh rất linh diệu vô cùng, ảnh hưởng đến người mình gọi.

Tóm lại, Tổ Tiên Ông Bà và Nghiệp Lực thọ sanh vào những Thế Giới vô hình thì sự sinh hoạt ăn uống của họ chỉ bằng Thức Thực không giống như sự ăn uống của loài người và con cháu cúng dường là đem hương vị của món đồ dâng lên thành kính tưởng niệm để tri ân và báo ân. Đó là cách ăn uống của Tổ Tiên Ông Bà theo quan niệm Phật Giáo.
xxxxnước như là Cá Cơm v.v...

Đức Phật nói: “Chúng sanh tùy nghiệp nhi thực” nghĩa là chúng sanh do bởi nghiệp sai biệt nên ăn uống không giống nhau. Theo Phật Giáo, chúng sanh trong các cõi Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới có nhiều cách ăn. Những cách ăn của chúng sanh trong ba cõi được chia thành chín loại khác nhau, gọi là Cửu Thực. Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa và giá trị chín cách ăn nói trên.

G. CÁCH CÚNG

Cúng phải có quy cách của cúng tế, nghĩa là cách thức cúng tế đã được quy định trong Nghi Lễ, như Nghi Lễ của Quốc Gia gọi là Quốc Cách, Nghi Lễ của Quân Đội gọi là Quân Cách, Nghi Lễ của Tôn Giáo gọi là Tôn Giáo Cách v.v...

Người kế thừa trong sự cúng bái nếu như thiếu Nghi Lễ quy cách chính là thiếu cung cách trong việc cúng tế, tức là người đó đã phạm lỗi với các bậc Thánh Hiền đáng tôn kính. Theo Kinh Di Giáo, người cúng dường trước hết sử dụng thân thể cũng như hành vi làm chủ yếu và sau đó họ sử dụng tinh thần để giao cảm. Cho nên họ phải thể hiện được hai đức tánh: Thân Cúng Dường và Tâm Cúng Dường.

a. Thân Cúng Dường: nghĩa là người cúng dường phải dâng cúng những lễ vật như đồ ẩm thực, y phục, thuốc thang v.v... lên cho Tam Bảo, cho Sư Trưởng, cho Cha Mẹ, cho Hương Linh v.v... một cách tâm thành, gọi là Thân Cúng Dường.

b. Tâm Cúng Dường: nghĩa là người cúng dường cảm thấy tâm không nhàm chán, không biết đủ, không hối tiếc và tự tại trong hành động, gọi là Tâm Cúng Dường.

Cũng từ ý nghĩa này, Quy Cách của Phật Giáo có hai phương thức cúng là Sự Cúng và Lý Cúng.

1. SỰ CÚNG:

Những lễ vật hiến cúng lên bàn thờ chính là hình thức biểu tƯợng lòng chí thành của một ngƯời con, của một Tín Đồ dâng trọn niềm tin lên Tổ Tiên Ông Bà, lên Thánh Hiền và lên Chư Phật. Họ dâng hiến lễ vật là mong nhờ Tổ Tiên Ông Bà và Thánh Hiền Chư Phật đoái tưởng ấn ký, gọi là chứng minh cho tất lòng chí thành biết ơn của kẻ dưới. Nếu như không có lễ vật biểu tượng thì không thể hiện được lòng chí thành của mình đối với những bậc thâm ân mà mình tôn kính. Cũng như nếu không có Thiệp (Card) chúc tết hoặc lời chúc tụng thì không thể nào tỏ bày được lòng thành của mình đối với người mình chúc tụng. Nhờ sự tướng (hình thức) hiển bày được nguyên lý, nhờ hình tướng hiển bày được thể tánh, nghĩa là sự tướng nếu như không có thì không thể hiện được lý tánh. Sự và Lý cũng như Tướng và Tánh đều dung thông với nhau không ngăn ngại. Kinh Hoa Nghiêm có câu: “Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới”, nghĩa là Lý Tánh nhờ Sự Tướng được hiển bày và Sự Tướng nhờ Lý Tánh được thành hình. Sự Lý không thể rời nhau được để thành lập. Vạn pháp tuy có tướng trạng khác nhau, nhưng đều cùng chung một bản thể.

Người có lòng chí thành thì dù hột muối cắn làm hai đem dâng cúng lên bề trên cũng có giá trị và ngược lại. Ngư­ời không có lòng chí thành thì mặc dù đem mâm cao cỗ đầy cũng không có ý nghĩa, đúng như câu: “Phật tức tâm, Phật chứng tại tấm lòng, tâm tức Phật lòng thành có Phật”.

2. LÝ CÚNG:

Lý Cúng Dường nghĩa là thể hiện được chân lý đã chứng nhập đem ra cúng dường, nên gọi là Lý Cúng. Kinh Phổ Hiền, Phẩm Hạnh Nguyện nói Cúng Dường có ba ý nghĩa:

a. Tài Cúng Dường: nghĩa là dùng những hoa quả, tiền của châu báu thường dùng trong thế gian đem ra cúng dư­ờng.

b. Pháp Cúng Dường: nghĩa là đem tâm Bồ Đề làm lợi ích cho mình và lợi ích cho mọi người để cúng dường.

c. Quán Hạnh Cúng Dường: nghĩa là thật hành pháp quán để nhận thấy vạn vật khắp trong ba cõi đều dung thông với nhau, tức là thật hành phương pháp quán chiếu về “Sự sự vô ngại pháp giới” của Kinh Hoa Nghiêm để cúng dường.

Kinh Thập Địa Luận, quyển 8 nói: Cúng dường có 3 cách:

a. Lợi Dưỡng Cúng Dường: nghĩa là chỉ dùng các thứ y phục, ngọa cụ v.v... để cúng dường.

b. Cung Kính Cúng Dường: nghĩa là tỏ lòng thành bằng cách dâng hương hoa, tràng phang bảo cái v.v...để cúng dường.

c Hạnh Cúng Dường: nghĩa là tiến tu đạo nghiệp về các hạnh, như Tín Hạnh, Giới Hạnh v.v... để cúng dường.

Pháp Hoa Văn Cú quyển 8 nói rằng: dùng Tam nghiệp cúng dường. Tam nghiệp cúng dường như là:

a. Thân Nghiệp Cúng Dường: nghĩa là dùng thân này chí thành lễ bái, kính ngưỡng các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng dường.

b. Khẩu Nghiệp Cúng Dường: nghĩa là dùng lời nói ca tụng khen ngợi công đức của các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng dường.

c. Ý Nghiệp Cúng Dường: nghĩa là dùng tâm ý đoan chánh tưởng niệm đến Tướng Hảo Trang Nghiêm của các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng dường.

Với tinh thần Lý Cúng vừa trình bày trên, chúng ta luôn luôn noi gương tốt của các bậc Tiền Nhân Thánh Đức, của Tổ Tiên Ông Bà, cố gắng ngăn ngừa các điều tội ác nguyện làm các việc phước lành, giữ gìn thân tâm cho trong sạch, trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm, để xứng đáng danh nghĩa con cháu yêu quý của dòng họ của Tông Môn, để làm gương mẫu tốt trong xã hội. Chúng ta thể hiện được tinh thần cao đẹp vừa nói trên để cúng dường lên Tổ Tiên Hiền Thánh, ngưỡng mong các bậc tôn vinh trên chứng minh vâ gia hộ, đó là ý nghĩa của Lý Cúng.

Theo quy cách của Phật Giáo, con cháu mỗi khi cúng kỵ Ông Bà hay Thánh Hiền phải hội đủ những điều kiện sau đây:

a. Phải có lòng thành kính đối với bậc trên trước mà mình cúng bái, nghĩa la không phải cúng bái với mục đích họp bạn ăn uống vui chơi.

b. Phải trang nghiêm thanh tịnh trong lúc cúng tế, nghĩa là trong lúc cúng tế không được tổ chức ca múa hát xư­ớng như một hí trường.

c. Phải có ba chén cơm, ba chung nước thanh khiết và ba đôi đũa hoặc ba muỗng nĩa cùng với hơng đèn hoa quả v.v... Đó là điều kiện cần thiết trong khi cúng. Còn các thức ăn khác thêm bớt là tùy theo hoàn cảnh của mỗi gia chủ.

d. Tất cả con cháu trong gia đình đều phải quỳ xuống, im lặng, chắp tay hướng về bàn thờ Tổ Tiên, Thánh Hiền v.v... bày tỏ lòng chí thành. Lúc đó gia chủ đại diện nguyện hương, vái tên họ, tuổi và ngày tháng, năm tạ thế của người quá vãng (người đã chết) mà mình cúng kỵ. Trong khi cha mẹ đang cúng Ông Bà, con cháu không đư­ợc đùa giỡn làm thiếu lễ nghi cung cách. Kế đến, tất cả con cháu đều chí thành đọc tụng Thần Chú Chuyển Lương Thực để Ông Bà thọ hưởng sự cúng dường. Sau cùng tất cả đều lạy ba lễ.

Đây là năm điều căn bản của con cháu mà bổn phận làm người cần phải nằm lòng trong việc kế thừa sự nghiệp gia bảo của tiền nhân. Chúng ta tại sao phải có bổn phận và lại còn hãnh diện mỗi khi tổ chức trọng đại lễ kỷ niệm Hùng Vương, Đức Thánh Trần, Tổng Thống v.v... và còn đọc tiểu sử ghi công các vị ấy một cách trang nghiêm. Ngược lại, chúng ta tại sao thiếu bổn phận và lơ là trong việc cúng bái Tổ Tiên là những bậc có công ơn lớn nhất của Tông Môn của dòng họ mình. Trong Phật Giáo, tội bất hiếu là một trong năm tội Ngũ Nghịch của Địa Ngục Vô Gián. Chúng ta mang danh là Phật Tử cần phải biết cung cách Hiếu Hạnh vừa trình bày ở trên đề ngăn ngừa đừng phạm phải.

H. PHỤ BẢN:

I.- KHI CÚNG ÔNG BÀ:

Khi cúng ông Bà, con cháu phải tập họp đầy đủ trước bàn thờ Tổ Tiên và ăn mặc chỉnh tề, im lặng. Gia Chủ đại diện lên đèn va đọc thầm bài Kệ Đốt Dèn:

KỆ ĐỐT ĐÈN:

Đốt sáng đèn Tâm,

Nguyện cho chúng sanh,

Chiếu tỏa mười phương,

Tẩy trừ mê ám.

Nam Mô Nhiên Đăng Vương Bồ Tát. (3 lần)

Tiếp theo Gia Chủ đốt ba cây hương và đọc thầm Thần Chú Đốt Hương:

CHÚ ĐỐT HƯƠNG:

Tinh Hương kết vần mây thể,

Thơm khắp ba cõi mười phương,

Năm Uẩn biến thành trong sạch,

Trần ai ba độc thanh lương.

Án Phóng Ba Tra Tá Ha. (3 lần)

Tới cả con cháu đều quỳ xuống và Gia Chủ đại diện nguyện hương.

KỆ NGUYỆN HƯƠNG:

Đem tất lòng thành kính,

Nguyện kết đài Mây-hương,

Dâng lên khắp mười phương,

Cúng dường ngôi Tam Bảo,

Cúng Cửu Huyền Thất Tổ,

Nội Ngoại cả hai bên,

Niệm ơn trên hiển linh,

Ứng lòng Từ chứng giám,

Gia hộ đàn con cháu,

Sớm lập Đức bồi Tâm,

Khiến tỏ rạng Tông Môn,

Lưu danh thơm kim cổ.

Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. (3 lần)

Kế đến cầu nguyện:

Hôm nay ngày lành tháng tốt, chính là ngày kỷ niệm (Kể tên họ, tuổi và năm, tháng, ngày, giờ tạ thế của ngời mình cúng kỵ). Để tỏ lòng tưởng niệm, nhớ nghĩa thâm ân, gia đình chúng con gồm có........... (liệt kê tên họ) thành tâm sắm sửa trai nghi, hương hoa, quả phẩm thanh khiết dâng lên, trước hết cúng dường Cửu Huyền Thất Tổ, Thất Thế Phụ Mẫu, đa sanh Phụ Mẫu, Lục Thân Quyến Thuộc, Nội Ngoại Hương Linh, trên đến Cao Tằng Tổ Khảo, dưới đến Tử Tôn Tằng Huyền, và tiếp theo cúng dường Hương Linh (Tên họ người mình cúng kỵ).

Duy nguyện, chư Hương Linh quang lâm án Tiền chứng minh công đức, gia hộ con cháu chúng con, tai chướng tiêu trừ, thân tâm hương thới, mạng vị bình an căn lành tăng trưởng, bốn mùa không còn chút tai ương, tám tiết phước lớn như đông hải. Gia đình hưng thịnh, quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, cầu chi đều nh ý, nguyện tất cả đợc tùng tâm.

Nam Mô Linh Tự Tại Bồ Tát. (3 lần)

TỤNG CHÚ CHUYỂN LƯƠNG THỰC:

Biến cơm, biến nước Chơn Ngôn thành tâm trì tụng:

1. Nam Mô Tát Phạ Đát Tha, Nga Đa Phạ Lồ Chỉ Đế, Án, Tam Bạt Ra, Tam Bạt Ra, Hồng. (3 lần)

2. Nam Mô Tố Rô Bà Da, Đát Tha Nga Đa Da, Đát Diệt Tha, Án, Tố Rô Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Ta Bà Ha. (3 lần)

3. Án, Nga Nga Nẳng Tam Bà, Phạ Phiệt Nhựt Ra, Hồng. (3 lần)

(Lạy ba lễ là xong)
Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: III.- VẤN ĐỀ LỄ BÁI:   Mon Apr 04, 2011 9:50 pm

II.- NGHI

THỈNH VONG:

Hương Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thỉnh, Hương Linh lắng nghe, Cuộc đời dâu bể, sớm còn tối mất tợ chiêm bao, Sống gởi thác về, mau quay đầu trở lại đường xa bến cũ, Hương Linh giờ đây tỉnh ngộ, Nghe lời triệu thỉnh quang lâm, An tọa trước bạn hương án trang nghiêm, Xin chứng giám lòng thành của Gia Chủ. U Minh Giáo Chủ, Bồ Tát hiện thân, Hóa độ khắp chốn cùng nơi, Tiếp dẫn ba đường sáu nẻo, Lòng từ thương xót, Chí nguyện kiên cường: “Địa Ngục chưa hết chúng sanh, Ngài thệ không thành Phật quả. Đến khi Địa Ngục không còn, Chừng đó lên ngôi Chánh Giác”. Đại Bi Đại Nguyện Đại Thánh Đại Từ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thương vì Gia Chủ.......... (Kể tên họ con cháu) Tiếp độ Hương Linh. (Đọc tên người quá vãng), Về nơi Đạo Tràng, Chứng minh công đức.

Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần)

Hương Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thỉnh, Hương Linh lắng nghe, Năm Uẩn giả hợp nên người, Bốn Đại duyên sanh thành vóc, Bản chất vô thường, Hình hài biến đổi, Chốn phù sinh mang thân gởi tạm, Đường tội lỗi mình lỡ tạo nên, Hôm nào còn đó, Bữa nay mất rồi, Thân cát bụi trả về cát bụi, Mượn Ấm Thân nhờ chuyển kiếp sau, Phiền não trầm luân khổ lụy, Sông mê lặn hụp triền miên, Hương Linh nên tỉnh ngộ, Thuyền Bát Nhã đợi chờ, Nơi bến Giác mau về cập bến, Nhờ Hào Quang dẫn lối soi đờng, An nhàn nơi đất Phật, Tĩnh tọa trên tòa Sen, Quan âm, Thế Chí hộ trì, Giáo chủ Di Đà thọ ký, Liền trở về đây nơi chốn dương trần, Sớm gia hộ cháu con, Quyến thuộc Tông Môn nam nữ, Thừa tư công đức, Tai chớng tiêu trừ, Thân tâm hương thới, Mạng vị bình an, Bốn mùa không còn chút tai ương, Tám tiết phước lớn như đông hải, Gia dình hng thịnh, Quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, Cầu chi đều như ý, Nguyện tất cả được tùng tâm.

Nam Mô Linh Tự Tại Bồ Tát. (3 lần)

Thiền Trà dâng cúng, Thiền Vị ba chung, Tang Chủ trà châm, Chí thành ba lễ.

Hương Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thành, Hương Linh lắng nghe, Nay riêng mình, Giờ đây bụi trần phủi sạch, Còn gia quyến, âm dương hai ngã cách đôi, Tỏ lòng đạo nghĩa thâm ân, Con cháu chí thành tưởng niệm, Trước tiên dâng hiến nước Cam Lồ, Chất liệu tươi nhuận khắp mười phương, Thiền trà Pháp Nhũ, Thiền vị ngát hương, Gia chủ mong nhờ Thiền Đức, Chuyển lời triệu thỉnh Hương Linh, Khởi hành từ chốn U Minh, Nương tòa Sen về dương thế, Tĩnh tọa trước Đạo Tràng Hương án, Nghe kinh và thọ lãnh cúng dường, Do Gia Quyến chí thành dâng hiến, Xin nguyện Hương Linh (kể tên) hết lòng gia hộ cháu con, Quyến thuộc Tông Môn nam nữ, Thừa tư công đức, Tai chướng tiêu trừ, Thân tâm hương thới, Mạng vị bình an, Bốn mùa không còn chút tai ương, Tám tiết phước lớn như đông hải, Gia đình hưng thịnh, Quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, Cầu chi đều như ý, Nguyện tất cả đư­ợc tùng tâm.

Nam Mô Cam Lồ Vương Bồ Tát. (3 lần)

Thiền Trà dâng cúng, Thiền Vị ba chung, Gia Chủ trà châm, Chí thành ba lễ.

Hương Hoa thỉnh Nhứt Tâm triệu thỉnh, Hương Linh lắng nghe, Nương Từ Bi vô lượng, Nhờ Phật Pháp nhiệm mầu, Bao nhiêu quả phẩm Cam Lồ, Lương thực thiết đầy Hương án, Pháp nhũ mỹ vị tịnh chay, Biến khắp hư không Pháp Giới, Con cháu chí thành, Hiến dâng cúng bái, Hương Linh nghe lời triệu thỉnh, Về đây thọ lãnh cúng dường, Đó là món ăn tinh thần, Thanh tịnh huơng thơm Pháp Vị, Xin nguyện Hương Linh........(kể tên) Sớm được ấm no đầy đủ, Hết lòng gia hộ cháu con, Quyến thuộc Tông Môn nam nữ, Thừa tư công đức Tai chướng tiêu trừ, Thân tâm hương thới, Mạng vị bình an, Bốn mùa không còn chút tai ương, Tám tiết phước lớn như đông hải, Gia đình hưng thịnh, Quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, Cầu chi đều như ý, Nguyện tất cả được tùng tâm.

Nam Mô Mỹ Hương Trai Bồ Tát. (3 lần)

Thiền Trà dâng cúng, Thiền Vị ba chung, Gia Chủ trà châm, Chí thành ba lễ.

TỤNG CHÚ CHUYỂN LƯƠNG THỰC: Biến cơm, biến nước Chơn Ngôn thành tâm trì tụng:

1. Nam Mô Tát Phạ Đát Tha, Nga Đa Phạ Lồ Chỉ Đế, Án, Tam Bạt Ra, Tam Bạt Ra, Hồng. (3 lần)

2. Nam Mô Tố Rô Bà Da, Đát Tha Nga Đa Da, Đát Diệt Tha, Án, Tố Rô Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Ta Bà Ha. (3 lần)

3. Án, Nga Nga Nẳng Tam Bà, Pha Phiệt Nhựt Ra, Hồng. (3 lần)

Hương Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thỉnh, Hương Linh lắng nghe, Tâm giác ngộ vốn thanh tịnh, Dứt si mê chứng quả ngay, Có thân có khổ, Có nghiệp chướng có luân hồi, Không sanh không tử, Không nghiệp chướng không đến đi, Sanh tử đến đi như giấc mộng, Cuộc đời dâu bể tợ chiêm bao. Hơng Linh đừng luyến tiếc kiếp phù sinh, Mau thoát khỏi bể khổ đau ái dục, âm Dương tuy hai đường ngăn cách, Nhưng Thể Tánh chỉ có một Pháp Thân, Mong Hương Linh được nhẹ nhàng, Sanh sang nước Cực Lạc, của đức Phật A Di Đà, Hiện đang làm Giáo Chủ, Thuyết Pháp độ chúng sanh, Hương Linh ngồi trên tòa Sen báu, Chí thành chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, Ngưỡng mong đức Phật Từ Bi, Duỗi lòng phóng quang tiếp độ , Hơng Linh siêu sanh Tịnh Độ, Chứng quả Niết Bàn Vô Dư.

Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát. (3 lần)

Tóm lại, vấn đề Cúng là một cung cách rất thiết yếu của người có Tín Ngỡng đối với Tổ Tiên, đối với Hiền Thánh mà bổn phận làm người không thể thiếu trong việc cải tiến bản thân, cũng như xây dựng xã hội an lạc thật sự về phương diện Tâm Linh. Cúng là một hành động tri ân và báo ân Tiền Nhân với mọi hình thức biểu tượng mà con người ý niệm đợc thâm ân không thể thiếu nghĩa vụ. Cúng cũng là một phương thức giáo dục con người ý thức Truyền Thống Tổ Tiên, lý tưởng Giống Nòi và Tín Ngưỡng để họ làm tròn bổn phận làm người. Nhất là ngời Phật Tử, chúng ta phải cúng, nhằm thể hiện tâm linh để bất cẩu giao cảm với chư Phật, mong nhờ Tam Bảo gia hộ cho mình được an lành trên con đường Giác Ngộ và Giải Thoát. Đây là ý nghĩa và giá trị của Cúng Dường. Ý nghĩa và giá trị Cúng Dường được trình bày qua Sự cũng như qua Lý để làm quy cách căn bản cho Phật Tử chánh tín hành trì, ngõ hầu giúp đỡ họ sớm kết duyên lành với chư Phật trong mười phương.



III.- VẤN ĐỀ LỄ BÁI:

Lễ Bái là một Đạo Nghĩa nhằm tiêu biểu ý chí tôn kính, tưởng niệm đến những ân đức sâu dày của Tổ Tiên Ông Bà, của chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng và tự thân Phát nguyện tu tâm luyện trí hầu trở thành ngời hữu ích trong xã hội để làm tròn bổn phận con cháu của Tông Môn và để xứng đáng là Đệ Tử của các bậc Thánh Đức. Lễ Bái còn là một Đạo Lý có tánh cách quy hướng Chánh Giác, với mục đích diệt trừ những phiền Não sanh tử, loại bỏ tánh cống cao ngã mạn trong mỗi con người, khiến được Nhứt Tâm để thể nhập được Phật Tánh và để trở thành một vị hoàn toàn giải thoát như đức Phật. Trước hết muốn thông suốt ý nghĩa và giá trị của sự Lễ Bái, chúng ta cần phải hiểu qua thế nào là Lễ Bái.

A.- ĐỊNH NGHĨA:

a. Lễ: là những quy tắc nhứt định của cung cách qua sự đi, đứng, nói năng trong những Quan Hôn Tang Tế nhằm thể hiện sù Tôn Kính.

b. Bái: nghĩa là quỳ lạy bằng cách hạ mình xuống đất tưrớc những bậc Hiền Đức mà mình Tôn Kính.

c. Lễ Bái: tiếng Phạn là Vandana, Tàu dịch âm là Ban Đàm, còn gọi là Hòa Nam, hoặc gọi là Na Mô Tất Yết La, nghĩa là lễ nghi cung cách với hình thức cúi đầu quỳ lạy trước những bậc Tiền Nhân Thánh Đức mà mình đã đặt trọn niềm tin quy ngưỡng hướng về, như lạy chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, như lạy Cha Mẹ, Thầy Tổ v.v... Chúng ta quỳ lạy các vị đó nhằm biểu lộ đức tánh khiêm tốn và để tỏ lòng tri ân, báo ân mà bổn phận kẻ dưới hằng tạc dạ ghi tâm, ân tiên công đức. Ngoài ý nghĩa thông thường trên, theo Phật Giáo, sự Lễ Bái còn tiêu biểu nhiều ý nghĩa khác nữa, như tiêu biểu: “Chánh Quán Lễ, Phát Trí Thanh Tịnh Lễ, Thật Tướng Bình Đẳng Lễ và Biến Nhập Pháp Giới Lễ”. Ý nghĩa của những phương cách Lễ Bái này sẽ đề cập ở sau.

B.- NGHI CÁCH VÀ Ý NGHĨA LỄ BÁI:

Muốn hiểu ý Nghĩa Lễ Bái, chúng ta trước hết nên hiểu qua cách thức Lễ Bái theo mỗi Tôn Giáo cũng như mỗi Tông Phái quy định. Tổng quát chúng ta nên hiểu cách thức Lễ Bái của những Tôn Giáo và của những Tông Phái hên hệ rất gần đối với chúng ta. Giờ đây chúng ta nên hiểu cách thức Lễ Bái của Khổng Giáo và Phật Giáo chủ trương:

C.- QUAN NIỆM LÊ BÁI:

Mỗi Tôn Giáo Lễ Bái mỗi cách và mang mỗi ý nghĩa khác nhau, theo sự quy định của các Giáo Chủ làm cách nào tổ bày được tâm thành của Tín Đồ đối với những bậc Thánh Đức mà họ quy ngưỡng.

Theo Truyền Thống Việt Nam, dân tộc ta phần đông chịu ảnh hưởng sâu đậm Văn Hóa của Khổng Giáo và Phật Giáo, là hai Tôn Giáo có công rất lớn qua quá trình lịch sử xây dựng đất nước. Mỗi người dân đều chịu ảnh hởng không ít cách Lễ Bái của hai Tôn Giáo này. Thời xa Vua Chúa đã quy định rõ ràng, mỗi người dân, khi Lễ Bái Vua, Quan, Hiền Thần, Đình Miếu thì phải áp dụng theo cung cách của Khổng Giáo và khi Lễ Bái Phật Trời, Hiền Thánh, Tổ Tiên, Ông Bà v.v... thì phải áp dụng theo cung cách của Phật Giáo.

Về sau người dân bị thất truyền, không được ai chú dạy ý nghĩa và cách thức Lễ Bái cho đúng pháp. Thành thử họ chỉ biết Lễ Bái theo thói quen, hành động không đúng nghĩa và cũng không đúng chỗ. Chúng ta muốn rõ Nghi Lễ của Khổng Giáo thì nên đọc “Văn Công Thọ Mai Gia Lễ" và muốn biết Nghi Lễ của Phật Giáo thì nên am tường “Nhân Thừa Phật Học”. Cả hai rất quan hệ cho cuộc sống làm người. Sự Lễ Bái mà người Việt Nam thường áp dụng, như trên đã trình bày, đều theo Nghi Cách của Khổng Giáo và của Phật Giáo. Nghi Cách Lễ Bái khác biệt giữa Khổng Giáo và Phật Giáo được giải thích dưới đây:

1. THEO QUAN NIỆM KHỔNG GIÁO:

Cách lạy của Khổng Giáo, trước hết con người phải đứng thẳng là tiêu biểu cho cái UY của kẻ sĩ. Hai tay Cung Thủ, nghĩa là hai tay nắm lại nhau là tiêu biểu cho cái Dũng của Thánh Nhân. Trước khi lạy, hai tay Cung Thủ đa lên trán, kế đưa sang phía phải, rồi đưa sang phía trái là tiêu biểu cho Tam Tài (Trời, Đất và Người). Khi lạy, hai tay Cung Thủ chống lên đầu gối chân mặt và quỳ chân trái xuống trước là tiêu biểu cho sự Tôn Kính mà không mất tư thế cái Uy Dũng của kẻ sĩ Cúi đầu xuống đất là tiêu biểu cho sự Cung Kính những bậc mà mình đảnh lễ. Đó là Cung Cách và Ý Nghĩa tổng quát mà Khổng Giáo quan niệm.

2. THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO: Sự Lễ Bái của Phật Giáo so với sự Lễ Bái của Khổng Giáo có phần khác biệt về cung cách cũng như về ý nghĩa. Riêng về Phật Giáo, ý nghĩa và giá trị Lễ Bái được rất nhiều kinh luận đề cập đến. Theo Phật Giáo quan niệm, sự lễ bái cũng là một trong những phương pháp tu tập để diệt phiền não mà bổn phận người con Phật phải hành trì thường xuyên trong hằng ngày để được giải thoát tất cả nghiệp chướng khổ đau sanh tử và sớm chứng quả Bồ Đề Niết Bàn Tịch Tịnh. Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện quyển 4 ghi rằng: "Phật chỉ dạy các Đệ Tử phải Lễ Bái Tam Bảo và Lễ Bái các bậc Đại Tỳ Kheo”. Kinh Phạm Võng quyển hạ giải thích rằng: “Nếu có bậc Hoà Thượng, Thượng Tọa, A Xà Lê, hoặc người bạn đồng học, người đồng kiến giải ng­ười đồng hành đều phải nghinh tiếp Lễ Bái và vấn an". Luật Ngũ Phần quyển 7 ghi rằng: “Một vị Tỳ Kheo Ni một trăm tuổi, đã thọ giới Cụ Túc từ lâu cũng phải Lễ Bái một vị Tỳ Kheo Tăng mới thọ giới Cụ Túc”. Đại Đường Tây Vực Ký quyển 2 ghi rằng: “Ấn Độ có chín cách Lễ Bái được gọi là Tây Trúc Cửu Nghi”. Chín cách lễ bái nói trên được ghi nhận như sau;

1. Phát Ngôn Úy Vấn Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách mở lời vấn an.

2 . Phủ Thủ Thi Kính Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách cúi đầu tôn kính.

3. Cử Thủ Cao Ấp Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách dơ tay cao vái chào.

4. Hiệp Chưởng Bình Cung Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách chấp tay ngang bằng vái chào.

5. Khuất Tất Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách quỳ gối.

6. Trường Quy Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách quỳ nầm dài ra.

7. Thủ Tất Cứ Địa Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách hai tay và hai đầu gối quỳ sát đất.

8. Ngũ Luân Cu Khuất Lễ: nghĩa là Lễ bái bằng cách năm vóc đều cúi xuống.

9. Ngũ Thể Đầu Địa Lễ: nghĩa là Lễ Bái bầng cách năm vóc gieo xuống đất.

Ngoài ra người ấn Độ còn có nhiều cách Lễ Bái khác nhau. Theo phong tục mỗi nơi, người Tín Đồ Lễ Bái trước T­ượng Phật hoặc trước Bảo Tháp có hơi khác về cung cách. Sự khác biệt về cung cách Lễ Bái được nêu cử như sau:

1. Tồn Cứ Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách đứng một chân quỳ lạy.

2. Khởi Cư Lễ: nghĩa là dùng nghi thức bước một bước Lễ một lạy.

3. Hữu Nhiễu Tam Thất Lễ: nghĩa là Lễ một lạy rồi đi nhiễu ba vòng về phía bên hữu của Phật hoặc của Bảo Tháp.

4. Tạ Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách ngồi xuống đất cúi đầu lạy, tức là lạy bằng cách ngồi v.v...

Phật Giáo Việt Nam hầu hết đều áp dụng phơng pháp “Ngũ Thể Đầu Địa Lễ” trong khi lễ bái. Đây là một phương pháp tiêu biểu ý chí Tôn Kính cao đẹp nhất trong các cung cách Lễ Bái. Khi Lễ Bái, người Phật Tử đầu tiên phải đứng ngay thẳng trước Tượng Phật cho nghiêm trang và khép hai chân sát vào nhau để lấy lại sự an tâm thanh tịnh, đồng thời kiềm thúc Tâm ý không cho chao động vọng tưởng. Ngay lúc đó, đôi mắt họ nhìn lên Tượng Phật và Tâm họ quán tưởng các tướng tốt, quán niệm những đức hạnh cao quý của đức Phật để tỏ bày nguyện vọng chân chánh của mình hầu mong Ngài chứng minh. Hai tay họ thay vì Cung Thủ (nắm lại nhau) mà ở đây phải HIỆP CHƯỞNG, nghĩa là hai tay chắp lại nhau cho khít là tiêu biểu Thức Tâm hiệp nhứt (Nhất Tâm) và để hai tay nơi ngực là tiêu biểu ý nghĩa Ấn Tâm. Khi lạy Phật, có người để hai tay nơi ngực lạy xuống, nhưng có người đưa hai tay lên trán rồi mới lạy xuống, cách nào cũng có ý nghĩa của nó. Cách lạy để hai tay nơi ngực là tiêu biểu ý nghĩa Ấn Tâm như đã giải thích ở trên. Còn cách lạy đa hai tay lên trán là tiêu biểu ý nghĩa tâm nguyện của mình dung thông đến chư Phật qua nhục đỉnh kế (qua Mỏ Ác, hay qua Đỉnh Đầu) và lạy theo nguyên tắc “Ngũ Thể Đầu Địa”, nghĩa là đầu, hai tay, hai đầu gối của người Lễ Bái phải đặt sát đất và họ lạy xuống với tư thế ngồi để khỏi thất lễ nơi người đứng sau. Tiếp theo họ chỏi tay phải lên mặt đất rồi quỳ hai đầu gối và ngửa hai bàn tay ra giống như đóa sen nở. Họ quán tưởng đức Phật hiện đang đứng trên đóa sen kết thành bởi hai bàn tay của họ và họ đặt trán mình vào lòng hai bàn tay như đặt đầu mình lên chân của Phật, đồng thời họ nằm mọp xuống đất để biểu hiện sự Tôn Kính với tâm thành quy ngưỡng nương tựa. Cách Lễ Bái này là tiêu biểu cho ý nghĩa “Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ” (nghĩa là đầu và mặt của mình để lên chân của Phật gọi là Quy Mạng Lễ).

Phật Giáo cho rằng, người Phật Tử ngoài sự Lễ Bái để tỏ lòng Tôn Kính các đức Phật, các vị Bồ Tát, các Hiền Thánh Tăng, còn phải tưởng niệm những ân đức cao dày của các Ngài và phát nguyện suốt đời hướng về các Ngài tiến tu đạo nghiệp để được trở thành đức Phật như quý Ngài. Người Phật Tử thật hành hạnh nguyện như trên được gọi là quy mạng lễ.

Nhân Thừa Phật Giáo có chia làm bảy cách lạy, trong đó có ba cách lạy của Thế Gian thường áp dụng và bốn cách lạy của Thánh Giáo thường hành trì về mặt sự (về mặt hình thức) cũng như về mặt lý (về mặt nội dung). Để cho Phật Tử nhận thức dễ dàng và chọn lựa tu tập cho đúng pháp, bảy cách lạy được phân tích như sau:

D. VỀ CÁCH LẠY CỦA THẾ GIAN:

Trong Thế Gian về mặt sự tướng, tức là về mặt hình thức, có ba cách lạy phổ thông mà người đời thường áp dụng. Trong ba cách lạy nói trên, có hai cách lạy mà người Phật Tử chân chánh cần phải để ý và tuyệt đối không nên áp dụng. Hai cách lạy đó là Ngã Mạn Lễ và Cầu Danh Lễ. Hai cách lạy này chính là những tật xấu không thể có nơi con người thánh thiện. Bảy cách lạy nói trên dựa theo tinh thần Kinh Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 20 được trình bày như sau:

1. Ngã Mạn Lễ: nghĩa là người lạy Phật hoặc lạy Ông, lạy Bà, lạy Tổ Tiên, vì hoàn cảnh bắt buộc phải hành lễ, nh­ưng thâm tâm của họ không muốn lạy, do dó họ lạy với cử chỉ ngạo nghễ, thái độ kiêu căng, không có chút nào lễ độ cung kính cả. Đầu họ lạy xuống không sát đất và họ đứng lên cúi xuống một cách cẩu thả cho qua việc. Họ vì sợ mất thể diện với bạn bè và sợ dơ bẩn quần áo quý giá của mình, nên buộc lòng phải lễ bái theo kiểu Ngã Mạn. Họ sợ bạn bè chê trách mình là kẻ bất hiếu, bất nghĩa, bất tín, bất trung, cũng như họ quý trọng quần áo và bạn bè hơn chư Phật, Ông Bà Tổ Tiên. Cách lạy đó gọi là Ngã Mạn Lễ.

2. Cầu Danh Lễ: nghĩa là người lạy vì mong cầu danh vọng, quyền tước qua sự chú ý và ngợi khen của cấp trên cũng như lấy lòng quần chúng ủng hộ. Khi có cấp trên cũng như khi có quần chúng, họ siêng năng lễ lạy để cho mọi người thấy rằng mình có đạo đức, thượng cấp nên nâng đỡ và quần chúng nên ủng hộ. Thật ra thâm tâm của họ không có chút gì tín thành cả và ngược lại, một khi không có ai, họ lại biếng nhác giải đãi trong việc lễ lạy. Như vậy họ lễ lạy vì mọi người chứ thật ra không phải lễ lạy cho chính họ. Cách lạy này gọi là Cầu Danh Lễ.

Hai cách lễ lạy vừa trình bày là hành động dối trá không thể có nơi người Đạo Đức chân chánh. Đức Phật sở dĩ nêu lên trong kinh điển nhằm mục đích chỉ dạy cho người con Phật sau này phải ngăn ngừa và người con Hiếu Hạnh phải tránh xa.

3. Thân Tâm Cung Kính Lễ: nghĩa là người lễ lạy phải thể hiện thân và tâm đều cung kính. Thân và Tâm người lễ lạy đều cung kính thì sự Lễ Bái mới có giá trị. Nói một cách khác, người lễ lạy phải chí thành cả Thân và Tâm, nghĩa là họ phải có đức tin trong sự lễ lạy thì sự cảm ứng rất dễ dàng với chư Phật, với các Thánh Hiền, với Ông Bà, Tổ Tiên. Ngược lại, Tâm người lễ lạy nếu như thiếu cung kính thì thân họ sẽ hiện ra phong cách thiếu lễ độ dễ nhìn thấy (Hữu ư trung xuất hình ư ngoại, nghĩa là Tâm ở trong như thế nào thì tướng hiện ra như thế đó). Người lễ lạy muốn cho Thân và Tâm đều cung kính thì phải theo cách lạy của Phật Giáo mà ở trên đã giải thích và phải lạy thường xuyên để cho cung cách được thuần thục. Người lễ lạy đã thuần thục thì mới có khả năng nhiếp phục Tâm loạn động của mình. Thân Tâm Cung Kính Lễ là cách lạy cơ bản của Phật Giáo về mặt sự tướng, tức là về mặt hình thức mà người xuất gia cũng như kẻ tại gia phải hành trì cho nghiêm túc. Nhờ đó họ sau này mới đủ khả năng bước vào lãnh vực Thánh Giáo Lễ của các bậc Thánh Chúng về mặt lý tánh không cảm thấy trở ngại.

E. VỀ CÁCH LẠY CỦA THÁNH GIÁO:

Cách lạy của Thánh Giáo là cách lạy thuộc về lý lễ của các bậc Đại Thừa Bồ Tát thường tu tập. Những cách lạy này nhằm mục đích thể nhập Pháp Giới Tánh của chư Phật, tức là thế giới thuộc về Pháp Tánh của chư Phật an trụ và thấy thẳng được Phật Thân, tức là thấy được Pháp Thân thanh tịnh của ch Phật. Bốn cách lễ lạy của Thánh Giáo xin liệt kê như sau:

1. Chánh Quán Lễ: Chánh Quán nghĩa là quán chiếu Pháp Thân chân chánh của chư Phật hiện ra trước mặt, tức là Bồ Tát tu tập bằng cách vận dụng Thiền Quán chiếu soi Phật Thân ảnh hiện ra trước mặt để lễ lạy. Người thực hiện được cách hành lễ này phải là người đạt đến mức độ cao thâm trong phương pháp Thiền Quán. Ph­ương pháp tu Thiền chia ra làm hai phần: CHỈ và QUÁN. Phần CHỈ tức là phần chận đứng các duyên bên ngoài lôi cuốn để được nhứt Tâm và nhờ đó dễ đi vào chánh niệm. Tâm một khi chuyên nhất và chánh niệm thì Trí Tuệ sẽ được phát sanh, thường gọi là Tâm Định.

Còn về phần QUÁN, người tu Thiền sau khi Huệ đã phát sanh liền sử dụng Huệ quán chiếu Phật Thân (tức là Pháp Thân thanh tịnh của chư Phật) và Phật Cảnh (tức là Pháp Giới của chư Phật an trụ) khiến cho tất cả đều hiện bày ra trước mặt để lễ lạy. Muốn áp dụng phương pháp CHỈ để khiến Trí Tuệ phát sanh, người tu Thiền phải thực hành ba phương pháp: Điều Thân, Điều Tức và Điều Tâm cho thuần thục. Điều Thân, Điều Tức và Điều Tâm đã thuần thục một cách tự tại thì ngay lúc đó Trí Tuệ liền phát sanh. Một khi Trí Tuệ đã được phát sanh, ngời tu tập Thiền Quán mới có thể bước sang giai đoạn hai là sử dụng Trí Tuệ để quán chiếu Phật Thân và Phật Cảnh. Đây là liệt kê tổng quát về phương pháp Thiền Quán.

2. Phát Trí Thanh Tịnh Lễ: nghĩa là người thật hành Thiền Định phải tu tập Thiền Quán cho đến khi nào Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm mà không phải Trí Tuệ phát sanh từ nơi Thức Tâm. Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm tức là Phật Trí trong bản Tâm thanh tịnh của mình đảnh lễ Pháp Thân chư Phật trong mười pháp Giới. Trí Tuệ phát sanh từ nơi Tâm Thức thuộc về Phàm Trí. Còn Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm thuộc về Thánh Trí. Phàm Trí còn bị lệ thuộc cũng như bị giới hạn bởi Căn và Trần. Trái lại Thánh Trí đã thoát ra ngoài vòng cương tỏa cả hai. Người tu tập Thiền Quán phải thấu triệt rằng: Pháp Thân ch­ư Phật trong mười Pháp Giới đều phát sanh từ nơi Bản Tâm thanh tịnh (tức là Pháp Thân thanh tịnh của chư Phật hiện bày từ nơi Chân Tâm) và Trí Tuệ thanh tịnh của mình cũng phát sanh từ nơi Bản Tâm Thanh tịnh chung của mười Pháp Giới. Lý do đó, người lễ bái lạy một đức Phật tức là lạy tất cả chư Phật trong mời phương không ngăn ngại.

3. Thật Tướng Bình Đẳng Lễ: nghĩa là cách lễ lạy này, người tu Thiền phải dùng Trí Tuệ quán chiếu thật tướng của vạn pháp đều thể hiện một cách bình đẳng không sai biệt, không có nhân ngã bỉ thử, tức là người lễ bái không thấy có mình lạy và người để cho mình lạy. Nói một cách khác, người thật hành Thật Tướng Bình Đẳng Lễ là dùng Trí Tuệ quán chiếu thật tướng vạn pháp để nhận thấy rằng: mình và người, thể và dụng, phàm và thánh thảy đều vắng lặng không hai (đều là nhứt như). Ngài Văn Thù Bồ Tát nói: “Năng lễ Sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là thể tánh của mình đang lạy và thể tánh của người để cho mình lạy thảy đều vắng lặng và bình đẳng.

4. Biến Nhập pháp Giới Lễ: nghĩa là người tu Thiền phải tận dụng Trí Tuệ Bát Nhã thanh tịnh của mình quán chiếu Thân và Tâm nơi chính minh biến nhập vào Pháp Giới Tánh của vạn pháp một cách dung thông, giống như Bác Sĩ sử dụng năng lượng Quang Tuyến X (X-ray) rất lớn chiếu soi vào thân thể con người và năng lượng Quang Tuyến X thấu suốt xuyên qua thân thể con người không chút ngăn ngại. Đó mới chính là lễ lạy thật sự theo ph­ương pháp Biến Nhập pháp Giới Lễ. Pháp Giới Tánh tức là Thể Tánh của vạn pháp biến giáp khắp thế giới và th­ường trụ bất diệt. Pháp Giới Tánh là nơi mà chư Phật thường an trụ để hiện thân hóa độ chúng sanh. Người thực hiện được pháp quán chiếu này một cách tự tại thì người đó mới thật sự hành lễ đúng pháp chân thật.

Qua những phương cách Lễ Bái đã được trình bày ở trên, Thân Tâm Cung Kính Lễ chính là pháp môn quan trọng là điều kiện tất yếu của người hiếu nghĩa tín tâm để tỏ bày lòng tri ân và báo ân. Cách lễ lạy này cũng là phương tiện cần thiết dùng làm gạch nối giữa chư Phật và tâm linh con người qua sự nguyện cầu gia hộ. Phương pháp lễ lạy này lại còn là nền tảng căn bản cho Phật Tử trên con đường tiến tu đạo nghiệp để được chứng ngộ qua bốn cách lễ bái của Thánh Giáo. Vậy ngời Phật Tử phải nên cố gắng hành trì cho đúng pháp.

G. LỢI ÍCH CỦA SỰ LỄ BÁI:

Như trước đã trình bày, Lễ Bái ngoài ý nghĩa tỏ lòng Tôn Kính và tưởng niệm ân đức sâu dày của các bậc Tiền Nhân Thánh-Đức của Tổ Tiên dòng họ, còn là phương pháp tu tập nhằm diệt phiền não, loại bỏ tánh cống cao ngã mạn của mỗi con người nhằm mục đích quy hướng Chánh Giác để được giải thoát và giác ngộ như đức Phật. Đặc tánh Cống Cao Ngã Mạn đã sẵn có nơi mỗi con ngời. Nó châm rễ ăn sâu trong Tâm Thức con người từ vô lư­ợng kiếp về trước. Nó gây nên nguyên nhân đau khổ sanh tử lưu chuyển trong ba cõi. Con dao bén Cống Cao Ngã Mạn chặt đứt tình thương, phá hoại tình đoàn kết và gây nên nhiều hận thù chia rẽ.

Quyển “Phật và Thánh Chúng” của Cao Hữu Đính, trang 110, Mục 18 về bi vận của thành Ca Tỳ La, do Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản ghi lại câu chuyện tại họa do tánh Cống Cao Ngã Mạn gây nên trong lịch sử ấn Độ như sau:

Nguyên từ trước khi vua Ba Tư Nặc chưa quy y Phật, nhà vua đã cho sứ giả qua Ca Tỳ La cầu hôn với giòng họ Thích Ca. Các Thân Vương của giòng họ nầy tự cao tự đại cho rằng giòng họ mình là cao quý nhất đời không nên hạ mình kết hôn với vua nước Kiều Tát La. Tuy nói huynh hoang như thế, nhng họ lại sợ uy thế của vua Ba Tư Nặc, vì Kiều Tát La bấy giờ là một cường quốc như Ma Kiệt Đà trong vùng châu thổ sông Hằng. Do đó, giòng họ Thích Ca mới dùng một Nữ Tỳ nô lệ hầu hạ trong cung tên là Mạt Lỵ (Malika), tráo thành Vương Nữ đem gả cho Ba Tư Nặc. Mạt Lỵ tuy là gái nô lệ, nhưng tư chất rất thông minh mà dáng mạo lại cực kỳ xinh đẹp, nên đ­ược vua Ba Tư Nặc sủng ái, phong làm Đệ Nhất Phu Nhân.

Mạt Lỵ phu nhân sanh con đầu lòng là Tỳ Lưu Ly (Virùdhaka) về sau mệnh danh là ác Sanh Vương. Năm Tỳ Lưu Ly lên tám, vua cha cho sang quê ngoại để luyện tập bắn cung, vì Ca Tỳ La vốn nổi tiếng về môn xạ thuật.

Bấy giờ, trong thành Ca Tỳ La mới kiến thiết xong một đại giảng đường nguy nga dành để đón tiếp Phật mỗi khi Phật về thuyết pháp. Giòng họ Thích Ca cho đây là một chốn thiêng liêng, cấm không cho kẻ ty tiện bước vào. Không dè Tỳ Lưu Ly nhân thả bộ rong chơi trong cung, lạc vào chơi cấm địa ấy, bị các Thân Vương bắt gặp, xỉ mạ không tiếc lời, bảo rằng con của gái nô lệ Mạt Lỵ đã làm ô uế Thánh Địa. Họ đuổi Tỳ Lưu Ly ra và lập tức truyền lệnh cho gia nhân cấp tốc đến bới đất cũ trong giảng đường lên rồi chở đất mới về thay thế.

Tỳ Lưu Ly nộ khí xung thiên, bèn phát lời thề độc rằng: “Khi nào lên ngôi vua, ta thề quyết tiêu diệt sạch giòng họ Thích Ca mới hả giận”.

Về sau, khi trở về Xá Vệ, Tỳ Lưu Ly ngày đêm mưu tính việc rửa hận. Một hôm, nhân vua Ba Tư Nặc cùng Mạt Lỵ xuất thành tuần thú, Tỳ ưLu Ly cùng nghịch thần Ca Lê Da Na tập hợp quân đội lại, chặt đầu thị vệ của vua cha, đoạt lấy vương miện và bảo kiếm. Nghe tin, Ba Tư Nặc hết sức kinh hoàng. Mạt Lỵ khuyên nhà vua nên tạm lánh nạn qua lưu vong bên Ca Tỳ La, chờ dịp khôi phục. Nhưng không bao lâu sau, ông chết tại bên ấy thọ 80 tuổi.

Tỳ Lưu Ly nghe tin vua cha băng hà, hạ lệnh cô lập thái tử Kỳ Đà, rồi tự tuyên bố thừa kế vương vị. Bi vận Ca Tỳ La bắt đầu.

Một hôm, nhân đại triều, Tỳ Lưu Ly truyền hỏi bá quan rằng:

Nếu có kẻ sỉ nhục Đấng Quốc Vương tôn quý của mình, khinh thị Đấng Quốc Vương ấy là con giòng hạ tiện, tội ấy các khanh nghĩ nên xử trị như thế nào?

Muôn miệng đáp trọng tội ấy đáng tru di.

Giòng họ Thích Ca tự cao tự đại, Tỳ Lưu Ly nói tiếp. Họ cho rằng ta là con của một gái nô lệ, vậy nay phải hung binh tru diệt họ.

Ba lần xuất quân, ba lần Tỳ Lưu Ly gặp Phật cản đường tìm cách ngăn trở. Nhưng đến lần thứ tư, biết rằng không ngăn đón được nữa vì nghiệp nhân quá khứ của giòng họ Thích Ca quá nặng. Phật xót xa báo trước cho A Nan hay ráng trong 7 ngày nữa thì giòng họ Thích Ca sẽ tuyệt diệt. Tự mình tạo nghiệp dữ, không cách gì cứu gỡ nỗi...

Tỳ Lưu Ly tiếp tục công hãm thành rất gấp và cuối cùng hạ được. Sau khi vào thành, y hạ lệnh bắt lính giữ thành gồm 500 người đem giết hết. Còn nhân dân trong thành ước chừng 3 vạn người kể cả già trẻ lớn bé, y bắt chôn chân xuống đất để cho voi dữ chạy qua mà chà nát. Ma Ha Na Ma nghe tin này lấy làm kinh hoàng đau xót, bèn xin với Tỳ Lưu Ly cho ông và nhân dân được chết toàn thây. Tỳ Lưu Ly mới cho đổi lệnh giết bằng voi chà ra lệnh giết bằng trầm nịch. Thế là cả thành bị lùa xuống sông cho chết đuối. Tỳ Lưu Ly lại hạ lệnh vớt xác Ma Ha Na Ma lên, bắt chặt đầu treo lên gốc cây.

Sau khi tiêu diệt giòng họ Thích Ca và sát nhập Ca Tỳ La vào lãnh thổ Kiều Tát La, Tỳ Lưu Ly cho thi hành một chính sách vô cùng bạo ngược và giết luôn anh là Thái Tử Kỳ Đà. Vì vậy đời mới gọi ông là Ác Sanh Vương. Không lâu sau, cung thành Xá Vệ bị một trận hỏa hoạn khủng khiếp, Tỳ Lưu Ly và tất cả vợ con dâu bị chết cháy trong trận hỏa hoạn nầy.

Nước Kiều Tát La dần dần suy yếu, khiến A Xà Thế sau khi quy y Phật cất quân sang đánh, chiếm được Kiều Tát La, rồi sát nhập Kiều Tát La và Ca Tỳ La vào bản đồ nước Ma Kiệt Đà.

Lịch sử ấn Độ ghi lại câu chuyện trên cho chúng ta thấy rằng tai họa khủng khiếp do nghiệp Cống Cao Ngã Mạn gây nên. Nghiệp Cống Cao Ngã Mạn có thể diệt vong cả một quốc gia, cả một chủng tộc. Một chủng tộc cao quý nhất là chủng tộc Sakya, chủng tộc sanh ra một vị Giáo Chủ tôn vinh nhất đương thời chính là Đức Phật Thích-ca cũng không thoát khỏi thảm họa diệt vong đó. Cống Cao Ngã Mạn là danh từ khác của tự cao tự đại, nghĩa là đặc tánh của một loại Nghiệp thích tự cho mình trên hết, cho giòng họ mình, chủng tộc mình là cao cả và lại khinh khi kẻ khác, ghép họ vào hạng thấp hèn. Nhà Duy Thức phân chia tánh Cống Cao Ngã Mạn thành hai trạng thái Tâm Lý khác nhau. Tánh Cống Cao với một danh từ là Kiêu. Tánh Ngã Mạn với một danh từ là Mạn. Theo nhà Duy Thức, tánh Cống Cao là loại tâm lý tự cao có thể hóa giải dễ dàng một khi con người giác ngộ đ­ược sự tai họa của nó. Cho nên nhà Duy Thức ghép nó thuộc về Tâm Sở Kiêu. Tâm Sở Kiêu là một trong mười Tiểu Tùy Phiền Não. Còn tánh Ngã Mạn là loại tâm lý tự đại khó có thể hóa giải, mặc dù con người đã giác ngộ đ­ược sự tai họa của nó. Cho nên nhà Duy Thức ghép nó thuộc về Tâm Sở Mạn. Tâm Sở Mạn là một trong sáu Căn Bản Phiền Não. Đặc tánh của Tâm Sở Kiêu và Tâm Sở Mạn được quyển Khảo Nghiệm Duy Thức Học cùng một Tác giả do Ban Văn Hóa Xã Hội chùa Phật Tổ Ấn Hành, trang 88-99 trình bày như sau:

1. Tâm Sở Kiêu: là kiêu căng ngạo mạn. Trạng thái Tâm Lý này thường xuất hiện mỗi khi thấy mình giàu sang, thấy mình có quyền tước, có tài năng, có sắc đẹp v.v... vợt trội hơn người khác. Những kẻ có bệnh Kiêu thích hành động kiêu cách, ngạo nghễ và nhìn mọi ngời dưới cặp mắt thấp hèn. Tất cả có sáu loại Kiêu được phân định như sau:

a. Không bệnh tật kiêu.

b. Trẻ tuổi hơn ngời kiêu.

c. Sắc đẹp kiêu.

d. Quý phái kiêu.

e. Giàu sang kiêu.

f. Học nhiều, biết nhiều kiêu.

Đặc tánh của Tâm Sở Kiêu thường thúc đẩy con người khinh khi kẻ khác, tự đề cao mình lên và cho mình là nhân vật quan trọng hơn cả. Đối xử với quần chúng, người kiêu cách hành động thiếu sự nhún nhường và thiếu sự khiêm cung lễ độ. Tâm Sở này chính là nguyên nhân sanh ra các tội lỗi. Tâm Sở này cũng làm chướng ngại và ngăn cản không cho tâm lý Không Kiêu Căng phát sanh.

Thí dụ: Ông A và ông B trước kia là bạn chí thân ở cùng quê. Lúc còn nhỏ, ông A nghèo hơn ông B và đến tá túc nhà của ông B tại Linh thành để đi học. Gia đình ông B đối xử với ông A rất đẹp. Đến khi tốt nghiệp, ông A khéo nịnh hót nên được cấp trên cân nhắc lên Sài Gòn làm quan to có nhà lầu, có xe hơi, có cổng kín tường cao. Một hôm ông B nhơn dịp lên Sài Gòn chơi, nghĩ đến tình xa bạn cũ, nên ghé thăm ông A. Ông A đã không tiếp và lại còn bảo người ở ra trả lời rằng, “Quan lớn không có quen biết với kẻ ăn xin, đừng thấy sang bắt quàng làm họ. Ông nên về đi”. Đây là giọng nói của kẻ kiêu cách, của kẻ thiếu lịch sự khiêm cung.

2. Tâm Sở Mạn: là khinh mạn, ngạo mạn. Trạng thái tâm lý này thích biểu lộ tánh khinh khi và tỏ bày cử chỉ hống hách với mọi người chung quanh. Con ngời khinh mạn thường đề cao cá nhân mình trên hết và cho mọi ngời chung quanh đều là hạng thấp hèn. Họ ỷ có tài đôi chút hoặc cậy thế lực hơn người nên xem ai không ra chi. Những thái độ của người khinh mạn thường thể hiện trong những trường hợp như:. có khi hành động bộc lộ ra ngoài và cũng có lúc dấu kín cử chỉ ngấm ngầm bên trong thân tâm. Về phía cử chỉ dấu kín ngấm ngầm bên trong thân tâm của người khinh mạn, chúng ta chỉ để ý đến thì mới nhận biết được sự ngạo mạn của họ qua cách đối xử. Tâm Sở này được phân làm sáu loại như sau:

a. Mạn: nghĩa là người có đôi chút tài năng hoặc có quyền thế nào đó liền tự hào, hãnh diện, lên mặt hiu hiu tự đắc với mọi người chung quanh, chỉ thấy mình trên hết, xem mình quan trọng hơn cả và coi ai không ra chi. Ngư­ời khinh mạn thờng biểu lộ cử chỉ cao ngạo hống hách và bắt buộc mọi người chung quanh phải quan tâm đến mình. Còn đối với những kẻ tài năng và quyền thế ngang hàng mình, người khinh mạn hay ỷ lại, tự phụ và xem mình có vai vế tương đương với họ, cho nên trước công chúng, người kinh mạn giao tiếp với họ thiếu phong cách và thiếu lễ dộ.

Thí dụ 1: Ông thầy T.Q. có đôi chút tài năng được tiếng là người du học ngoại quốc lại là người đương kim một chức vụ nào đó trong Giáo Hội, rồi lên mặt cao ngạo nhìn mọi người không ra chi. Nhưng thật ra, có tiếng mà không có miếng, nghĩa là ông không có khả năng tương xứng với địa vị đương kim mặc dù họ là người du học.

Thí dụ 2: Ông T và ông H là hai người bạn thân với nhau và tài năn của hai người đều tương đơng nhau. Ông T thì may mắn hơn được phong chức là Giám Đốc của một Xí Nghiệp P.B. Một hôm, ông H vì muốn thăm ông T, nên từ Cần Thơ cồn cả lên thành phố Sài Gòn. Ông T đã không tiếp và lại còn sai nhân viên ra tiếp. Trong khi tiếp chuyện, người nhân viên tỏ thái độ bất cần trước mặt ông H. Ông H bất mãn ra về.

b. Quá mạn: nghĩa là đối với những người có tài năng và địa vị ngang hàng mình, người Quá Mạn thường lên mặt kiêu cách, tự cho mình hơn họ. Còn đối với những người có tài năng và dịa vị hơn mình, người Quá Mạn lại lên mặt khoe khoang tự cho rằng mình bằng họ.

Thí dụ 1: Cùng một địa vị ngang nhau, trớc mặt công chúng, anh X có bệnh Quá Mạn thích ra mặt thầy đời, tỏ ra mình là người lãnh đạo, tự cho mình là kẻ chỉ huy, đi cắt đặt người này, sai bảo người kia và bắt mọi ngời phải theo sự điều khiển của mình mà thật ra anh X không có nhiệm vụ chi cả.

Thí dụ 2: Thấy người khác có địa vị cao sang hơn mình, người có bệnh Quá Mạn thích khoe khoang, ưa khoác lác với mọi người rằng; Tài năng ông đó dâu có hơn tôi ông ấy nhờ gặp thời nên mới được địa vị như thế. Tôi nếu như ra lãnh đạo thì đâu có thua ông ấy.

c. Mạn Quá Mạn: nghĩa là tranh lấy phần hơn. Theo nguyên tắc, người ta thật sự đã hơn mình về khả năng cũng như đức độ Thế mà mình lại ra mặt tranh lấy phần hơn với họ và quả quyết rằng mình nhất định không thua họ. Ai khuyên can mình cũng không chịu nghe.

Thí du: Anh A và anh B tranh tài với nhau. Kết cuộc Ban Giám Khảo chấm anh A thua anh B. Nhưng anh A không chịu thua. Anh viện đủ lý do phản đối cho rằng, Ban Giám Khảo bất công, thiên vị. Anh cương quyết đấu tranh đòi hỏi anh B phải thi lại. Lúc đó mọi người đều khuyên can, nhưng anh cũng không nghe.

d. Ngã Mạn: nghĩa là ỷ mình có đôi chút tài năng và quyền thế, người bệnh Ngã Mạn thường đề cao cá nhân, tự cho mình là kẻ đáng quý hơn hết và mỗi khi giao tiếp với bất cứ ai, họ thường ra mặt khinh khi và hành động lấn áp những người chung quanh.

Thí dụ: Anh K là một nhà chánh trị có tài năng và địa vị trong xã hội, đương kim là một Nghị Sĩ trong Quốc Hội. Anh K thường hách dịch cao ngạo, tự tôn vinh mình và tự cho mình là nhân vật quan trọng trong xã hội. Anh ta nhìn mọi người dưới cặp mắt thấp hèn và cho họ không xứng đáng để anh ta làm quen. Người nào nếu như có tài năng bằng anh ta hoặc vượt bực hơn anh ta thì người đó nhứt định bị anh ta tìm mọi cách chèn ếp, lấn áp và đè đầu họ xuống không cho ngước lên.

e. Tăng thượng Mạn: nghĩa là những kẻ chưa chứng ngộ đến chỗ chân lý tuyệt đối chưa đạt được chánh đạo mà lại đi quảng cáo, đi khoe khoang, lâm ra vẻ mình đã chứng đắc để mờ mắt mọi người.

Thí dụ: Một vị tu pháp môn nào đó có chuyên nghiệp dôi chút, rồi lập dị, làm tướng, khoe khoang, dùng mọi kỷ thuật quảng cáo cho mọi người biết mình đã chứng đắc, nhằm để mê hoặc chúng sanh. Đồng thời họ chê bai các pháp khác của Phật đều sai lầm, chỉ có pháp của họ mới đúng chân lý v.v...

g. Ty Liệt Mạn: nghĩa là biết mình kém tài kém đức hơn người ta, nhưng vẫn khoe khoang với mọi ngời rằng, mình có nhiều tài nhiều đức hơn họ và chuyên đi khích bác người này, chê bai người nọ, cho tất cả không ai bằng mình.

Thí dụ: Anh G thì học lem nhem không có bằng cấp chi cả. Nhưng anh ta vẫn khoe khoang và khoác lác với mọi ngời rằng, anh có chứng chỉ này, có bằng cấp nọ, rồi anh mượn áo Cử Nhân, mượn áo Tiến Sĩ chụp hình để lòe đời. Nhưng khi vào thực tế anh chẳng làm được trò chi, bởi lẽ anh không có khả năng và trình độ chút nào cả.

Đặc tánh của Tâm Sở Mạn là nguyên nhân để sanh ra các tội lỗi và ngăn chận không cho Tâm lý Khinh An phát sanh.

Bao nhiêu bệnh Kiêu Mạn vừa trình bày đã nói lên được sự nguy hiểm của chúng trong việc điều khiển con người sinh hoạt ở mọi lãnh vực. Chúng tạo nên những nguyên nhân Chấp Ngã và Chấp Pháp kiên cố. Người tu hành muốn diệt sự chấp ngã và chấp pháp, trước tiên phải diệt những con bệnh Kiêu Mạn. Nhưng muốn diệt con bệnh Kiêu Mạn, chúng ta hằng ngày phải áp dụng phương pháp Lễ Bái một cách thuần thục. Lễ Bái là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất cho việc hóa giải con bệnh Kiêu Mạn. Con người can đảm cúi đầu hạ mình trước kẻ khác chính là người khiêm cung nhất. Con người đó đã diệt được tánh kiêu mạn và họ không còn chấp ngã chấp pháp nữa. Theo quan niệm của Phật Giáo, mình cúi đầu đảnh lễ trước kẻ khác không phải hành động mất phẩm cách con người. Cử chỉ đó biểu lộ sự tương kính và tăng thêm sự cảm thông đối với mọi người chung quanh. Con người sợ mình không có tài năng, sợ mình không có căn bản đạo đức làm người và đừng sợ rằmg, mình cúi đầu lễ bái kẻ khác sẽ mất thể diện. Đức.Phật cho chúng ta biết: “Tất cả chúng sanh đều cồ Phật Tánh”, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Tâm Phật. Tất cả chúng sanh đã có Tâm Phật thì tất nhiên họ cũng có Thân Phật. Tâm Phật trong Tâm chúng sanh thì Thân Phật cũng ở trong Thân phàm phu của chúng sanh. Cho nên một vị Sa Môn đảnh lễ một vị Tỳ Kheo không phải đảnh lễ tấm thân ô trược (tấm thân xác thịt nhơ nhớp tanh hôi) của họ mà ở đây, vị Sa Môn phải quán tưởng rằng, đang định lễ Thân Phật thanh tịnh trong con người của vị Tỳ Kheo đó. Giá trị của sự Lễ Bái qua Tiểu Sử về vua A Dục (Asoka) được ghi lại trong giai thoại như sau: Theo sử liệu, vua A Dục (Asoka) là con của vua Tân Đầu Sa La (Bindusàra) thuộc Vương Triều Khổng Tước (Vương Triều Maurya). Vua lên ngôi khoảng sau đức Phật nhập diệt 218 năm. Vua phát tâm theo Phật Giáo khoảng sau đức Phật nhập diệt 234 năm. Vua có công lớn nhất trong việc Kiết Tập Kinh Điển Phật Giáo lần thứ III. Giai Thoại rằng, sau khi Quy Y theo Phật Giáo, vua gặp vị Sa Môn nào và bất cứ ở đâu đều cúi đầu đảnh lễ sát đất. Vị Cận Thần thấy vậy khuyên vua rằng:

- Bệ Hạ là một vị cao quý được vạn dân tôn vinh và đầu của Bệ Hạ là biểu tượng cho các bậc Thánh Đức. Bệ Hạ đừng đảnh lễ mấy Đạo Sĩ ăn xin hạ tiện làm mất thể diện của Đức Vua.

Vua A Dục không trả lời và ra lệnh vị Cận Thần đó đi bán đầu người, đồng thời sai vị Đại Thần khác đi bán đầu heo. Chiều đến vua triệu hai vị vào cung báo cáo kết quả. Trước hết vua hỏi vị Đại Thần bán đầu heo: Khanh bán đầu heo như thế nào? Vị Đại Thần bán đầu heo thưa:

- Tâu Bệ Hạ, đầu heo không đủ bán cho dân. Họ yêu cầu cung cấp thêm.

Tiếp theo vua hỏi vị Cận Thần bán đầu người.

- Còn Khanh, Khanh bán đầu ngời nh thế nào?

Vị Cận Thần bán đầu người lo sợ tái mặt, cúi đầu cúm núm thưa:

- Muôn tâu Bệ Hạ, Hạ Thần bán đầu người không được. Ai cũng đều chê không chịu mua.

Vua liền nói:

- Như vậy đầu của Trẫm đây cũng không có giá trị bằng đầu heo?

Các quần Thần đều im lặng, ngẩn người.

Vua nói tiếp:

- Các vị Sa Môn là những bậc tu hạnh ly trần thoát tục, đáng cao quý. Trẫm đây cúi đầu đảnh lễ các bậc đã thật hành những điều mà người đời không thể làm được để tỏ lòng tôn kính họ. Tại sao các Khanh cản trở Trẫm. Từ đây về sau ai cản trở không cho Trẫm đảnh lễ các vị Sa Môn sẽ bị chém đầu.

Câu tryện lịch sử ở trên nói lên ý nghĩa và giá trị của sự lễ bái trong Phật Giáo mà vua A Dục đã bày tỏ trước quần thần. Người đời thường chìm đắm trong bể ái dục khổ đau một cách đam mê không chút gì giác ngộ. Những tiền của, danh vọng, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ v.v... trói buộc họ quá nặng trong vòng lẫn quẩn và thúc đẩy họ tạo thêm nhiều tội ác của nghiệp sanh tử luân hồi trong ba cõi. Họ biết đó là những điều đau khổ trước mắt, nhưng họ vẫn sa ngã và hành động không chút từ nan.

Thế mà, bậc Sa Môn là những người đã cắt ái ly gia, thoát khỏi những sự ràng buộc của thế tình, dứt bỏ ngoài thân năm điều ái dục, an nhiên tự tại trên con đường giải thoát và giác ngộ. Họ đã thoát khỏi những điều mà thế nhân không thoát khỏi và họ đã thật hành những hạnh thanh tịnh mà thế nhân không thể làm. Họ là những bậc đáng cao quý cho chúng ta lễ bái. Thế nên vua A Dục sẵn sàng đảnh lễ họ bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu mỗi khi được diện kiến.

Lợi ích của sự Lễ Bái như đã trình bày ở trước, ngoài công dụng tiêu diệt dần đần những phiền não trong mỗi con người, còn tăng trưởng Đạo Lực trong nội Tâm của người tu tập. Mình lạy người khác tức là mình lạy mình. Mình tôn vinh người khác tức là mình tôn vinh mình. Trường hợp này cũng như chúng ta học Anh Văn. Chúng ta càng đọc lớn lên chừng nào thì chúng ta càng mau thuộc chừng đó. Chúng ta càng học nhiều chừng nào thì chúng ta càng thuộc lòng nhiều và nhớ lâu chừng đó. Chúng ta càng niệm Phật nhiều chừng nào thì Phật Tâm của chúng ta càng phát triển chừng đó. Chúng ta càng lạy Phật tụng Kinh thâm hậu chừng nào thì công đức Đạo Lực trong nội Tâm của chúng ta càng nẩy nở và tăng trưởng chừng đó. Chúng ta phát ra Đạo Tâm bao nhiêu thì lúc đó chúng ta thâu vô Đạo Lực bấy nhiêu không bao giờ mất. Những công đức càng bồi dưỡng bao nhiêu thì càng phát triển bấy nhiêu không chút sai trái.

Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển 24 có ghi lại những điều lợi ích của sự Lễ Bái. Kinh nói rằng: Cung kính lễ bái đức Như Lai sẽ hưởng được năm phần công đức như sau:

1. Đoan Chánh: nghĩa là ngời lễ bái thấy tướng hảo của Phật liền khởi niệm hoan hỷ và phát tâm ớc mơ mong cầu. Nhờ nhân duyên đó họ qua kiếp sau có thể hưởng được tướng mạo đoan trang tốt đẹp.

2. Hảo Thinh: nghĩa là người lễ bái xưng tụng danh hiệu đức Như Lai ba lần. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau có thể được tiếng nói lảnh lót trong trẻo tốt đẹp.

3. Đa Tài Bảo: nghĩa là người lễ bái thường dâng hoa, đốt đèn v.v... để bố thí cúng dường các đức Như Lai. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau hưởng được nhiều tiền của vật báu.

4. Sanh Trưởng Giả Gia: nghĩa là người lễ bái đem tâm không chấp trước, chấp tay quỳ gối, chí thành lễ Phật. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau được sanh vào nhà giàu sang quí tộc.

5. Sanh Thiện Xứ Thiên Thượng nghĩa là nhờ công đức cung kính lễ bái các đức Như Lai, hành giả (người lễ bái) đời sau sẽ được sanh vào các cõi lành hoặc các cõi trời.

Tóm lại, Lễ Bái không phải hành động thấp hèn làm mất phẩm cách con người. Trái lại Lễ Bái chính là một đạo nghĩa của con người tiến bộ và còn là một đạo lý của Tín Đồ chân chánh. Đối với Tổ Tiên, người Hiếu Hạnh cần phải lễ bái để tỏ lòng cung kính đối với Thánh Hiền, Tín Đồ chân chánh cần phải lễ bái để thể hiện đức tính khiêm cung trong sự tu tập đạo lý giác ngộ. Lễ Bái nhầm giao cảm với bề trên, kết sợi giây tương thân trong xã hội và tạo nên chất liệu để xóa bỏ mọi dị biệt ngăn cách chia rẽ trong đoàn thể. Người con Hiếu Hạnh không thể thiếu c­ung cách Lễ Bái. Người Tín Đồ trung kiên và đạo đức gương mẫu không thể thiếu nghĩa vụ với nghi cách Lễ Bái này.



IV.- KẾT LUẬN:

Vấn đề thờ, cúng và lễ bái là những biểu tượng tín ngưỡng có giá trị chẳng những về phương diện hình thức và còn hữu ích không nhỏ về phương diện tâm linh. Thờ, cúng và lễ bái là nhu cầu cần thiết cho con người không thể thiếu trong việc tu tập đào luyện đạo đức làm người. Vấn đề trên chẳng những cần thiết cho cá nhân mình, cho gia đình mình trong đời này, mà hơn nữa, đây cũng là một nhu cầu hữu ích cho thế hệ con cháu mai sau. Chẳng những thế vấn đề THỜ, CÚNG và LỄ BÁI còn là một yếu tố cần thiết trong việc tạo dựng nhân lành cho cuộc đời mình ở kiếp sau. Điều này rất quan trọng kể cả hình thức lẫn nội dung, kể cả sự tướng cho đến lý tánh, để chúng ta và tất cả chúng sanh sớm giải thoát phiền não khổ đau và được an vui tự tại trong sự giác ngộ.

Thờ ở đây nhằm thể hiện sự tưởng niệm, tỏ bày lòng Tôn Kính dâng lên các bậc Tổ Tiên và các vị Thánh Đức mà mình đã gởi trọn niềm tin. Người Thờ Cúng và Lễ Bái là tự tạo điều kiện giao cảm, thiết lập điểm tựa cho Tâm Linh giữa họ với Bề Trên mỗi khi cảm thấy tâm hồn lạc lỏng mà chính họ cần đến quyền năng hỗ trợ của Tiền Nhân. Thờ ở đây còn là một hình thức giáo dục gia đình, nhắc nhở con cháu ý niệm được bổn phận làm người đối với bề trên trong sự nghiệp kế thừa Truyền Thống. Hình Thức Thờ Tự cũng tạo phương tiện cho con cháu noi g­ương đức hạnh của Tiền Nhân để soi sáng cõi lòng tu tâm dưỡng tánh.

Cúng ở đây nhằm tri ân sâu dầy của Tổ Tiên, của Thánh Hiền đáng kính với sự dâng hiến lễ vật quý trọng và mong cầu ơn trên chứng minh gia hộ. Ngoài ra Cúng kỵ còn tăng trưởng phước Ông Bà cho dòng họ Cháu Con và tăng trưởng Đạo Lực giải thoát cho Tín Đồ qua hệ thống Tâm Linh làm gạch nối giữa người nguyện cầu với các bậc Tiền Nhân Thánh Đức. Có thể nói Cúng Kỵ rất cần thiết cho việc giáo dục gia đình ý niệm Truyền Thống Tổ Tiên, lý tưởng Giống Nòi và làm tròn nghĩa vụ Đạo Đức con người. Muốn bồi dưỡng Tâm Linh lành mạnh, người Đạo Đức và Hiếu Nghĩa không thể không Thờ, Cúng và Lễ Bái Tổ Tiên, Chư Phật và Thánh Hiền.

Lễ Bái ở đây nhằm báo ân với cung cách quy ngưỡng, hướng về, cũng như noi gương đức hạnh cao quý và ý chí siêu thoát của các bậc Tôn Kính để tu tập. Người Lễ Bái mong cầu sau này kế thừa xứng đáng sự nghiệp của Tiền Nhân trên con đường giác ngộ và giải thoát khổ đau sanh tử. Phận làm cha mẹ cần phải giải thích cho con cháu hiểu rõ ý nghĩa và giá trị Thờ, Cúng và Lễ Bái. Con cháu nhờ đó tiếp nối sự nghiệp Thờ, Cúng và Lễ Bái của Tổ Tiên cho đúng đạo lý.

Truyền Thống Văn Hóa Việt Nam, Vấn đề Thờ, Cúng và Lễ Bái là hình ảnh linh động nhất, cao đẹp nhất, sâu đậm nhất của một Dân Tộc có hơn Bốn Ngàn Năm Văn Hiến. Hình ảnh Thờ, Cúng và Lễ Bái làm sống dậy tinh thần Hiếu Nghĩa và Đạo Đức Nhân Luân của con Lạc cháu Hồng, Việt Nam bất diệt.
Về Đầu Trang Go down
heart
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Cúng giỗ và thờ phụng tổ tiên    Mon Apr 04, 2011 9:52 pm



Cúng giỗ và thờ phụng tổ tiên


Theo tục lệ, ngày giỗ là "chung thân chi tang" có nghĩa là ngày tang trong suốt cả đời người. Mỗi năm vào đúng vào ngày chết của một người là một lần giỗ cho nên người xưa thường quan trọng ngày cúng giỗ ông bà cha mẹ.

Những gia đình sung túc thường làm lễ cúng tiên thường vào ngày hôm trước để yết cáo tổ tiên và cáo tri người được làm giỗ. Lễ cúng này vào buổi chiều. Nhiều nhà có hương hỏa, lợi nhuận hay kỵ để làm giỗ thì anh em bà con thân thích đến cúng tiên thường xong, đêm ở lại chầu chực gia tiên để qua ngày hôm sau làm lễ bái chính giỗ. Lệ thường người ta làm giỗ lớn với bậc sinh thành, rồi mỗi đời trở lên được làm kém đi. Chẳng hạn như giỗ các cụ, kỵ xa đời cùng là những người thân thuộc nhưng không quan trọng về huyết thống trong gia đình như chú bác, cô dì không có con cháu giỗ quảy mà mình phải thay thế thì làm giỗ đơn giản, không có mời khách khứa gọi là "giỗ giúi".

Theo tục lệ, cho dầu làm tiệc lớn mấy đi chăng nữa, bữa cúng cũng phải có chén cơm xới đầy có ngọn, úp lồng một cái chén khác lên trên gọi là chén cơm lồng cùng trứng gà luộc đã bóc vỏ dẹt ra trên đĩa với một ít hột muối. Vì thế mới có tên cúng giỗ là "cúng cơm". Những khách khứa cùng bà con thân thích, trước khi ngồi vào bàn, ván ăn giỗ phải làm lễ dâng cúng với những lễ vật mình đem tới và lạy trước bàn thờ xong đã.

Trên bàn thờ đèn nhang đã được thắp từ trước khi các thức ăn được bày lên. Gia trưởng phục sức chỉnh tề, có khi mặc áo thụng, chú trọng xem xét và rà soát lại các lễ vật có đầy đủ rồi mới bước vào chiếc chiếu trải trước bàn thờ, lễ bốn lạy, quỳ xuống, hai tay chắp lại vòng ngang trán. Một trong hai người chấp sự, thường là em hay con cháu gia trưởng, đứng hai bên bàn thờ, lấy ba nén hương châm lửa thắp, đưa cho gia trưởng vái một vái dài rồi trao lại đem cắm lên bát hương. Người chấp sự thứ hai mở nút bình rượu, rót rượu lên ba chén để trên đài, xong đâu vào đó rồi gia trưởng làm lễ khấn. Lời khấn có những đặc điểm sau:

1. Cáo tri địa điểm hành lễ, từ nước trở xuống xã thôn.
2. Nói rõ con cháu, liên hệ gia đình làm lễ cúng với các món cỗ bàn, dâng lên hương hồn ai có tên gì, từ trần ngày tháng năm, chôn ở đâu.
3. Mời người có tên giỗ về hưởng, chứng tri lòng thành và phù hộ cho con cháu được mọi sự tốt lành.
4. Cũng mời tất cả các vị tổ, đọc rõ tên, cùng thân thuộc nội ngoại đã quá vãng cùng về hưởng lễ cúng.

Khấn xong, gia trưởng cúi xuống, lễ nốt một nữa lạy nữa rồi đứng lên vái ba vái rồi lùi ra. Tiếp sau đó là những người trong họ tộc, theo thứ tự quan trọng và hạng bậc vào làm lễ với bốn lạy ba vái. Nếu là lễ tế, thì theo tục lệ tế lễ thần thánh, tế tổ tiên... có ghi các nghi tiết được sắp xếp một cách quy củ trang trọng. Trước bàn thờ chính có trải bốn chiếc chiếu. Hai bên chiếu trải, bên phải bàn thờ có án để rượu và đèn nến, bên trái có án để đài rượu và khay trà. Nghi tiết đầy đủ thường được áp dụng trong một cuộc tế lớn trong làng xã hay gia đình Phật giáo và Khổng giáo gồm có các thủ tục đại cương, ghi theo thứ tự tờ xướng lễ như sau:

1. Hành Tế Thánh đại lễ, chấp sự giả các tư kỳ sự (Bắt đầu tế Thánh, các vị chấp sự phải liệu việc của mình).
2. Khơi chung cổ (Đánh chuông trống thường là ba hồi).
3. Nhạc công tấu nhạc (phường bát âm cử nhạc).
4. Thuế cân, nghệ quán tẩy sơ (Các vị dự tế rửa tẩy, lau tay).
5. Chánh tế viên tựu vị (Vị chánh tế vào đứng ở chiếu thứ ba).
6. Bồi tế viên tựu vị (Các vị bồi tế vào đứng ở chiếu thư tư).
7. Cử soát tế vật (Hai người chấp sự cầm đèn đưa cho vị chánh tế đi kiểm soát các lễ vật coi như có sơ suất không).
8. Tham thần cúc cung bái (Chủ tế và bồi tế cùng lạy bốn lạy nhịp xướng theo nhịp xướng của người xướng tế: hưng là đứng dậy, bái là lạy theo lối phủ phục toàn thân).
9. Hành sơ hiến lễ. Chánh tế viên nghệ hương án tiền (Làm lễ sơ hiến, vị chánh tế bước ra ngoài, vòng lên chiếu thứ nhất trước hương án).
10. Quỵ (Vị chánh tế quỳ xuống).
11. Tiến tước (Hai chấp sự đem rượu đến quỳ cạnh chủ tế cho chủ tế rót. Chủ tế vái rồi đưa cho chấp sự để lên bàn thờ).
12. Phủ phục, hưng bái (Chủ tế khấu đầu, lạy hai lạy).
13. Bình thân, phục vị (Chủ tế đi ra, vòng xuống đứng lại ở chiếu thứ ba).
14. Nghệ độc chúc sở tại hương án tiền (Chủ tế bước lên chiếu thứ nhất).
15. Quỵ (Chủ tế quỳ xuống).
16. Chuyển chúc (Hai chấp sự lên bàn thờ đem chúc xuống quỳ bên cạnh chánh tế).
17. Tuyên đọc (Người đọc chúc quỳ bên cạnh tuyên đọc).
18. Phủ phục, hưng bái (Chủ tế khấu đầu lạy hai lạy).
19. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ).
20. Hành Á hiến lễ nghệ hương án tiền (Dâng rượu lần thứ hai như lần sơ hiến).
21. Phủ phục, hưng bái (Khấu đầu lạy hai lạy).
22. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ).
23. Hành Chung hiến lễ nghệ hương án tiền (Dâng rượu lần thứ ba).
24. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ).
25. Nghệ tộ sở (Chủ tế lên chiếu lần thứ hai chờ lễ tộ sở).
26. Quỵ (Chủ tế quỳ xuống).
27. Tứ phúc tộ (Chấp sự lên bàn thờ lấy khay rượu thịt được thần hay gia tiên ban cho chủ tế).
28. Thụ tộ (Chấp sự đưa khay cho chủ tế. Chủ tế đón nhận, uống một hớp rượu tượng trưng). Khay rượu thịt cho chủ tế mang về sau khi tế xong.
29. Phủ phục, hưng bái (Khấu đầu lạy hai lạy).
30. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ).
31. Bình thân điển trà (Chấp sự dâng trà lên bàn thờ).
32. Hành tạ lễ cúc cung bái: (Chủ tế và bồi tế tạ bốn lễ).
33. Bình thân phần chúc (Chủ tế và bồi tế đứng lui ra để người chấp sự đốt sớ).
34. Lễ tất (Xong lễ, mỗi người vái ba vái).

Trong lễ này có mấy điều chú ý như sau:
- Khi chủ tế di chuyển đổi chỗ trên các chiếu, từ chiếu dưới lên chiếu trên thì phải bước ra khỏi chiếu rồi bước lên về phía bên phải của mình, và khi trở xuống cũng bước ra khỏi chiếu trở về phía bên trái của mình tức là bên phải của bàn thờ.
- Hai người bồi tế ngoài nhiệm vụ phụ giúp chủ tế trong việc hành lễ còn có nhiệm vụ thay thế người chủ tế nếu người này vì bất cứ lý do gì không hành lễ được.
- Khi đốt sớ, mọi người dự tế đều phải đứng quay mặt và ngó vào chỗ đốt sớ.

Cách thức lạy

Ngày nay, cách lạy cũng đã được giản lược, hoặc vì không hiểu đúng phép người ta hành lễ một cách lấy có với những động tác vô nghĩa. Đã có xu hướng thay thế lạy bằng những cái "xá", nhất là những người ăn mặc Âu phục. Rồi đây, có thể tục lạy sẽ bị bỏ dần và mất hẳn trong mọi lễ nghi trong gia đình cùng ngay cả ở các đền chùa. Thiết tưởng cũng cần ghi lại một vài nét về tác động của cách lạy với hoài mong lưu lại một chút cơ sở về sau.

Người lạy đứng thẳng, chắp tay lên cao ngang trán, cong mình xuống, đặt hai tay vẫn chắp xuống chiếu, cúi rạp đầu xuống gần bàn tay đang chắp (đây là thế phủ phục), cất đầu vào mình thẳng lên đồng thời co hai tay vẫn lên chắp trước ngực và co đầu gối bên phải lên, đặt bàn chân phải lên chiếu để sửa soạn đứng dậy, đem hai bàn tay vẫn chắp xuống tì vào đầu gối bên phải mà đứng lên, chân trái đang quỳ tự nhiên theo cử động chót này cùng đứng thẳng lên. Người lạy, trước khi khấn đã lễ bốn lạy, và sau khi khấn từ tư thế quỳ đứng lên, đã qua như lễ được một nữa lạy, cho nên người ta thường nói là lạy "bốn lạy rưỡi" là vậy.

Văn tế, văn khấn thật ra chỉ là những lời nói sửa soạn trước cho được nghiêm chỉnh với việc dùng từ ngữ cẩn thận và cách thức kính cẩn trình bày lên các đấng thần thánh, với tổ tiên trong các lễ tế hay cúng giỗ. Cũng có một số bài đã trở thành những áng văn chương tuyệt tác, ý nghĩa thâm trầm được làm ra do những văn tài xuất chúng. Chẳng hạn như bài văn tế tiểu tường do thi sĩ Tản Đà làm giúp cho một vị tri huyện tế mẹ đã được dẫn ở đoạn trước. Thông thường văn tế, văn khấn chia làm ba đoạn chính:

1. Đoạn thứ nhất gồm có ngày tháng, tên của người đứng ra chủ động việc cúng tế và nói về lễ vật.
2. Đoạn thứ nhì gồm tên tuổi, hiệu, thụy các vị được cúng tế.
3. Đoạn thứ sau cùng nói rõ mục đích của tế lễ, nhân dịp nào.

Văn tế thường theo một thể riêng như thể phú. Văn khấn có thể viết theo văn vần, gồm một đoạn theo thể phú, hoặc bằng văn xuôi. Văn khấn cũng như văn tế, khi người hay giỏi chữ Nho thường dùng Hán văn, về sau người ta chuyển sang Việt văn. Cần nhất là hay, có ý nghĩa và được đọc một cách trang trọng. Điều cần lưu ý là trong các lễ giỗ kỵ, văn khấn nên viết sẵn ra giấy. Người chủ lễ đứng trước bàn thờ, vái bốn vái rồi cầm giấy đưa ra trước mặt mà đọc. Đọc xong vái năm cái. Tiếp theo là thân nhân trong gia đình vào lễ theo thứ tự.

Sau đây là một bài văn khấn Nôm bằng thơ nhằm mục đích giúp đàn bà, trẻ con có thể học và dễ nhớ theo một thức giả xưa làm ra, dùng vào việc cúng lễ gia tiên:

Ngày ... tháng ... năm (âm lịch), tín chủ là ... tuổi ... sinh quán tại ... trú quán tại ... cùng toàn gia.

Cúc cung bái trước bàn thờ,
Kính dâng lễ bạc hương hoa rượu trầu.
Cùng là phẩm vật trước sau,
Lòng thành tâm nguyện thỉnh cầu gia tiên.
Cao tằng tổ khảo đôi bên,
Cao tằng tổ kỷ dưới trên người người.
Cô dì chú bác kính mời,
Đệ huynh đồng thỉnh tới nơi từ đường.
Cúi xin hưởng chút lễ thường,
Và xin phù hộ khang cường toàn gia.

Cẩn cáo
Cẩn Trọng khi dâng cúng Gia Tiên

Thức ăn các thứ, nói chung là đồ lễ dâng cúng gia tiên bao giờ cũng thanh khiết và dành riêng, không được để con cháu đứa nào đụng tới. Các thức ăn đã nấu nướng xong, phải đem cúng gia tiên trước rồi con cháu mới được ăn. Cũng như lúc ông bà còn sống, ông bà cha mẹ chưa ăn thì con cháu không được phép động tới.

Để tránh tình trạng lỗi lầm do không biết của các cháu nhỏ, các thức ăn nấu nướng xong phải được múc ra dành cho việc cúng lễ cho phải phép.

Trong việc cúng ông bà, chẳng nên làm lấy có hay chỉ để khoe khoang với thiên hạ. Phải lấy tâm thành, kính trọng làm gốc. Người xưa quan niệm rằng trong lòng nghĩ thế nào quỷ thần đều biết rõ (Tâm động quỷ thần tri).

Cúng bái chỉ làm cho có hình thức, thiếu lòng thành kính tức là thiếu sự hiếu thảo ngay lành. Không một vị tổ tiên nào chứng giám cho những con cháu có cúng mà không có kính. Thà chén cơm dĩa muối mà lòng thành hơn mâm cao cỗ đầy mà tâm địa dửng dưng.

Thờ Phụng Tổ Tiên

Thờ ông bà là một bổn phận và nhiệm vụ trọng đại đặc thù của người Việt Nam. Trong quảng đại quần chúng xưa và nay, người ta thường nói "đạo thờ ông bà" là tín ngưỡng sâu sắc, nhưng không là một tôn giáo, "đạo" nói ở đây phải hiểu là đường lối.

Thờ ông bà là một trách nhiệm có tính cách luân lý, sự phát lộ tình cảm và lòng tin huyết thống được thể hiện trong môi trường gia tộc, không có tính cách thần thánh hóa, nhất là không có tu sở như là chùa hay nhà thờ và cũng không cần có người giảng thuyết làm gạch nối liền giữa đạo và đời. Thờ ông bà xuất phát từ tâm thành của người sống, thế hệ sau đối với người chết, thế hệ trước. Thờ thì phải có lễ và cúng bái, hành động biểu tỏ lòng tôn kính và nhớ thương. Dân tộc Việt Nam chủ trương thờ ông bà là vì đã từ lâu hiểu rằng "cây có cội, nước có nguồn", ai ai cũng tưởng nhớ đến nguồn gốc sinh thành ra mình.

Tinh thần "uống nước nhớ nguồn" là một trong những bài học đầu tiên về "học làm người", mở đầu cho những bài giáo khoa luân lý và công dân giáo dục, được các học trò nhỏ đọc ra rả ở lớp vỡ lòng dưới các mái trường xưa:

"Cây có gốc mới nở nhành xanh ngọn,
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu,
Người ta nguồn gốc từ đâu?
Có cha mẹ rồi sau có mình."

Tổ tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra mình. Người con hiếu thảo phải biết ơn nghĩa sinh thành của bố mẹ, và đã hiếu với cha mẹ phải hiếu với ông bà tổ tiên tức là nguồn gốc của mình. Lúc ông bà, cha me còn sống, con cháu phải phụng dưỡng, phải tuân theo các lời dạy bảo của các người, cũng như thờ các tổ tiên về trước.

Thờ cúng tổ tiên nghĩa là lập bàn thờ tại nhà và cúng bái trong những ngày sóc vọng giỗ tết. Người Việt Nam thường ngoài tôn giáo của mình đều có thờ phụng tổ tiên, kể cả những người theo Thiên Chúa giáo. Thực ra thờ phụng tổ tiên không phải là một tôn giáo, do đó không thể gọi là đạo ông bà được. Là một đạo phải có giáo chủ, giáo điều và việc hành đạo phải qua trung gian tu sĩ. Thờ phụng tổ tiên do lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà cụ kỵ đã khuất.

Cây có gốc mới nở nhành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu, thì con người phải có tổ tiên mới có thể có mình được. Bỏ tổ tiên không thờ phụng tức là quên nguồn gốc, huống chi ông bà đã là những người sinh dưỡng cha mẹ và cha mẹ đã là những người sinh dưỡng mình. Những người theo Thiên Chúa giáo, tuy không lập bàn thờ tổ tiên, nhưng không phải là không thờ phụng tổ tiên. Những ngày giỗ chạp họ vẫn làm cỗ và cầu nguyện cho người đã khuất và việc không có bàn thờ tổ tiên là việc chuyển đổi bàn thờ tổ tiên đến bàn thờ Chúa, vậy nghĩa là vẫn có sự thờ phụng tổ tiên thông qua bàn thờ của Chúa.

Qua việc thờ phụng tổ tiên tại Việt Nam, người khuất và người sống luôn luôn có một sự liên hệ mật thiết. Sự thờ cúng chính là sự gặp gỡ của thế giới hữu hình và vũ trụ linh thiêng. Đối với người Việt Nam, chết không có nghĩa là chết hẳn, thể xác tuy chết nhưng linh hồn vẫn còn và vẫn còn lui tới với gia đình. Thể xác thì tiêu tan, nhưng linh hồn thì bất diệt.

Tục ta từ xưa thì tin rằng dương sao âm vậy, người sống cần gì, sống làm sao thì người chết cũng như vậy và cũng có một cuộc "sống" ở cõi âm như ở trên dương thế. Nói cách khác đi, người chết cũng cần ăn uống tiêu pha, có nhà ở như người sống. Tin như vậy, việc cúng lễ là cần thiết, và việc thờ phụng tổ tiên không thể không có được. Cổ tục lại có tin rằng vong hồn của những người đã khuất thường luôn ngự bên bàn thờ để được gần con cháu, theo dõi con cháu trong công việc hàng ngày và giúp đỡ con cháu trong những trường hợp cần thiết.

Sự tin tưởng vong hồn ông bà ngự bên bàn thờ có nhiều ảnh hưởng lên hoạt động của người sống. Nhiều người vì sợ vong hồn cha mẹ buồn trách những hành vi xấu xa, và đôi khi định làm một công việc gì cũng suy tính kỹ lưỡng, xem công việc đó lúc sinh thời cha mẹ có chấp nhận hay không. Người ta lại sợ mang tội bất hiếu nếu làm cho vong hồn cha mẹ phải tủi hổ qua hành động của mình. Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong Đất Lề Quê Thói nhận định: "Đã nói tới tín ngưỡng dĩ nhiên có vấn đề tin và không tin." Đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên là sự hiển nhiên, không có nghi vấn tin hay không tin.

Hiển nhiên, cho nên người ta vẫn cảm thông trong việc thờ cúng, mà luôn luôn tâm niệm: "Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn" (thờ lúc chết cũng như thờ lúc còn sống, thờ lúc đã khuất cũng như thờ lúc hãy còn.) Trên nhiều bàn thờ tổ tiên ta thường thấy bức tranh hai chữ "Như tại" (như có ở đây) là để nói lên cái nghĩa ấy.

Kỳ đại hội tháng 10 năm 1682 ở Hội An (Trung Phần) quy tụ hai vị giám mục và gần một trăm giáo sĩ, thầy giảng các dòng đạo Ky-tô, đã thảo luận sôi nổi về việc có nên hay không nên cấm tín đồ Ky-tô thiết lập bàn thờ gia tiên trong nhà, thay đổi và hạn chế những lễ nghi trong đám tang ông bà cha mẹ và trong việc thờ cúng tổ tiên, nhận thấy rằng thờ cúng tổ tiên không phải là mê tín dị đoan. Hơn một trăm năm sau, chính một nhà truyền giáo Ky-tô, ông Bá - Đa - Lộc, cũng thắc mắc về điểm trên. Theo ông thì việc thờ cúng tổ tiên phải được coi như là việc tỏ tình kính mến đối với người đã khuất. Nếu ông kịp đi La Mã trước khi mất, như ông đã dự định, thì có lẽ ông đã trần thuyết được với tòa thánh chấp nhận ý kiến của ông.

Cử nhân Hán học Tây Hồ Bùi Tấn Niên nhận định: "Cổ lễ quan niệm rằng việc sinh tử là điều quan hệ nhất trong đời người ta. Sinh là khởi thủy, tử là chung cuộc của đời người, vì vậy thủy chung đều phải trọn vẹn." Người quân tử phải thủy chung như một. Nếu chỉ biết trung hậu với người còn sống mà bạc bẽo với người đã chết, thì đều không phải đạo. Chính vì thế mà Cổ lễ dành rất nhiều nghi thức quan trọng cho việc tế tự. Đức Khổng Tử đã nói rằng: "Tế như tại, tế thần như tại" (ý nói tuy không thấy thần linh ra nhưng khi tế cúng coi như thần linh tại đó, phải để tâm hồn tâm kính.)

Sinh hoạt xã hội Việt Nam trong hàng ngàn năm qua cũng rất chú trọng đến việc tế tự. Tại triều đình thì có tế Giao Miếu, tế Xã Tắc, các tỉnh có tế Thánh, mỗi làng có tế Thần, tư gia có cúng Tổ tiên... Riêng việc cúng Tổ tiên đã thành ra một tục lệ có tính cách dân tộc văn hóa và đi ra khỏi phạm vi tôn giáo.
Về Đầu Trang Go down
heart
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: PHÉP XÓA BỎ CĂN ĐỒNG SỐ LÍNH   Mon Apr 04, 2011 9:59 pm

PHÉP XÓA BỎ CĂN ĐỒNG SỐ LÍNH - ĐẠO THÁNH ĐẤT VIỆT.


26.10.2009 05:34



Hiện tại Đức Minh đã Không còn là Thanh Đồng của Đạo Thánh Đất Việt. Đã xóa bỏ được căn đồng số lính của bản thân Đức Minh bằng Phép Thánh. Và đã được đạo Thánh chấp thuận cho trở lại làm một người trần gian bình thường. Không còn phải hầu bóng Thánh, không còn bắt buộc phải làm việc Thánh Nữa.

Để xóa bỏ được căn số ( căn đồng số lính ) của chính Đức Minh, người mang trọng trách và sứ mệnh Phát dương Đạo Thánh. Đức Minh đã dùng đúng lề luật và uy linh thực có quyền lực của Thánh đạo, để thuyết phục binh quyền trong cõi tâm linh Đất Việt, giúp Đức Minh toại Ý. Giúp Đức Minh thoát khỏi cái thế kẹt giữa hai dòng âm binh, đang tranh dành quyền lực tại Đất Việt.



Đức Minh cũng rất mong những người cùng khổ như Đức Minh, cũng thoát được cảnh khổ vì căn cơ số mệnh.



Phép xóa bỏ căn đồng số lính đạo Thánh đất Việt này nếu làm Thực có hiệu quả, Thì người Pháp sư hoặc Thanh Đồng có thực quyền lực trong tôn giáo, Phải thỉnh được chính vị Thánh cai đầu đồng của đương sự, về nhập vào xác người trần.

Và chấp nhận cho người trần đó Được cộng đồng Tiên Thánh Đất Việt chấp thuận xóa bỏ cho căn đồng số lính. Mới Thực là chắc chắn thành công trong phép giải bỏ căn đồng này.



Người thầy ( đồng Thầy - Pháp sư ) nếu chỉ dùng đồng tiền đài âm dương như mọi người vẫn thường dùng, để hỏi ý Thánh Thần, thì chẳng khác gì Muỗi đốt vào nilon. Chẳng khác gì tạo cơ hội cho ma quỷ lộn sòng tắc quái, đội lốt bóng Thánh để làm trò tổn hại đến kinh tế vật chất của người trần gian, mà đương sự thì vẫn bị quân quyền của Đạo Thánh hành khiến. ( tiền vẫn mất - tật vẫn mang ).



Giờ đây Đức Minh không còn là Thanh Đồng của đạo Thánh đất Việt, Không còn quyền lực trong tôn giáo, nhưng vẫn có thể hồi giáo ( phục hồi quyền lực bất cứ lúc nào Đức Minh muốn, với tư cách là Pháp chủ của những Pháp Thánh, mà Vua Cha Ngọc Đế đã ban quyền Ban phép cho Đức Minh ).



Trong số những môn đệ của Đức Minh, thì Thanh Đồng Vũ Thị Thanh Hương đã Được phép Được quyền của đạo Thánh, Để làm Phép xóa Bỏ căn đồng số lính cũng như kêu xin phúc lộc...v...v... Của đạo Thánh Đất Việt.



Thanh Hương được phép giúp chăm họ giải đi căn số mà người trần gian không muốn, và không có khả năng hành sự - phụng sự Thánh đạo, cùng một số Phép của đạo Thánh, giúp việc cho nhà Thánh thế chỗ của đức Minh.



Giúp những người bị rơi vào Gia tộc Kém Phúc đức, thoát khỏi sự hành khiến chi phối của Vong tà đội lốt bóng Thánh, bức bắt, hành hạ, đầy đọa, ép người trần gian phải hầu hạ dạ vâng vong hồn, bằng nghi lễ khăn chầu áo ngự cung thỉnh bóng Thánh dáng đồng.



Người làm lễ ( làm phép ) xóa bỏ ( giải đi căn đồng số lính ) phải thấy rõ sự thay đổi trong tư tưởng lẫn cuộc sống tốt lành lên, ngay sau khi làm phép xóa bỏ căn số đồng bóng. Thì mới thực là có hiệu quả ở phép này.



Còn nếu đương sự làm lễ xóa bỏ căn đồng số lính, mà vẫn thấy mình bị hành khiến, bị đầy đọa tinh thần và thể xác, thì phép xóa bỏ căn đồng số lính này vẫn chưa có hiệu lực. ( Có thể do người thầy làm lễ không có thực quyền lực trong đạo Thánh - hoặc nghi lễ làm không đúng, không có hiệu quả sát thực ). Nên người có căn đồng số lính đạo Thánh Đất Việt vẫn bị hành khiến.



Ai muốn xóa bỏ căn cơ số mệnh ( giải bỏ ) Phải hầu bóng Thánh của Thánh đạo Đất Việt, Hãy liên hệ với Thanh Đồng Vũ Thị Thanh Hương, chứ đừng tìm Đức Minh nữa. Bởi hiện giờ Đức Minh không còn khả năng và quyền lực trong tôn giáo, để giúp được mọi người.



Chúc mọi người thoát khỏi căn số khốn khổ, như Đức Minh.







Liên hệ với Thanh Đồng, nhà ngoại cảm :

Vũ Thị Thanh Hương



ĐT: 098 656 3233







Hồi bút :



Đức Minh hiện giờ không còn làm thầy, không còn là Thanh đồng của Đạo Thánh Đất Việt, để mà bị gen đồng, gen bóng, gen tài, Nhưng đến giờ thì Đức Minh cũng đã hoàn thành sứ mệnh. Đã mang được pháp lực ngoại cảm của bản thân phát tán tới chăm họ đồng đạo. Và cũng đã đưa được ra những bất cập của nội bộ đạo Thánh đất Việt trong thời hiện tại. ( Ở thời Mạt pháp này ).



Để chăm họ nhân gian biết phân biệt đâu là đồng Thánh bóng thiện, đâu là đồng tà bóng ma, để suy tôn kính trọng những vị Thánh, những Thanh đồng, những bực thầy trong tôn giáo mà đi theo, một cách chuẩn mực.



Để Những loại sưng danh là Thanh đồng mà điêu, gian, sảo trá, bất lương, bất tín, bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất thiện, ích kỷ, bẩn tính, bậy bạ, thất đức, ác nhân ác tính và suy tôn kẻ ác, rồi những kẻ bịp bợm, những thứ chăn giắt những người đã khổ vì căn số lại rơi vào cảnh khốn khổ khốn nạn hơn, sẽ không còn được ai kính phục mà đi theo những thứ đồng ma ( sưng danh Thanh Đồng ) bất Thánh thiện đó nữa.



Để những người đã ngồi vào chiếu giữa mặc áo của các vị Thánh, sưng danh là Thanh Đồng, hầu Bóng Thánh, phải sống và làm việc Thánh thiện một cách thực sự.



Đạo Thánh từ trước đến nay chưa được Thế giới công nhận là tôn giáo, bởi chưa có giáo lý đưa ra để giáo hóa đức tin của chăm họ một cách quy chuẩn. Thì nay Đức Minh qua đúc kết giác ngộ sự giáo hóa bằng tâm Linh của Thánh đạo mà đưa ra giáo lý hết sức đơn giản đó là : Đạo đức tư tưởng Thánh thiện nhân từ.



Để từ giờ trở đi tất cả những người khăn chầu áo ngự hầu bóng Thánh có được một giáo lý thực sự cao đẹp mà tu, mà sửa, mà làm chuẩn mực đối với sự suy tôn các vị Thánh, suy tôn linh hồn bóng Thánh, suy tôn Thanh đồng của các ngôi vị Thánh của đất Việt.



Chứ không còn ù mờ về việc suy tôn một vị Thánh, linh hồn bóng Thánh, người làm Thanh đồng ( đồng dạng bóng hình ) của một vị Thánh nào đó hầu bóng Thánh.



Bởi nếu dựa vào công tích và tài năng để suy tôn thành Thánh, thì đất Việt quá nhiều đối tượng, ( kể cả những người mang bản tính ác ), nhiều vua chúa quan lại của đất Việt có công tích, nhưng nhân tính thì ác.



Và nếu cứ dựa vào công tích để suy tôn thành Thánh của đất Việt, như một số người từ trước đến nay vẫn suy tôn , thì sẽ rất dễ phát sinh cái ác, lẽ ác, tính ác, bản chất độc ác, trỗi dậy trong cõi tâm linh, ngự trị, tác động, chi phối, tới tư tưởng người trần gian gây ra họa hại khổ nạn. ( gây ra tệ nạn cho xã hội dương trần, và cõi tâm linh đất Việt ).



Người âm sẽ dùng cái ác, tính ác, bản chất độc ác để ngự trị cõi nhân gian. Bắt nhân gian phải làm nô lệ cho cõi âm ( người âm ) bằng cái lý của kẻ mạnh, như từ trước đến nay vẫn diễn ra. Vẫn thường bắt đồng bắt lính, bắt người trần gian phải hầu hạ dạ vâng những vong hồn tắc quái hành người khổ nạn đủ đường, để ép buộc người trần phải làm thân xác để vong chế ngự. ( Mặc dù vong hồn đó bất thiện, ác nhân, ác tính ).

Và người trần thì chỉ biết tuân thủ, các thầy chỉ biết kiếm cơm bằng những nghi lễ giúp vong khống chế người trần gian. Gây ra thiệt hại khổ nạn cho đồng loại.





Đức Minh

xxxxxxxxx

Phép đồng dí ( GỌI HỒN ) của đạo Thánh đất Việt
08.03.2009 14:46

PHÉP ĐỒNG DÍ ( GỌI HỒN ) CỦA ĐẠO THÁNH ĐẤT VIỆT
( gọi hồn người âm nhập vào thân xác người trần để nói chuyện )
Kính thưa các Tăng sư, cao sư, đạo Phật, đạo Thánh đất Việt.
Kính thưa các nhà khoa học nghiên cứu văn hoá tâm linh đất Việt.
Kính thưa toàn thể bách gia trăm họ máu đỏ da vàng, cũng như toàn thể mọi người trên địa cầu, đang sống và làm việc mang tư tưởng âm dương cân bằng. ( Duy vật và duy tâm song hành trong mọi lĩnh vực của đời sống ).


Đức Minh xin được giới thiệu qua về phép đồng dí của đạo Thánh đất Việt, chuyên gọi hồn những người đã chết nhập vào thân xác người trần gian, để giao lưu trò chuyện, để giải toả những nõi buồn khổ nhớ thương của tình thân ruột thịt, bị phân ly tử biệt. Giúp người trần gian và linh hồn của những người đã chết ở cõi âm giải toả được nỗi nhớ thương buồn khổ vì tình. Giải toả những bất lợi cho cả hai thế giới của người trần và người âm, giúp âm dương được giao hoà, âm phù dương thịnh. Người trần gian sống luôn được âm phù mà an khang thịnh vượng, hạnh phúc tràn trề, khoẻ mạnh tươi vui, mọi điều toại ý.





Phép đồng dí để thực hiện được phải cần một thân xác có cân cơ đồng bóng, nói chính xác hơn là xác người trần gian muốn để vong nhân nhập được vào phải là người có căn đồng, có căn số và cơ duyên phận với đạo Thánh. Dù người làm thân xác để vong nhập vào này đã ra hầu Thánh hay chưa, thì cũng phải có căn đồng thì mới làm xác để thực hiện được phép đồng dí của Thánh đạo đất Việt.





Phép đồng dí thường là do Pháp sư của Thánh đạo thực hiện, gọi hồn người đã chết nhập vào thân xác của người nhà, người thân, của những người đã chết, hoặc người có Đồng, chuyên làm xác để gọi hồn người đa chết nhập vào.





Một số thanh Đồng được nhà Thánh cho lộc gọi hồn bằng đồng dí, còn có thể tự gọi vong hồn về để nhập vào thân xác của họ, mà không cần phải nhờ đến pháp sư, có đủ pháp lực gọi hồn, kêu tấu, giúp họ thực hiện nghi lễ gọi hồn.





Khi vong hồn người đã chết nhập vào thân xác người trần thì thường chỉ nên thực hiện trong khoảng thời gian từ 15 đến 20 phút đồng hồ, bởi khi âm hồn người đã chết nhập vào người đang sống sẽ làm thân xác của người trần gian tụt nhiệt độ thấp xuống vì khí âm rất lạnh, huyết áp sẽ tụt xuống rất thấp, Nếu để lâu có thể nguy hiểm tới sức khoẻ và tính mạng người làm xác cho vong hồn nhập. Trừ những người đã quá quen thuộc và thích ứng với việc làm xác cho người âm nhập vào.





Những trường hợp người có căn số cơ duyên nhìn thấy người âm, nói chuyện được với người âm, ví dụ như nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hàng vẫn thường đi tìm mộ liệt sỹ, thì là một dạng khác. Những trường hợp như thế là người khai mở được thiên nhãn thiên nhĩ, có được giác quan, giải mã được thông tin trong vũ trụ, đón nhận được những thông tin được lập trình sẵn bằng sóng điện mang tính thông tin, như dạng sóng vô tuyến điện truyền hình, nhưng lại ở thể trạng sóng điện sinh học mang tính thông tin phát từ linh hồn của những người đã chết. ( cổ xưa đến nay vẫn thường gọi theo ngôn từ cử dân gian là chiêm báo ) Chiêm là chiêm bao, báo là báo mộng, nhưng ở dạng phép Thánh báo lúc con người vẫn đang thức tỉnh.





Hiện nay rất nhiều người lợi dụng phép Thánh với danh nghĩa núp bóng của đạo Phật, với ngôn từ áp vong đã làm trái với tư tưởng và giáo lý của nhà Phật. đã tạo điều kiện cho vong hồn người đã chết có cơ hội áp sát thân nhân, người nhà. Hàng ngày lấy lý do trợ giúp những người trần gian hướng phật, để ngự trị thể xác của những người đang sống. Gây ra những sự ám quẻ sui sẻo trong cuộc sống làm ăn kinh doanh lẫn cơ duyên tình yêu nam nữ, vợ chồng. Vong hồn người chết nhờ đó mà lấy lý do, và giáo lý của nhà phật, để áp sát người trần, ban tặng cho người trần gian những sự vô duyên trong tình cảm nam nữ cũng như làm ăn kinh tế, với tiêu chí diệt dục, triệt bỏ bản chất tham, sân, si. Gây cho kinh tế vật chất của những người bị những vong hồn đội lốt hướng Phật để dùng phép Thánh áp sát con người, ám quẻ con người. Làm trái với luật trời: ( người đã chết không được phép quấy nhiễu ám quẻ triệt phá những người đang sống trong việc làm ăn mưu sinh và hạnh phúc lứ đôi ) . bằng cái kiểu tương tự như người trần gian vẫn thường luồn lách luật pháp, để làm chuyện trái với pháp luật của nhà nước ban hành.





Những người thầy hiện nay lấy lý do và sử dụng phép Phật, để gọi vong nhập vào xác người trần là trái với tư tưởng giáo lý của nhà Phật. Chỉ vì một chút lợi nhỏ trong uy tín của bản thân người làm thầy, mà đã vẽ đường cho hiêu chạy. Đã dắt đường chỉ lối cho vong hồn người đã chết áp sát người trần gian, để tắc yêu tắc quái, xui khiến người trần gian phải sống trong cảnh luôn bị vong nhà núp bóng Phật để tắc quái, để hành khiến cháu con ngoài vòng pháp chế của chính quyền trong thế giới cõi âm. Ngoài vòng pháp chế của các vị Thánh ở cõi âm thiên .





Việc áp vong ( một hình thức gọi hồn về nhập vào xác người trần ) do một số người làm thầy vẫn thường làm này, thực sự là trái với giáo pháp và tiêu chí siêu độ giải thoát cho vong hồn của nhà Phật. Những vong nhân đã từng được nhập xác bằng phép phật này, sẽ chẳng bao giờ chịu từ bỏ người thân mà siêu sinh, trước sự khuyến luyến tình thân ruột thịt. họ sẽ luôn đi theo người trần để đòi con đòi cháu phải quan tâm, phải báo hiếu theo lẽ thường của luân thường đạo lý vẫn thịnh hành trên đất Việt.





Những người làm thầy xui khiến, vẽ đường chỉ lối cho vong theo sát, áp sát người trần gian để ám quẻ bằng sự luồn lách, sử dụng phép phật để làm việc vốn là của nhà Thánh từ tổ xưa đến ngày nay kiểu này, Đã phạm phải tội phá hoại kỷ cương của phép Thánh, làm cho vong coi thường luật lệ của nhà Thánh. Đi theo luẩn quẩn với người trần gian dưới danh nghĩa hướng theo bồ tát, hướng theo đức Phật, để giúp người trần thì ít, mà thoả mãn bản chất cá tính của vong thì nhiều. Khiến cho những người trần gian bị vong đi theo này, làm gì cũng chỉ nằm trong chiếc vòng kim cô diệt dục. Của cải vật chất của họ từ từ sẽ hao mòn thất thoát vì bị vong ám. Hễ họ có ham muốn kiếm tiền làm giầu, là bị vong nhà triệt phá, với cái cớ là diệt dục giúp người trần gian. Giúp người trần thoát khỏi sự tham, sân, sy, theo giáo pháp của Phật, mà đời người bình thường đang sống ở thời đại ngày nay bắt buộc phải có cái tham sân sy đúng mực đó, thì mới có thể mưu sinh, làm giầu cho bản thân, cho gia đình và xã hội.





Từ cổ xưa theo kiến thức và truyền thuyết tâm linh, thì nhà Thánh luôn cho phép vong nhà được đi theo người trần gian để trợ giúp, chứ không được ám quẻ hại người. Nhưng chỉ khi nào người trần gian kêu cầu trợ giúp, và sự trợ giúp của vong hồn những người đã chết đến những người đang sống phải luôn tuân thủ đạo đức Thánh thiện. Chỉ được phép chi phối, trợ giúp người trần gian bằng sự thiện lành. Làm ăn kinh tế mưu sinh cũng thiện lành, giúp người trần thực hiện những dục vọng chính đáng trong cuộc sống đời thường, cũng như tham vọng làm giầu kinh tế vật chất chứ không diệt dục, như giáo lý của nhà Phật.





Nhà Thánh cho phép, và độ cho cả vong hồn những người đã chết lẫn người trần gian noi theo tấm gương của những vị Thánh của đất Việt, ví dụ như các chầu bà, chúa bà, tham công tham việc phát triển vật chất, làm chúa làm chầu cai quản lãnh đạo mọi người làm giầu cho gia đình và xã hội.





Còn theo tư tưởng cũng như tấm gương của đức Phật tổ Thích Ca, là từ bỏ quyền lực, từ bỏ cuộc sống lầu son gác tía, từ bỏ việc cai trị lãnh đạo mọi người phát triển xã hội, để tu thân trong khổ hạnh. Luôn là một cái cớ để những vong nhà của những người áp vong, bị vong đi theo, bị vong giúp cho người nhà phải sống một cuộc sống tu hành theo tấm gương và giáo lý của phật tổ Thích Ca. ( từ bỏ cuộc sống sung sướng, Nhịn đói nhịn khát để tu ).





Những người lớn tuổi đã già, thì việc bị vong hồn áp sát, xui khiến, phải sống theo tấm gương của đức phật Thích Ca có thể sẽ là hợp cách. Bởi tuổi già chỉ cần sự giải toả tư tưởng là đủ. Vật chất tiền của, công danh sự nghiệp lúc đó không còn quan trọng. Nhưng những người còn trẻ, còn phải vợ chồng nam nữ, còn phải phấn đấu công danh, mà bị vong hồn áp sát đi theo mang tặng cho người đang sống những cơ duyên tu hành đạo hạnh của đức Phật, thì quả thật là chuốc hoạ vào thân. Chuốc hoạ cho cuộc sống đời thường, mất hết mọi cơ duyên về tình ái hạnh phúc, công danh sự nghiệp.







Đức Minh



Pháp chủ trung tâm nghiên cứu

thần học Phương Đông



Về Đầu Trang Go down
minh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: BẢN GỐC CỦA NGHIỆP ÁC PHÁT SINH TỪ ĐÂU    Mon Apr 04, 2011 10:04 pm





BẢN GỐC CỦA NGHIỆP ÁC PHÁT SINH TỪ ĐÂU GÂY HỌA CHO CON NGƯỜI ?


22.09.2009 09:13



Để hóa giải được họa hại từ nghiệp ác phát sinh đến với con người, người thầy ( pháp sư ) cũng như những ( Đồng thầy ) của Thánh đạo đất Việt, cần chuẩn đoán chính xác về gốc rễ căn nguyên.

Đời là bể khổ.



Con người cất tiếng khóc chào đời, là đã ấn định một sinh mệnh bắt đầu chịu cảnh ( sinh, lão, bệnh, tử, ) không thể từ chối.



Chính vì vậy sự hình thành phát sinh của các tôn giáo hướng thiện mới phát triển để đáp ứng nhu cầu hóa giải những khổ nạn của con người từ sinh, lão, bệnh, tử, cùng hàng loạt những nỗi đau cái khổ của cảnh đời ngang trái, nghiệp chướng chất chồng trong xã hội loài người.



Những trường hợp đàn ông sát vợ đàn bà sát chồng, cũng như những cảnh khổ của số phận như : bị người âm đeo đẳng ám quẻ. Căn nguyên từ đâu thì không mấy ai nghiên cứu tìm tòi, mà hiện tại những thầy bà ở đời hầu hết chỉ coi việc hầu Thánh làm đồng thầy, hay làm pháp sư, chỉ là một cái nghề để kiếm ăn mưu sinh. Đó là không muốn nói về các thầy buôn Thần Bán Thánh.



Việc những người căn cao số nặng, bị người âm đeo đẳng ám quẻ, là do đâu. Thì chúng ta cần phải xem xét đến vấn để gia tộc của người đó, có người nào chết rồi mà vẫn ôm ấp sự ham muốn cuộc sống trần thế không, ( ôm ấp những tư tưởng và việc đời ) đến mức vượt qua lẽ thường, mà làm những việc trái với lề luật của tam giới, mà theo ám người trần hay không ?



Ở trường hợp người âm đeo bám, ta cần xem về những trường hợp những người chết trẻ, chết oan, chết do binh lửa nghiệt ngã. Rồi những trường hợp người chết mà lẽ sống và lý tưởng của họ quá mạnh mẽ, khiến vong hồn đó đeo bám người trần gian để hành khiến, thực hiện nốt những ham muốn chưa thỏa nguyện của họ.



Còn về những trường hợp sát phu, sát thê, thì nguyên nhân thực tế ta cần xem về sứ mệnh và nghiệp lực của gia tộc nhà họ ra sao, phần âm thế nào. Bởi phần âm của một người mạnh đến mức sát hại người phối tác ở đời của họ, thì cần phải tìm hiểu về truyền thống dòng họ của người đó theo tôn giáo nào. Những đời trước của người đó tâm linh ở cấp độ nào. Người âm nào thường đi theo họ. Tại vì sao phần âm lại hại người ngủ cùng, ăn cùng, ở cùng, cùng lo những việc hiễu lễ với người đó, đến mức phải mất mạng.



Có phải nguyên nhân vì nếu người đó có vợ chồng thì sẽ không thể thực hiện được sứ mệnh mà tâm linh gia tộc, tôn giáo, giống nòi...v...v... giao phó hay không ?



Rồi ngay cả những người chăm lễ chăm bái, tu tâm dưỡng tính làm nhiều việc thiện, mà vẫn bị đầy dẫy những khổ nạn liên tiếp. Ta cần phải xem xét lại vấn đề văn hóa xã hội phát triển đến mức hiện tại đã vượt xa những lễ nghi văn hóa của thời cổ xưa. Khiến người trần gian sử dụng những phương pháp cúng cầu tu dưỡng từ cổ truyền đó không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thế giới cõi âm .



Ví Dụ :

Từ xưa đến nay người Việt nói riêng và Phương đông nói chung. Tất cả những dân tộc có nền văn hóa tâm linh thờ cúng ông bà tiên tổ, bao giờ cũng thờ nội tộc. ( Trừ những dân tộc theo văn hóa mẫu hệ ).

Nhưng đến thời nay nam nữ bình đẳng, người chết đi mang tư tưởng bình đẳng đó, cũng đòi hỏi những người đang sống phải đáp ứng sự bình đẳng trong việc thờ cúng phần âm, mà người trần gian thì không hay biết những đòi hỏi ở thế giới cõi âm ra sao. Không mấy ai hiểu được thời nay người làm con cháu không những phải thờ cúng nội tộc, mà còn phải thờ cúng cả ngoại tộc ( họ mẹ - họ vợ ).

Thật là khó hiểu đúng không.

( đó là chưa nói đến cảnh những người mang sự di truyền nòi giống ảnh hưởng nặng về phía gia tộc người mẹ, thì đương nhiên sẽ bị tâm linh của dòng họ đằng mẹ mình chi phối triệt để ).



Những phương pháp cúng dỗ chăm lo mồ mả từ cổ truyền đến ngày nay, thực tế chỉ có thể xoa dịu cho nỗi buồn khổ ở cõi tâm linh của những người đã khuất, chứ không thể giúp họ thoát khỏi luân hồi khổ não. Bởi càng cúng nhiều càng lễ lắm, càng làm cho người âm nhớ trần gian.



Những đồ cúng lễ như cơm canh rượu thịt, rồi hoa trái thơm nức, khiến người âm thưởng thức thỏa mãn sự thèm khát nhớ cõi trần gian, và cũng là nguyên nhân khiến họ không thể rời bỏ được cõi địa ngục, mà người trần và người âm cùng chung một giao cảnh.



Đối với phép làm thầy thì linh hồn của những người gian điêu sảo trá, ác tâm, ác tính, ta không thể làm cho họ có nhiều điều kiện và quyền lực với sự sống của con người trần thế, bởi giang sơn thì dễ đổi nhưng bản tính thì khó thay.



Những người ác thì linh hồn khi chết cũng ác. Không thể tạo điều kiện cho họ gây nghiệp ác với cháu con họ và những người đang sống. Không thể đưa họ đến với quyền lực của đạo Thánh đất Việt. Bởi đạo Thánh là thờ phụng sức mạnh tâm linh chính quyền nơi cõi âm, mà nên đưa những linh hồn ác tính đó về với sự giác ngộ giải thoát của Phật Giáo.



Những con người phúc thiện thì linh hồn khi chết cũng phúc thiện. Đó mới là đối tượng sứng đáng để nắm giữ binh quyền cõi tâm linh của đạo Thánh ( của gia tộc ), nắm giữ quyền lực của thế giới tâm linh đất Việt . Mới tránh cho người trần gian không bị người âm đeo bám hành hạ, để đòi được hầu hạ dạ vâng bằng nghi lễ hầu bóng Thánh của đạo Thánh đất Việt.



Đức Minh có vài lời giác ngộ chân lý tâm linh tôn giáo, mong được các bực thầy không riêng nơi Thánh đạo đón nhận .



Đức Minh



Pháp chủ trung tâm nghiên cứu

Thần Học Phương Đông





xxxxxxxxx



hi vọng những tài liệu này sẽ là 1 sự tham khảo tốt , giúp các bạn đang gặp phải vấn đề này sẽ có cái nhìn chính xác và đầy đủ hơn về khaí niệm căn đồng số lính hay là trình đồng mở phủ .
đây là sự góp ý hết sức chân thành của vinh nên vì vậy trong khuôn khổ bài viết này , vinh mong các bạn , các bác đang găp phải vấn đề này sau khi đọc xong những dòng chữ này sẽ gặp may mắn hơn nữa trong cuộc sống .
nam mô a di đà phật !


1 .khái niệm
thế nào là căn cao số nặng hay căn đồng số lính ?
Theo tín ngưỡng thờ Mẫu ( đạo mẫu - hay đạo thánh tứ phủ ) người có căn đồng là người sinh dương thế nhưng số hệ thiên cung, mệnh càn bóng quế, con cái của cửa Tứ phủ công đồng. Tín ngưỡng thờ Tứ phủ cho rằng, người có căn đồng là người đã được các Thánh chấm , tùy theo căn số của từng người mà sẽ được Thánh bắt đi lính làm đồng hay không .
2.Thực trạng xã hội :
* 1 trường hợp điển hình khá phổ biến :
lí do để trình đồng mở phủ :

Nguyên văn bởi Mecuntho
Mình đi xem bói các thầy bảo có căn tứ phủ phải đi trình hoặc tiễn căn, nhưng mình mù tịt vấn đề này, mà làm linh tinh thì sợ, thầy dọa nếu không tiễn căn hoặc trình thì sẽ gặp nhiều khó khăn trắc trở trong cuộc sống. Đang băn khoăn quá ko biết làm thế nào . Có bạn nào rành vấn đề này tư vấn giúp mình với. Cảm ơn các bạn đã đọc tin và chia sẻ.
* trường hợp của số ít
Người được các Ngài lựa chọn, gọi là đã đuợc các ngài chấm đồng, bắt lính, nếu cố ý chốn nghĩa vụ hoặc ngu muội không biết đến thì sẽ bị trách quở, bị các Ngài hành cho mọi thứ không ổn định, làm ăn thất bại, bệnh tật ốm đau, hạnh phúc thì bấp bênh.....đến cái bát mẻ cũng không có mà ăn , cuộc sống long đong lận đận, ngược lại nếu biết mà theo ý các Ngài, thì được các Ngài phù hộ, độ trì cho mọi việc suôn sẻ.
* thêm 1 trường hợp mới phát sinh
rủ nhau đi hầu đồng , mở phủ bởi nghe nói bắc ghế hầu thánh sẽ đuợc các ngài phù hộ cho buôn may bán đắt , tiền vào như nước .....vinh gọi đây là trào lưu mới của những bà những mẹ mê tín lắm tiền nhiều của . chủ yếu các đối tượng này là những người làm nghề kinh doanh buôn bán ....
* trừong hợp này rất ít .
những gia chủ tín tâm vì cảm ứng trước sự oai linh của các bậc thánh thần nước nam mà rước chân nhang các ngài về thờ tại gia .....truờng hợp này là điện thờ tại gia hay đơn giản chỉ là 1 ban thờ các ngài tại gia đuợc bố trí cùng nhiều ban thờ khác .

3. các cấp độ của ngừoi có căn đồng
1. Cấp nhẹ nhất là Đội bát hương _ trình trầu
2. Cấp thứ 2 là Tiễn căn .
3. Cấp thứ 3 là phải Hầu đồng 1 năm vài vấn .
4. Cấp thứ 4 là thờ Thánh tại gia (nhà lập Điện thờ Thánh) - hoặc phải lên đền , phủ , chùa ..(nơi có thờ tự các thánh ) để ở . .

. Những biểu hiện thường thấy ở những người có căn đồng só lính .
sự biểu hiện ra bên ngoài của những người có căn đồng số lính rất khác nhau , nó tùy thuộc vào các cấp độ khác nhau của những người có căn đồng số lính :
cụ thể 1 số biểu hiện thường gặp :
- Trong cuộc sống thường nhật, những người như vậy cũng thỉnh thoảng hay rơi vào cảm giác ảo, mơ thấy thần thánh, thân mình bay bổng…....tuy thiên cần phân biệt với dấu hiệu của bệnh tâm thần phân liệt .
- Khi lễ hầu bóng diễn ra ở các đền, phủ, điện, trong không khí đàn ca, trống phách, múa hát tưng bừng, mùi nhang khói kích thích, một số ít người tham gia hành lễ có cảm giác thấy lâng lâng, phiêu phiêu, bay bổng, thần thức hoà nhập với không khí lễ hội múa hát ............có khả năng bị ốp đồng : tức là cơ thể của những người này rơi vào trạng thái mất kiểm soát như múa máy , khóc lóc ......mà bản thân thần kinh của người đó không còn khống chế đuợc những hành vi này đuợc nữa , hoàn toàn mất tự chủ .
chú ý : một số ít người tham gia hành lễ có cảm giác thấy lâng lâng, phiêu phiêu, bay bổng, thần thức hoà nhập với không khí lễ hội múa hát .........thì chưa chắc đã là người có căn đồng . chỉ có : những người có hệ thần kinh yếu ở mức độ nào đó khi đi lễ đền, phủ mới bị hiện tượng ốp đồng và người ta gọi họ là những người căn cao, số nặng, là người có duyên (có căn) với các vị Thánh trong Tứ phủ.
- Bị hành căn : ốm đau bệnh tật nhưng đi chữa không khỏi vì không biết là mình bị bệnh gì, bị hành cho dở dại dở điên, công danh sự nghiệp lận đận, nhân duyên khó thành....
5 . Khả năng tự nhận diện và sự trợ giúp từ bên ngoài đối với những người có căn đồng số lính .
5.1 . Khả năng tự nhận diện
Có nhiều cách để bản thân chính chúng ta biết được căn số của mình. Ví dụ: được các ngài báo mộng; được các ngài về ốp đồng khi mình tham gia hành lễ trình đồng; khi hầu bóng mà mình luôn thích xem và say mê về giá đó...
5.2 .Sự trợ giúp từ bên ngoài Có thể là do xem bói mà biết được. Nhưng xem bói phải hết sức lưu ý, không phải thầy nói gì mình cũng tin, vì bây giờ cũng lắm thầy làm vì tiền hơn là làm vì tâm để cứu thế độ dân. Nhiều người chỉ nghe thầy tứ phủ phán bảo về căn số của mình, rằng có căn với Quan lớn này, Cô, Cậu nọ rồi phải đăng đàn làm lễ trình đồng, mở phủ, tự mình gây không ít khó khăn cho mình và hao tiền tốn của , tự mua dây buộc mình .
Đây là một vấn đề hết sức khó khăn nhưng không phải không có đường thoát, đó là nhờ lập Bát tự để tìm hiểu căn số của mình. Đương nhiên người lập Bát tự phải hết sức am hiểu và giỏi Dịch lý. Hơn nữa, người có căn hay không cũng có thể tự nhận biết qua các hiện tượng trên. Tuy nhiên, cần lưu ý phải khẳng định người có căn đồng là những người mạnh khoẻ, có thể chất, tinh thần và tâm lý hoàn toàn khác với người bị bệnh tâm thần phân liệt.

vinh xin đưa ra 1 số gợi ý tham khảo khi đi nhờ thầy tứ phủ soi căn :
- chọn thầy : bạn nên tham khảo qua dư luận , ý kiến của những người đi trước , dư luận đánh giá như thế nào về người thầy đó ? tâm đức ra sao ? khả năng tâm linh ra sao ?
- bạn nên thật bình tĩnh khi nghe các thầy phán bất cứ 1 điều chi , ghi nhớ lại để về xem xét . phải chủ động khai thác thông tin từ thầy , tránh rơi vào tình trạng bị khai thác .
- Đi xem ít nhất 3 thầy trước khi đưa ra quyết định .
Về Đầu Trang Go down
viet
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Địa chỉ các nhà ngoại cảm VN   Mon Apr 04, 2011 10:16 pm

Vào thời điểm này, hầu hết các cuộc gọi đến trung tâm đều không thể kết nối được; các lá thư gửi đến cũng có thể rất lâu sau chưa thấy hồi âm, mặc dù tập thể các nhà khoa học của UIA đã cố gắng làm việc hết mình.- Tìm mộ ở Vân Nam
- Tìm em 60 năm thất lạc nhờ ngoại cảm
- Ngoại cảm sau lần chết hụt
- Tìm hài cốt nhờ gọi hồn
- Tìm những linh hồn ở K’nak
- Tiếp tục hành trình tìm mộ
- Người chết không bị lãng quên


Sau một loạt bài viết về hiện tượng các nhà ngoại cảm giúp thân nhân liệt sĩ tìm thấy hài cốt, hàng trăm gia đình và cá nhân có nhu cầu tìm lại người thân liên tục gửi thư, gọi điện hoặc tìm đến tận trụ sở Liên hiệp khoa học công nghệ tin học ứng dụng (UIA) nhờ giúp đỡ.

Trước tình hình đó, ông Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc UIA, đã cung cấp cho Ngôi Sao đầy đủ địa chỉ, số điện thoại của các nhà ngoại cảm nổi tiếng ở VN, công bố rộng rãi để những người có nhu cầu có thể trực tiếp liên lạc và nhờ họ giúp đỡ.

Sau đây, chúng tôi xin đăng nguyên văn thông báo của Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng.
Liên hiệp khoa học công nghệ Tin học ứng dụng ( UIA )
Viện khoa học hình sự - Bộ công an
Trung tâm bảo trợ văn hóa kỹ thuật truyền thống

***

KÍNH BÁO VỀ CHƯƠNG TRÌNH TÌM MỘ LIỆT SĨ BẰNG NGOẠI CẢM

Ba cơ quan (Liên hiệp khoa học công nghệ Tin học ứng dụng (UIA), Viện khoa học hình sự - Bộ công an, Trung tâm bảo trợ văn hóa kỹ thuật truyền thống) đã nhận được hàng ngàn bức thư của các gia đình liệt sĩ và người có công, yêu cầu cơ quan hỗ trợ việc tìm hài cốt thân nhân mất tích bằng phương pháp ngoại cảm.

Chúng tôi rất xúc động và cảm thông trước những tình cảm thiêng liêng mà các gia đình đã giành cho người thân đã mất, và xin cảm ơn sự tín nhiệm đối với các nhà ngoại cảm và đối với cơ quan chúng tôi.

Tuy nhiên, vì số thư quá nhiều do vậy chưa thể trả lời riêng cho từng gia đình được, chúng tôi xin phép được trả lời chung và hướng dẫn phương thức đăng ký tìm mộ bằng khả năng đặc biệt cho các đối tượng có nhu cầu như sau:

Để việc tìm kiếm mộ mất tích đạt hiệu quả cao, các gia đình cần thực hiện chu đáo các quy trình, gồm:

1. Công tác chuẩn bị: Việc tìm mộ người thân mất tích trước hết phải xuất phát từ tình cảm thương nhớ, quý kính, hoặc hiếu thảo đối với người đã khuất, phải xác định đây là nghĩa cử thiêng liêng, không nên đi tìm chỉ vì phong trào, hoặc vì nghĩa vụ khiên cưỡng, hoặc vì cầu lợi cá nhân…

2. Người chủ trì công việc tìm kiếm phải là người có vai trò và quan hệ mật thiết nhất đối với người đã khuất, nếu vì lý do chính đáng mà không thể tham gia trực tiếp được thì phải thắp hương ủy quyền cho người có vai trò tiếp theo.

3. Chuẩn bị về kinh phí:

- Trong chương trình khảo nghiệm tìm mộ mất tích bằng khả năng đặc biệt, cả ba cơ quan chúng tôi chỉ đạo không thu lệ phí dưới bất kỳ hình thức nào. Nơi nào thu lệ phí thì nơi đó không thuộc sự bảo trợ của chương trình nghiên cứu khảo nghiệm này.

- Các gia đình có lòng hảo tâm, muốn bồi dưỡng trực tiếp cho các nhà ngoại cảm thì phải xuất phát từ sự tự nguyện, thiện tâm, không gượng ép và không được nghe theo bất kỳ hình thức gợi ý nào.

- Trong quá trình đi tìm phải rất tiết kiệm, giản dị, tránh ăn uống lãng phí và tránh ở khách sạn sang trọng. Thực tế đã chứng minh: những gia đình nào khi đi tìm liệt sĩ mà tiêu pha, ăn ở tốn kém hoặc kêu ca, ngại khó ngại khổ… thì xác suất thành công rất ít, mọi người thường gọi hiện tượng này là “liệt sĩ cảnh cáo đấy”.

4. Quá trình đi tìm:

- Cần đến trực tiếp gặp các nhà ngoại cảm theo sự giới thiệu của cơ quan. (Riêng đối với nhóm nhà ngoại cảm của Nguyễn Văn Nhã thì chỉ cần liên lạc bằng điện thoại).

- Đối với các nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên, Nguyễn Thị Nguyện, Nguyễn Văn Nhã, Đỗ Bá Hiệp, Vũ Minh Nghĩa, Dương Thị Năng, Hoàng Thị Thiêm, Phạm Huy Lập, Trần Văn Tìa… thì không cần phải có ảnh, thậm chí cũng không cần khai tên hoặc tiểu sử, mà chỉ cần nói họ của người muốn tìm là đủ. Riêng đối với nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng thì cần mang theo tấm ảnh của người cần tìm.

- Vì hiện nay nhu cầu tìm mộ liệt sĩ rất đông, mọi người cần phải xếp hàng theo thứ tự, phải coi tất cả các liệt sĩ của gia đình khác cũng đều là linh khí quốc gia, đều phải được trân trọng như nhau. Những người chen ngang không theo sắp xếp của tổ chức thì đi tìm tại hiện trường rất vất vả mà hiệu quả thành công lại rất ít. Mọi người gọi hiện tượng này là “ các liệt sĩ không hài lòng với việc chen ngang nên làm nhiễu thông tin”. Riêng các liệt sĩ tình báo thường được làm nhanh và thông tin rõ nét hơn. Mọi người cho rằng có lẽ Hội đồng tâm linh “ưu tiên” cho các liệt sĩ tình báo vì gia đình đã chịu nhiều sự thiệt thòi!

- Các nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên, Nguyễn Thị Nguyện, Nguyễn Văn Nhã, Dương Thị Năng, Hoàng Thị Thiêm, Phạm Huy Lập, Trần Văn Tìa… không cần đến hiện trường mà chỉ ngồi ở nhà vẫn có thể vẽ được sơ đồ nơi có mộ.

Riêng Vũ Thị Minh Nghĩa thì thường trực tiếp tìm kiếm các liệt sĩ, sau đó các liệt sĩ mới “ thông báo” ngược lại cho gia đình (gọi là hiện tượng liệt sỹ đi tìm thân nhân).

- Khi nhận được băng ghi âm và bản vẽ hướng dẫn của nhà ngoại cảm thì các gia đình phải khẩn trương đi tìm, nếu để lâu sẽ kém hiệu quả. Đến hiện trường thì phải thường xuyên liên lạc bằng điện thoại để điều chỉnh tọa độ. Đa số các trường hợp phải điều chỉnh nhiều lần mới đạt hiệu quả.

- Chương trình khảo nghiệm mời vong linh của các liệt sĩ tạm gá (nhập) vào người thân của mình để đi tìm mộ, đang được khảo nghiệm và đã có một số ca thành công bước đầu. Khi xác suất độ tin cậy đủ lớn thì đây sẽ là giải pháp rất thuận lợi giúp cho việc tìm mộ thất lạc được nhanh chóng. Kết quả của phương pháp này sẽ được kính báo sau.

5. Các gia đình liệt sĩ có thể nhận được các kênh thông tin khác từ các đồng đội, hội cựu chiến binh, từ các tầng lớp nhân dân trong toàn xã hội bằng cách đưa thông tin và truy cập trang website nhắn tìm đồng đội ( ), ,

6. Một số các nhà ngoại cảm đã được tặng thưởng gương Huyền Thông (là giải thưởng giành cho các nhà ngoại cảm đã tìm được trên 1.000 thông tin về mộ liệt sĩ thất lạc) như: Nguyễn Văn Liên, Phan Bích Hằng, Nguyễn Thị Nguyện, Đỗ Bá Hiệp, Nguyễn Văn Nhã, Vũ Thị Minh Nghĩa…

7. Một số địa chỉ của các nhà ngoại cảm:Họ Và tên Điện thoại Địa chỉ liên lạc

Nguyễn Thị Nguyện (tạm cắt vì quá đông) Nhà 12, ngách 45, ngõ 6, đường Phương Mai, Đống Đa - Hà Nội

Phan Bích Hằng (tạm cắt vì quá đông) Phòng kế toán, trường ĐHQTKD, Phường Vĩnh Tuy, Hai Bà, HN
Đỗ Bá Hiệp (tạm cắt vì quá đông) Số 1 - Đông Tác - Kim Liên - Hà Nội
Hoàng Thị Thiêm (tạm cắt vì quá đông) Số 1 - Đông Tác - Kim Liên - Hà Nội
Vũ Minh Nghĩa 0903616818
Nguyễn Văn Nhã 0903905957
Phạm Huy Lập 0903746547
(nhóm anh Nhã )
Trần Văn Tìa 0913786781
(nhóm anh Nhã )
Nguyễn Văn Liên
0320864011

1900561518 Tạm về quê Tứ Kỳ - Hải Dương
Áp vong liệt sĩ vào thân nhân để đi tìm mộ Số 1 - Đông Tác - Kim Liên - Hà Nội
Nguyễn Ngọc Hoài 0917885267 Tây Bắc
Tra thông tin về liệt sĩ trên trang Website


T/M cho 3 cơ quan nghiên cứu
Chủ nhiệm chương trình
TG Đ Liên hiệp UIA

Vũ Thế Khanh

xxxxxxxxxxx

Hầu hết các nhà ngoại cảm ở nước ta có được khả năng kỳ lạ là do một biến cố trong đời. Ly kỳ nhất phải kể đến câu chuyện của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, cô đã có được khả năng phi thường sau một lần bị chó dại cắn suýt chết…
Tìm hài cốt nhờ "gọi hồn"

Theo ông Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng, ở Việt Nam hiện có gần 100 người có khả năng đặc biệt, trong đó chỉ có hơn chục người có khả năng tìm mộ thực sự xuất sắc. Còn con số lừa bịp để trục lợi, hoặc hoang tưởng mình có khả năng đặc biệt thì phải đến hàng nghìn.

Chính vì thế, ông cũng cảnh báo rằng, tất cả những người chưa được các nhà khoa học cũng như những cơ quan có chức năng thẩm định, đánh giá bằng các đề tài nghiên cứu cụ thể thì không thể tin tưởng được.

Qua các cuộc nghiên cứu, đánh giá, các nhà khoa học tổng kết được 4 con đường dẫn đến khả năng ngoại cảm: Thứ nhất là bẩm sinh, tức sinh ra đã có khả năng ngoại cảm. Thứ hai, sau những trận ốm thập tử nhất sinh bỗng phát hiện ra khả năng này. Thứ ba, các thiền sư tu hành lâu năm, đắc đạo. Thứ tư, do được đào tạo.

Theo ông Khanh, trường hợp trở thành nhà ngoại cảm do bẩm sinh là rất hiếm, do tu hành đắc đạo thì có nhiều, song đối với các nhà tu hành, ngồi một chỗ biết chuyện thiên hạ chỉ là một bậc nhỏ trên con đường đến cõi niết bàn.

Các thiền sư chuyên tâm tu hành, không màng đến thế sự, tiếng tăm, danh phận và rũ bỏ hết việc đời nên họ không bao giờ công bố khả năng của mình. Họ muốn giữ tâm tịnh để tiếp tục tu hành khổ hạnh, do vậy, người đời thường không biết được khả năng của họ.

Người tiêu biểu về khả năng tu hành rồi trở thành nhà ngoại cảm là anh Nguyễn Văn Nhã. Anh Nhã hiện đang sống ở TP HCM. Anh thường ít khi tiếp xúc, gặp mặt người tìm mộ. Những ai muốn tìm được hài cốt người thân thường gọi điện hỏi anh, anh sẽ chỉ dẫn qua điện thoại.

Anh Nhã làm thế là vì không muốn mang tiếng kiếm tiền từ việc chỉ dẫn người đời đi tìm mộ. Chính vì thế, nhiều gia đình tìm thấy mộ thân nhân qua sự chỉ dẫn của anh, muốn tìm anh hậu tạ nhưng không biết anh ở đâu, hỏi địa chỉ thì anh không cho, thậm chí mang quà đến anh cũng không nhận.

Đã có cả nghìn người tìm được mộ nhờ sự chỉ dẫn của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã, song vẫn không biết mặt mũi nhà ngoại cảm này như thế nào. Việc có khả năng ngoại cảm do đào tạo bài bản chính là nét độc đáo ở Việt Nam mà các nhà khoa học đang chuyên tâm nghiên cứu, áp dụng.

Đã có một số người sẵn có khả năng đặc biệt, lại được các nhà khoa học rèn luyện nên trở thành nhà ngoại cảm có khả năng tìm mộ cũng như nhiều khả năng có ích khác, tuy nhiên, những người này còn đang trong giai đoạn nghiên cứu nên các nhà khoa học chưa cung cấp thông tin.

Hầu hết các nhà ngoại cảm ở VN có được khả năng kỳ lạ là do một biến cố trong đời. Có người bị điện cao thế giật (ông Nguyễn Văn Chiều), có người qua trận sốt hoặc trận ốm thập tử nhất sinh thì trở thành nhà ngoại cảm.

Trong số những người trải qua biến cố thành nhà ngoại cảm thì ly kỳ nhất phải kể đến Phan Thị Bích Hằng. Con đường trở thành nhà ngoại cảm của Bích Hằng vô cùng gian nan, kỳ lạ và nhiều nước mắt.

Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng nghèo thuộc xã Khánh Hòa, Yên Khánh, Ninh Bình. Năm 1990, khi 17 tuổi, vừa thi đại học về, Hằng cùng một cô bạn gái đang đi trên đường bỗng có một con chó nhảy xổ ra cắn. Hằng bị cắn vào chân trái, cô bạn gái bị cắn vào tay trái.

Cũng như người dân ở các vùng nông thôn, Hằng và cô bạn cảm thấy chuyện bị chó cắn rất bình thường, rồi quên ngay sau đó. Vài ngày sau khi bị chó cắn, Hằng nhận được giấy báo đỗ đại học.

Khoảng một tháng sau, cô bạn đột nhiên không nói được nữa, hàm răng cứng lại. Nghĩ là bị đau răng, Hằng đưa cô bạn đi khám. Bác sĩ nha khoa kiểm tra và khẳng định không phải do đau răng. Hai người lại đèo nhau đến Bệnh viện Quân y 5 Ninh Bình.

Sau khi khám xét, bác sĩ bảo bạn gái của Hằng có triệu chứng của người bị bệnh dại. Tưởng như đất dưới chân sụt xuống, tử thần đã nắm tay mình dắt đi, Hằng nói như người mất hồn: “Đúng như vậy. Cháu và cô bạn đều bị một con chó cắn”. Sau hôm đó, Hằng cũng hôn mê bất tỉnh. Cô bạn thân thì đã qua đời.

Gia đình đưa cô đi chữa trị nhiều nơi, bằng cả Đông y lẫn Tây y, song các bác sĩ, thầy lang đều lắc đầu, bởi bệnh này từ xưa đến nay không ai chữa khỏi. Khi đến nhà một ông thầy lang theo Thiên Chúa giáo, ông xem xét kỹ biểu hiện cơ thể rồi nói một câu an ủi: “Chúa lòng lành sẽ che chở cho con”.

Sau đó, ông bảo người con trai ra nghĩa địa lấy một mảnh ván mà người ta vừa bốc lên hôm trước, rồi bào chế với vài vị thuốc. Để giành giật giữa sự sống và cái chết, gia đình Hằng liền cho cô uống ngay vị thuốc khủng khiếp này.

Sau khi uống thuốc, ông thầy lang bảo với bố mẹ Hằng: Sau 3 tiếng đồng hồ cháu sẽ cảm thấy nóng khắp người, lên cơn sốt mê man, nói sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé. Nếu 3 ngày sau cháu hết cơn thì cháu sống được còn nếu lên cơn trở lại thì cháu không sống được nữa. Tôi rất muốn cứu cháu nhưng khả năng của tôi chỉ có vậy.

Đúng như lời ông thầy lang nói, 9h tối Hằng lên cơn cắn xé điên cuồng, đến 11h đêm mới thiếp đi. Ngày thứ nhất, ngày thứ hai không thấy triệu chứng gì. Ngày thứ ba, khi cùng người anh trai của cô bạn gái đã mất ra mộ thắp hương thì đột nhiên Hằng cảm thấy có một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Hằng liền nói: “Anh đưa nhanh em về, em sắp lên cơn điên rồi”. Từ đấy, Hằng không còn biết gì nữa.

Đến 1h sáng hôm sau, gia đình không còn hy vọng bởi Hằng đã hoàn toàn tắt thở. Bình thường, những người trẻ tuổi như Hằng ở quê được khâm liệm rất nhanh rồi đem chôn, không tổ chức lễ tang, kèn trống.

Thế nhưng, có một ông cụ dạy chữ nho ở làng rất giỏi tử vi vào nhà Hằng, sau một hồi tính toán, ông bảo: “Thứ nhất, chưa qua giờ Thìn không được khâm liệm cháu; thứ hai, cứ để nó nằm như thế, không được thắp hương”.

Lúc đó, một ông bác sĩ nói: “Tốt nhất đậy mặt cháu lại, để gia đình đi chuẩn bị cho cháu, tại sao cụ lại nói vậy”. Ông cụ đó nói tiếp: “Các anh thì có cả một nền y học hiện đại, còn tôi chỉ là tàn hương nước thánh, nhưng tôi khẳng định nó không chết”.

Nghe cụ già và bác sĩ tranh cãi, gia đình Hằng rất hoang mang, không biết xử trí thế nào. Thế nhưng, ai đi mua gỗ đóng quan tài cứ đi, ai ngồi chờ xem lời ông cụ linh ứng thế nào thì cứ chờ.

Hồi khắc khoải chờ chết, Hằng có hỏi bố (bố Hằng là quân nhân): “Vì sao những vị lãnh đạo khi chết người ta lại bắn 7 loạt đại bác”, bố Hằng trả lời: “Để linh hồn mau siêu thoát”. Nghe bố nói vậy, Hằng liền bảo: “Khi con mất bố bắn cho con bảy phát đạn để con mau siêu thoát trở về với gia đình mình”.

7h sáng hôm đó bố Hằng mới về đến nhà. Trông thấy đứa con gái tội nghiệp tắt thở nằm đó ông không kìm được nước mắt. Nhớ lời hứa với đứa con gái, ông lôi súng ngắn ra bắn. Tiếng súng nổ làm Hằng bật tỉnh dậy và phản xạ đầu tiên là lao ra phía tiếng súng gọi “Bố ơi!”.

Hằng đạp phải những chiếc vỏ đạn và ngã rất mạnh xuống sân. Mọi người liền khiêng cô vào trong nhà. Sau khoảng nửa tiếng, Hằng tỉnh lại hoàn toàn. Khi đó, một cảm giác rất kỳ lạ đến với cô. Thân thể dường như mất trọng lượng, như đang bay và nhìn mọi người như ở một thế giới khác.

Theo lời Hằng, trong thời gian 30 phút bất tỉnh do trượt ngã đập đầu xuống sân, cô thấy bà nội và bà ngoại (cả hai đều đã mất) gọi cô. Hằng thấy mình đang đi qua một cây cầu bắc qua con sông lớn với mây mờ sương khói bao phủ. Phía bên kia cầu, bà ngoại cùng rất nhiều người đứng vẫy tay, bà nội thì đứng bên bờ này kéo lại.

Cố vùng vẫy, Hằng tuột khỏi tay bà. Đúng lúc đó thì tiếng súng làm Hằng giật mình tỉnh dậy. Mọi người đều vui mừng khôn xiết, coi việc Hằng sống lại là chuyện thần kỳ.

Vài tháng sau, khi khỏe mạnh hẳn, Hằng thường đi lung tung, không có định hướng. Điều kỳ dị là nhìn mặt mọi người Hằng có thể biết được họ còn sống lâu hay sắp chết. Một số người đang khỏe mạnh song lại cứ như có ai đó nói với cô rằng họ sắp chết, thế là cô tìm họ nói cho họ biết rằng họ sắp chết.

Không ít lần cô bị ăn đòn vì... độc mồm, độc miệng. Ngày đó, trong làng có ông Vũ Văn Trác, 50 tuổi, rất khỏe mạnh và quý mến Hằng. Ngày Hằng còn bé, có cái bánh, cái kẹo ông đều dành cho.

Một hôm, gặp ông Trác đi làm đồng về, Hằng bảo: “Ông ơi, chắc là ông sắp mất rồi. Ông đừng đi làm nữa cho khổ!”. Nghe Hằng nói thế, ông Trác cầm cái roi trâu quát: “À, tưởng là con cô giáo mà tao không dám đánh à? Bố mày có là đại tá thì hôm nay tao cũng phải cho mày một trận”.

Khi ông Trác cầm roi trâu đuổi, Hằng còn vừa chạy vừa quay lại bảo: “Ông sẽ chết thật mà”. Ông Trác tức sôi máu đánh Hằng một trận, cô đau phát khóc, nhưng vừa khóc vừa khẳng định vài ngày nữa ông sẽ chết.

Hôm ấy những người chứng kiến được bữa cười ra nước mắt. Nhưng rồi, vài ngày sau loa truyền thanh xã thông báo ông Trác chết thật. Thông tin ấy làm cả làng sợ hãi.

Tiếp sau ông Trác là ông Bùi Văn Trai, Chủ nhiệm HTX thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa. Ông Trai là bạn rất thân của mẹ Hằng. Hôm đó, giữa hội trường UBND xã, rất nhiều người chứng kiến, Hằng nói: “Đến tháng giêng là chú chết đấy, có bao nhiêu hợp đồng xuất khẩu chú bàn giao hết đi, nếu không đến lúc ấy lại không kịp”.

Ông Trai bực mình nói với bố mẹ Hằng rằng: “Anh chị phải về dạy bảo con, chứ cứ để nó huyên thuyên như thế là không được”. Không ngờ, đầu tháng giêng ông Trai chết thật. Sau chuyện đó cả làng bảo Hằng bị ma ám, nói ai chết là người ấy chết. Người ta cứ nhìn thấy Hằng là tránh xa.

Mọi người trong gia đình Hằng đều đau khổ. Mẹ Hằng là giáo viên dạy giỏi nhiều năm, các phụ huynh đều rất tin tưởng khi con cái họ học lớp bà chủ nhiệm, nhưng biết chuyện của Hằng thì đều xin cho con chuyển lớp.

Hằng ra sức thuyết phục mọi người rằng cô không bị thần kinh, những chuyện đó là do cô nhìn thấy, nhưng không ai tin. Cha mẹ Hằng đưa cô đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác khám thần kinh, rồi đưa đi gặp hết “cậu nọ, cô kia” cúng bái.

Mặc dù khi đó Hằng có khả năng phán đoán được tình trạng sức khỏe, thậm chí cả suy nghĩ của người khác, song Hằng đau khổ đến nỗi chỉ mong quên hết khả năng ấy đi.

Theo lời kể của Hằng, một ngày, trong cơn tuyệt vọng, Hằng ao ước được "nhìn thấy" bà nội và bà ngoại, những người cô rất yêu quý. Thế rồi, kỳ lạ thay, vào ngày giỗ bà nội, Hằng “nhìn thấy” bà nội (bà chết khi Hằng 10 tuổi) về, bế theo một đứa trẻ và dắt theo một đứa nữa.

Hằng nói chuyện với bà, rồi kể cho mọi người nghe. Ông nội nghe Hằng nói liền kể rằng đó là hai đứa con của ông đã mất lúc 8 tháng và 3 tuổi. Lúc này, mọi người mới kinh hoàng nhận ra rằng, Hằng có khả năng đặc biệt.

Ngôi làng Hằng đang sống có ngôi chùa Dầu rất cổ. Khi nhà Trần đánh tan Chiêm Thành, bà Huyền Trân Công Chúa không về Thăng Long mà vào tu ở ngôi chùa này. Sau này gia tộc họ Trần cũng về đây ở, rồi chết đi thì chôn luôn ở quanh chùa.

Một lần, Hằng vào nhà ông chú ruột chơi rồi bảo rằng, trong vườn nhà chú có bóng người. Nhà chú Hằng ai cũng mắc bệnh kỳ lạ, teo một bên chân, ngoẹo một bên đầu về bên phải, nên ông rất tin lời Hằng nói.

Thế là hai chú cháu đào bới thử mảnh vườn. Không ngờ thấy một lớp ngói đã mục, rồi đến một lớp đất đỏ. Gạt lớp đất đỏ ra thì thấy lớp quách bằng hợp chất gồm vỏ hến, vôi, mật. Phá lớp này ra thì thấy cỗ quan tài chạm trổ rất đẹp bằng gỗ ngọc am. Bật nắp quan tài thấy xác ướp người đàn ông. Sau này, các nhà sử học xác định ngôi mộ có tuổi 700 năm.

Chính gia đình Hằng cũng để thất lạc mộ cụ 4 đời. Nhiều lần, bố Hằng nhờ đồng đội về đào bới mà không thấy. Đúng ngày giỗ cụ, Hằng thử đi tìm. Không ngờ, Hằng “nhìn” thấy mộ cụ nằm trên đường đi. Hằng liền rủ mấy người anh ra đường đào.

Mấy anh bảo vệ xã nhìn thấy thì bảo: “Chết dở thật. Con ông bộ đội rỗi việc đi phá đường”. Hằng khẳng định dưới lòng đường có mộ thì mấy anh bảo vệ bảo: “Thế thì đem cuốc xẻng ra đào thử xem con dở hơi này nó nói có đúng không!”.

Khi đào sâu gần 2m thì xuất hiện một tấm gỗ có khảm chữ Hán. Hằng liền đem rửa mảnh gỗ đi rồi mang cho ông nội đã 80 tuổi đọc. Ông nội Hằng đọc thấy hai dòng chữ ở hai mặt tấm gỗ là “Âm thủy quy nguyên” và “Vinh quy bái tổ” thì lăn ra khóc. Bao nhiêu năm nay đã nhiều đêm ông không nhắm mắt được vì đã để thất lạc mộ tổ.

Lúc này, mọi người không còn nghi ngờ gì về khả năng đặc biệt của Hằng nữa. Nhưng bố Hằng, là một cán bộ được rèn luyện trong môi trường quân ngũ, tính tình cứng rắn, chỉ tin vào khoa học nên vẫn chưa tin vào khả năng của Hằng.

Ông bỏ cả việc cơ quan để ở nhà trông Hằng, đuổi hết những người tìm đến “cầu thánh, cầu thần”. Để chứng minh với bố rằng cô không bị thần kinh, không bị hoang tưởng di chứng chó dại cắn, cô xin bố cho đi thi đại học và hứa chắc chắn sẽ thi đỗ.

Để bố tâm phục khẩu phục, Hằng quay ngoắt sang ôn thi khối A, ĐH Kinh tế quốc dân, cho dù năm trước cô thi khối C. Chỉ có 15 ngày ôn thi, kể từ khi xin bố, vậy mà Hằng đã thi đỗ với số điểm khá cao, 24 điểm.

Khi đó, Hằng đã là cộng tác viên của Viện Khoa học thể dục - thể thao. Một số cán bộ có tâm huyết của Bộ VH-TT đã đi theo Hằng để nghiên cứu rất tỉ mỉ về khả năng tìm mộ. Hằng đã nhờ những vị cán bộ này cho người về giúp cô khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu quê cô có từ đời nhà Trần.

Hằng về, “nói chuyện” với những người xây chùa, tất nhiên là đã chết cách đây 700 năm, trong đó có cả nhũ mẫu của Huyền Trân Công Chúa, là bà Phan Thị Vinh. Người xưa đã kể tỉ mỉ cho Hằng biết tòa sen như thế nào, bát hương ra sao, có bao nhiêu sắc phong từ các đời vua...

Những gì Hằng thu thập đều được các cơ quan quản lý văn hóa xác nhận đúng. Với những tài liệu, hiện vật thu thập được, Phòng văn hóa đã trình lên tỉnh, tỉnh trình lên bộ và sau đó chùa Dầu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Những gì Phan Thị Bích Hằng làm được cho đời thực sự trân trọng, không lý lẽ gì có thể bác bỏ. Đã có hàng ngàn gia đình tìm lại được người thân, đã có cả ngàn hài cốt liệt sĩ được trở về đất mẹ sau bao nhiêu năm nằm nơi rừng sâu núi thẳm, mà nhiều đồng đội, người thân đi tìm không thấy.

Thậm chí, qua Bích Hằng, lịch sử đã phải viết thêm những trang hào hùng về trận đánh khốc liệt ở cánh rừng K"Nác, huyện K"Bang, tỉnh Gia Lai. Nơi đây, dòng Đắk Lốp đã nhấn chìm 400 thi thể chiến sĩ và cả những chiến công của họ nếu không có nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vượt rừng, lội suối tìm hài cốt của họ để đồng đội đưa về nghĩa trang liệt sĩ, mang lại niềm an ủi cho các gia đình.

(Theo An Ninh Thế Giới
Về Đầu Trang Go down
ADMIN
ADMIN_Q9A1
ADMIN_Q9A1


Nam
Tổng số bài gửi : 106
From : GREAT HEAVEN
Hobbies : MONEY
Registration date : 16/08/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: CĂN ĐỒNG---Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng?   Fri Apr 08, 2011 9:18 pm

“GIAO LƯU”
VỚI NGƯỜI CÕI ÂM

Từ lâu nay, địa chỉ của Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng (viết tắt là UIA) thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tại số 1 Đông Tác, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội đã trở nên khá nổi tiếng. Nhiều người dân không chỉ ở Hà Nội mà còn ở nhiều địa phương khác tìm đến để giao lưu với hương linh vừa qua đời hay gia tiên quá cố đã lâu.

5h sáng gia đình bà Hoàng Thị Nhân ở quận Cầu Giấy đã thức dậy và kính cẩn thắp hương lên bàn thờ gia tiên, lầm rầm khấn theo lời dặn trước. 6h30, tôi đi cùng gia đình bà đến số UIA, lúc này trước cửa đã có hàng chục gia đình đứng đợi. Trong lúc chờ đợi, bà Nhân tâm sự :

- Vì niềm tin tâm linh trước đây gia đình bà đã đến nhiều nơi khác nhau để được gặp “vong hồn” tổ tiên. Nhưng hết “gọi hồn” rồi “lên đồng”… đều không đem lại cho gia đình bà niềm tin nội tâm nên khi được người quen mách, bà đến đăng ký ở UIA để có hy vọng trên cơ sở khoa học.

Khi đến đăng ký, gia đình bà được nhân viên trung tâm hướng dẫn chi tiết cách thắp hương thỉnh hương linh tổ tiên, các vấn đề liên quan khi tham gia khảo nghiệm, không được mang theo bùa chú, các đồ liên quan đến mê tín dị đoan…

Căn phòng khoảng 40m2 chật kín người. Sau khi ổn định, một người trong trung tâm phổ biến nội quy, yêu cầu mọi người thực hiện nghiêm túc, tiếp đó hướng dẫn cách giao lưu với hương linh, cách ngồi thiền, tâm tĩnh, hướng lòng cầu gặp hương linh người thân. Không khí trở nên tĩnh lặng, hương khói quyện lên nhè nhẹ.

Chừng 30 phút, bỗng ở một góc nhà bỗng vang lên tiếng nức nở, thì ra một người phụ nữ bỗng òa khóc. Đó là hương linh bố của chị nhập vào. Mọi người trong gia đình đó bắt đầu được giao lưu, những tiếng hỏi han, tiếng cười, tiếng khóc đan xen. 1, 2, 3 rồi 4, 5… gia đình đã có linh ứng khi bắt đầu giao lưu được với hương linh người thân thông qua việc hương linh “nhập” vào người sống nhưng cũng có một số gia đình chưa thấy “ai” nhập.

Chỉ một lát sau, hương linh đã “về” để giao lưu với người thân. Lúc này, những người được “nhập” vào hoàn toàn biến thành người “nhập” về, cười nói, trò chuyện theo đúng giới tính, suy nghĩ của người đó, khoảng cách âm – dương như xóa nhòa, căn phòng trở nên rộn ràng như niềm vui đoàn tụ. Cán bộ khảo nghiệm cầm sổ ghi chép tỷ mỷ từng diễn biến của các gia đình.

Đúng ba tiếng, cuộc khảo nghiệm buổi sáng kết thúc, đa số các gia đình đều đã “gặp” được hương linh người thân nhưng cũng một số gia đình không “gặp” được. Cán bộ khảo nghiệm phân tích rằng có thể do sóng năng lượng chưa đủ hoặc do gia đình chưa tập trung cần thiết. Đối với những người bị “nhập” đều mệt lả, cán bộ khảo nghiệm cho biết đó là do sự tiêu hao năng lượng trong quá trình tiếp nhận sóng âm.

Tại phòng khách chị Nguyễn Thị Hoàng Hiệp ở Đại Mỗ, Từ Liêm đang ngồi nghỉ, cho biết, chỉ sau 20 phút tĩnh tâm, thành tâm thỉnh cầu theo hướng dẫn của trung tâm, chị bỗng thấy người nhẹ bẫng, đầu óc không còn biết gì nữa, chỉ đến khi tỉnh lại chị mới được người nhà nói biết được ông nội “về” và giao lưu với con cháu.

Còn gia đình chị Nguyễn Thị Hiền vẫn chưa hết xúc động khi vừa được giao lưu với người mẹ ruột bị tai nạn giao thông mất, không kịp trăng trối với con cháu điều gì. Chị bảo cũng bõ công gia đình lặn lội từ Yên Bái xuống và thỏa tâm nguyện bấy lâu.

Ông Tổng giám đốc UIA, thành viên Ban Chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu khảo nghiệm khoa học về các khả năng đặc biệt của con người cho biết: đây là chương trình được thực hiện dưới sự hợp tác của UIA, và Trung tâm bảo trợ và nghiên cứu tiềm năng con người (viết tắt là RCTCT), đã được sự đồng ý của các cơ quan chức năng, có sự tham gia của Viện Khoa học hình sự (C21 – Bộ Công an) nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, phục vụ cộng đồng và khoa học chứ không có mục đích tư lợi.

Ông Ngô Tiến Quý – Viện trưởng Viện khoa học hình sự cho biết thêm, việc tham gia của C21 vào Chương trình nghiên cứu khảo nghiệm khoa học về các khả năng đặc biệt của con người là có thật và đã được sự đồng ý của các cấp lãnh đạo. Từ nhiều năm nay, C21 đã cử cán bộ tham gia tổng hợp số liệu và phân tích để cùng khảo nghiệm các luận cứ khoa học nhằm phát hiện các khả năng đặc biệt của con người, có thể ứng dụng trong công tác kỹ thuật hình sự nói riêng và phòng chống tội phạm nói chung, cũng như phục vụ các lợi ích của cộng đồng.

Riêng trong lĩnh vực an ninh trật tự, theo các nhà khoa học và chuyên gia phòng chống tội phạm, hiện nay, trên thế giới, một số nước tiên tiến như Nga, Mỹ, Đức… cũng đã và đang tiến hành các chương trình nghiên cứu các khả năng đặc biệt của con người để ứng dụng trong công tác an ninh trật tự phòng chống tội phạm, đặc biệt trong khoa học hình sự.

(Theo Nguyễn Hoàng Đoàn)

Khoa học lý giải như thế nào ?

Báo KH&ĐS đã có cuộc trò chuyện với GS.VS Đào Vọng Đức, nguyên viện trưởng Viện Vật lý, nguyên giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người về Khoa học và Tâm linh.

- Ông là một nhà khoa học rất tâm huyết trong việc tìm hiểu và nghiên cứu về tâm linh. Ông nghĩ sao về sự tương tác giữa khoa học và tâm linh ?

- Thế kỷ XX, vật lí học hân hoan chào đón sự ra đời của Thuyết tương đối và Thuyết lượng tử. Thế kỷ XXI, theo như tiên đoán của nhiều học giả nổi tiếng, sẽ được đánh dấu một bước tiến vĩ đại, đó là sự nhận thức được rằng Khoa học và Tâm linh không đối nghịch nhau. Nó là hai mặt đối ngẫu bổ sung cho nhau để nghiên cứu thực tại. Pauli, nhà vật lí nguyên tử lừng danh của thế kỷ XX đã nhận định rằng : “Nếu Vật lý và Tâm linh được xem như các mặt bổ sung cho nhau của thực tại thì sẽ cực kỳ thỏa mãn”.

- Nhưng có một thực tế, là những gì không lý giải được, những gì hư hư, thực thực, thậm chí vô lí thì một số người cho rằng : Phật bảo thế, Thánh bảo thế…

- Einstein đã nói lên quan điểm về sự tương đồng giữa Khoa học hiện đại và Phật giáo. Có thể dẫn ra một ví dụ minh họa như sau : Tiên đề của thuyết lượng tử là “Nguyên lý bổ sung đối ngẫu” khẳng định rằng Sóng và Hạt là hai mặt bổ sung cho nhau của thực tại. Nguyên lí này dẫn đến một hệ quả cực kỳ quan trọng là vật thể vi mô chuyển động không theo bất cứ một quỹ đạo xác định nào, có nghĩa là chuyển từ vị trí này sang vị trí khác theo vô số con đường cùng một lúc.

Suy rộng ra là vật thể vi mô có thể cùng một lúc có mặt tại vô số vị trí khác nhau, cùng một lúc có thể ở vô số trạng thái khác nhau, cùng một lúc có thể làm vô số việc khác nhau. Điều này gợi cho ta liên tưởng tới Kinh Phật nói về các đức Phật, các chư vị Bồ tát phân thân ra trăm nghìn vạn ức hóa thân đi khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, giáo hóa cứu độ chúng sinh.

Cần sự hỗ trợ của “trực ngộ chân như”

- Các hoạt động tâm linh hiện nay chưa được số đông ủng hộ. Phải chăng đó là vì bản thân vấn đề tâm linh chưa tự chứng minh được sự trong sáng, mặt tích cực, lợi ích cho đời sống xã hội ?

- Trong những thập niên gần đây, ngày càng dồn dập thông tin về những khả năng đặc biệt của con người, những hiện tượng kỳ bí mang tính tâm linh thể hiện rất đa dạng trong đời sống cộng đồng trong nước cũng như trên thế giới. Tiếp cận những vấn đề này một cách khách quan với thái độ thực sự cầu thị, tôn trọng sự thật, khiêm tốn học hỏi để khám phá, nhằm mục đích tối thượng phục vụ lợi ích cộng đồng là điều tâm đắc của nhiều người. Bên cạnh đó, cũng có những hiện tượng tiêu cực dẫn đến những hệ quả không tốt, làm hại đến uy tín của những người hoạt động chân chính.

- Vậy theo ông có cách nào để kìm chế được mặt tiêu cực đó ?

- Ngoài việc tăng cường quản lý Nhà nước, việc làm sáng tỏ về mặt khoa học các hiện tượng mang tính tâm linh cũng là một đóng góp rất hữu hiệu.

- Ông có tin vào số phận không thưa ông ?

- Về mặt lí thuyết chưa ai chứng minh được là có hoặc không có số phận. Ở đây, tùy thuộc vào lòng tin và sự trải nghiệm của mỗi người. Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm rằng, những thành tựu của vật lí học hiện đại rọi những tia sáng mới vào khoa học dự báo. Dự báo liên quan mật thiết đến phạm trù không gian – thời gian. Einstein đã phát biểu rằng : “Quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ là những ảo tưởng cố hữu”. Schrodinger, tác giả của phương trình cơ bản trong Thuyết lượng tử đã phát biểu : “Muôn đời và mãi mãi chỉ có bây giờ… Hiện tại là cái duy nhất không có kết thúc”.

Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến Giác

- Theo tôi được biết, ngay trong khoa học cũng có những thứ được chứng minh, nhưng không xuất hiện một cách tường minh ?

- Tạo hóa đã ban cho vũ trụ chúng ta các dạng tương tác một cách tối ưu bao gồm tương tác mạnh, tương tác yếu, tương tác điện từ và tương tác hấp dẫn. Đó là các loại tương tác cơ bản nhất tạo nên bức tranh của cả vũ trụ chúng ta.

Bất kỳ một loại tương tác nào, một hiện tượng nào dù phức tạp đến mấy, từ vi mô đến vĩ mô cũng đều bắt nguồn từ các loại tương tác đó. Một hướng nghiên cứu có tính thời sự nhất hiện nay là xây dựng Lí thuyết thống nhất, tức là tìm một cơ cấu thiết kế chung gắn kết các loại tương tác với nhau trên cùng một nền tảng và phương hướng được xem là có nhiều triển vọng nhất để xây dựng Lí thuyết thống nhất nói trên chính là Lí thuyết Dây.

Điều đặc biệt là trong lí thuyết Dây nhất thiết phải có các trường “Vong”. Các trường “Vong” này giữ vai trò then chốt trong cơ cấu của lí thuyết, chi phối các cơ chế tương tác nhưng không hề xuất hiện một cách tường minh trong thực tế.

- Ở góc độ là một nhà khoa học, ông muốn nhắn nhủ điều gì đến cả những người đang làm công tác nghiên cứu tâm linh, những người có khả năng đặc biệt ?

Đây là cuộc viễn chinh khoa học gian nan nhưng đầy hứa hẹn, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa Khoa học và Tâm linh, sự đóng góp lâu dài công sức và trí tuệ của các nhà khoa học và các nhà ngoại cảm. Chúng ta có cơ sở để hy vọng rằng cùng với sự phát triển ngày càng sâu rộng của khoa học và công nghệ, dần dà sẽ tiếp cận được những hiện tượng mà cho tới nay vẫn được xem là huyền bí hoặc hầu như là phi lý. Chúng ta sẽ có được những phương pháp hữu hiệu và thực hiện những bước tiến theo tinh thần “Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến Giác”.

(theo Việt Nga thực hiện)
“KỲ QUÁI” CHỮA BỆNH
NAN Y BẰNG… BẮT TAY

Nhiều tháng nay, hàng trăm người dân Vĩnh Phúc và các tỉnh lân cận rộ lên thông tin bà Phạm Thị Chanh có khả năng chữa được bệnh ung thư và các căn bệnh nan y khác mà y học hiện đại phải bó tay, bằng một cách rất đơn giản.

Chữa bệnh kiểu “kỳ quái”

Sáng ngày 8/12/2010, chúng tôi tới nhà bà Phạm Thị Chanh ở thôn Viên Du, xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc để mục sở thị khả năng chữa bệnh đến khó tin của bà.

Tiếp xúc với chúng tôi, hàng trăm người dân đang tụ tập chật kín trong khoảng sân rộng nhà bà Chanh đều quả quyết họ đã được bà Chanh chữa khỏi bệnh nan y theo cách đó dù trước đó họ đã bị các bệnh viện trả về chờ lo hậu sự.

Điển hình là trường hợp của chị Phùng Thị Thùy (SN 1978, trú Đông Nghĩa, Đồng Tâm, Vĩnh Phúc), mang trên mình một cánh tay khổng lồ như cái cột nhà. Chị Thùy cho biết, đầu năm 2010 tự nhiên cánh tay trái của chị to dần lên đến mức không thể xỏ vừa ống tay áo. Chị Thùy đi khám ở bệnh viện Vĩnh Yên, được các bác sĩ chẩn đoán là ung thư xương, tiêu xương và chuyển lên viện K (Hà Nội) để làm xét nghiệm, điều trị.

“Lên đến viện K, các bác sĩ nhìn thấy đều lắc đầu và trả tôi về nhà chờ lo hậu sự. Nhưng còn nước còn tát, gia đình đưa tôi đến nhà cô Chanh, nhờ cô Chanh bắt tay và hát cho nghe những bài ca ngợi đất nước. Đến nay gần 8 tháng trôi qua, tôi thấy bệnh tình thuyên giảm đi rất nhiều. Người khỏe hơn, da không còn bị tím đen như những ngày đầu…”, chị Thùy nói.

Chị Thùy cho biết cánh tay chị trước đây to như cột nhà, sau nhiều tháng điều trị tại nhà bà Chanh đã giảm đi đáng kể. Cách chữa bệnh của bà Chanh rất đơn giản : Sau khi cầm tay người bệnh, bà lấy cho bệnh nhân một ít loại cỏ cây, hoa, lá bất kì cho bệnh nhân về uống, sau đó bệnh sẽ… tự nhiên khỏi.

Ngồi bên cạnh, bế đứa cháu nội kháu khỉnh tên Nguyễn Thiện Quang, ông Nguyễn Như Vinh (phường Đồng Tâm, Vĩnh Phúc) cũng cho biết, khi đứa cháu trai của ông sinh ra được 9 tháng thì trên mắt trái của cháu mang một khối u. Đi khám tới 3 bệnh viện tuyến trung ương, các bác sĩ đều kết luận “cháu bị u ác tính, không thể động dao, kéo”. Sau nửa tháng điều trị tại bệnh viện, bệnh cháu không thuyên giảm, mắt cháu không thể mở được.

Sau đó gia đình ông Vinh đã đưa cháu Thiện Quang về và được bà Chanh “chữa” bằng cách cầm tay và cho một ít “biệt dược” cỏ, cây, hoa, lá mang về nhà đun sôi lên uống. Trong vòng 4 ngày, mắt cháu Quang đã từ từ mở ra và 20 ngày sau, đôi mắt cháu đã mở được hoàn toàn, khối u ác tính đã biến mất.

Một người nữa cũng hết sức khâm phục tài chữa bệnh của bà Chanh là chị Nguyễn Thị Liên (trú thôn Viên Du). Chỉ đứa con trai mình đang bế trên tay, chị khẳng định khi đang mang thai đứa con này, chị đi siêu âm, các bác sĩ đều khẳng định thai nhi trong bụng không lành lặn, khuyên chị nên bỏ. Nhưng chị Liên đã tìm đến xin lá thuốc của bà Chanh về uống và sinh ra thằng cu kháu khỉnh.

Ngoài những trường hợp kể trên, hàng trăm người dân khác đang có mặt tại nhà bà Chanh cũng đều khẳng định họ đã được bà Chanh chữa khỏi bệnh. Vì thế, người nọ đồn người kia, người dân kéo đến nhà bà Chanh mỗi ngày một đông.

Điều đáng nói là dù người bệnh rất đông, nhiều không đếm xuể nhưng bà Chanh hoàn toàn không lấy tiền công khám, ngoại trừ số tiền thuốc là 1.500đ/thang. Nhiều người còn khẳng định bệnh nhân nghèo đến nhà bà Chanh chữa bệnh còn được bà cho tiền lộ phí. Và nhiều khi bệnh nhân đến quá đông, bà Chanh không kịp chữa hết, bà rất buồn.

Giải thích cho chúng tôi về kiểu khám, chữa bệnh bằng cách bắt tay, nhìn mặt và cho uống nước cỏ, cây, hoa, lá…, bà Chanh nói chung chung: “Bắt tay chỉ để cho vui, cỏ cây hoa lá chỉ như là tượng trưng, nhưng chính cái đó lại làm cho người ta khỏi bệnh”.

“Chưa cần quan tâm đến hình thức mà hãy nhìn vào hiệu quả”

Khi thông tin bà Chanh chữa được nhiều bệnh nan y theo kiểu kì lạ rộ lên, chiều ngày 6/12/2010, chính quyền xã Thanh Vân đã mời bà Phạm Thị Chanh lên trụ sở UBND xã làm việc. Tuy nhiên, hàng trăm người dân đã kéo đến UBND xã Thanh Vân tự nhận mình là những con bệnh đã từng mắc bệnh vô phương cứu chữa, bị viện trả về, nhưng lại được bà Chanh cứu sống. Họ cực lực phản đối chuyện các cơ quan chức năng đình chỉ bà Chanh chữa bệnh.

Trao đổi với báo chí, Chủ tịch UBND xã Thanh Vân Nguyễn Công Lương cho biết, chính quyền địa phương đang rất lúng túng trước sự việc này. Diễn biến vụ việc ở xã Thanh Vân có khả năng bị đẩy đi xa hơn, dẫn đến hậu quả xấu về an ninh trật tự, trước tình trạng hàng trăm người dân đã và đang kéo về xã Thanh Vân với sự “cuồng tín” rất đáng lo ngại.

Để giải thích về “hiện tượng lạ” bà Chanh, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải – Trưởng bộ môn Thông tin Dự báo thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người. Theo ông Hải, kiểu chữa bệnh như bà Chanh là hết sức kì quái và nhiều người cho rằng có sự thần bí. Nhưng từ những năm 70 của thế kỉ trước, nhà văn hóa Tâm linh Nguyễn Đức Cần cũng đã từng chữa khỏi bệnh cho rất nhiều người bằng phương pháp hết sức kì lạ.

Ví dụ, bệnh nhân bị đau, ông ấy chỉ cần xé cho mảnh giấy đắp vào vết đau là tự nhiên bệnh nhân sẽ khỏi. Về bản chất thì những mảnh giấy đó chỉ là những mảnh giấy bản, nhìn không có gì khác lạ so với mảnh giấy bình thường.

Hay trường hợp một người có khả năng đặc biệt chữa hóc xương bằng cách nung lưỡi dao nóng đỏ lên rồi hà hơi vào lưỡi dao, sau đó thổi phì phì vào người bị hóc xương thì tự nhiên người đó khỏi hóc… Ngoài ra còn có rất nhiều trường hợp khác có kiểu chữa bệnh hết sức kì quái mà chúng ta chưa khám phá hết.

Theo ông Hải, những người có khả năng đặc biệt như vậy, họ đã truyền cho người bệnh một nguồn năng lượng nhất định nào đó thông qua một vật thể hoặc trực tiếp đến người bệnh. Nhưng xét về hình thức để đem giải thích thì chúng ta thấy không “ăn khớp” gì với khoa học hiện đại.

Nó có cùng bản chất là bằng cách nào đó, người ta truyền cho người bệnh một luồng sóng, một nguồn năng lượng trực tiếp hoặc thông qua một vật thể. Cái vật thể đó, có thể là cốc nước hay là một mảnh giấy…

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải : “Chưa cần quan tâm đến hình thức mà hãy nhìn vào hiệu quả”.

Do đó nếu nhìn về hình thức, chúng ta cũng cần đưa ra quy tắc: Chúng ta chưa cần quan tâm đến hình thức vội mà hãy quan tâm đến kết quả chữa bệnh. Nếu thực tế là hình thức đó chữa khỏi bệnh với một tỉ lệ cao, đáng tin cậy thì chúng ta phải chấp nhận nó. Còn cách giải thích thì sớm muộn con người cũng sẽ tìm ra.

“Nếu xét về quy định của ngành y tế thì việc chữa bệnh của bà Chanh như vậy là không vi phạm. Bởi ngành y quy định rằng: Những người không có bằng cấp y học nhưng tự ý dùng những phương pháp trong ngành y để chữa cho người khác mà gây ra hậu quả xấu cho người bệnh thì người đó vi phạm. Nhưng đằng này bà Chanh hoàn toàn không sử dụng gì đến chuyên ngành y để chữa bệnh nhưng bệnh nhân lại vẫn khỏi bệnh…”, ông Hải phân tích.

Theo ông Hải, trong xã hội hiện nay cũng có không ít người lợi dụng lòng tin của người dân để làm những việc không tốt bằng cách dùng một số thủ thuật có vẻ thần bí để kiếm lời. Điều đó đã phần nào làm ảnh hưởng đến những người có khả năng đặc biệt thật sự.

Ông Hải cho rằng để việc chữa bệnh của bà Chanh được chứng minh khách quan thì bà Chanh nên cử người làm một cuốn sổ thống kê như là bệnh án của bệnh nhân, ghi chi tiết tên, tuổi, địa chỉ, tình trạng người bệnh trước và sau khi đến chữa bệnh tại nhà. Sau đó nhờ các cơ sở y tế có đủ chuyên môn để kiểm chứng lại. Việc này giống như Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người từng giúp bà Phú ở thị xã Sông Công, TP Thái Nguyên – người cũng được cho là “hiện tượng kì lạ” chữa khỏi bệnh cho nhiều người bằng cách giẫm lên lưng bệnh nhân.

Nguyễn Văn Danh post (theo Hồng Ngân)
THỬ ĐỌC LẠI LỜI TIÊN TRI

Cầu cho tiên đoán của nhà tiên tri Vanga năm 2014 và năm 2016 lần này lần sai lầm.

Hai tiên đoán về năm 2011 của nữ tiên tri mù nổi tiếng người Bulgaria Vanga đã dần trở thành hiện thực. Bà còn đưa ra những lời tiên đoán về năm 2014 và 2016.

Về năm 2011, bà Vanga đã nói :

- “Do những đợt mưa phóng xạ nên mọi sinh vật ở Bắc Bán cầu sẽ bị tiêu diệt. Tiếp đó, người Hồi giáo sẽ tiến hành cuộc chiến tranh hoá học chống lại những người châu Âu còn sống sót”. Như vậy có thể thấy lời tiên tri đáng sợ đó có hai phần.

Phần đầu hiển nhiên là ngụ ý thảm họa hạt nhân đang xảy ra ở Nhật Bản. Phần hai rõ ràng là đề cập đến cuộc chiến hiện đang diễn ra ở Libya, nơi một bên là liên quân các nước châu Âu và Mỹ và một bên là quân đội Libya đang giao chiến kịch liệt với nhau. Hơn thế nữa, chỗ gây sửng sốt trong phần 2 lời tiên đoán nói trên chính là cụm từ “chiến tranh hoá học”.

Như ta đã biết, nhà lãnh đạo tối cao Libya là Đại tá Gaddafi đã gọi những kẻ đang tấn công đất nước ông là đội quân Thập tự chinh và cam kết sẽ dùng mọi phương tiện chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.

Theo tin tức của tình báo phương Tây, trong tay ông Gaddafi có cả vũ khí hoá học. Vậy một khi ông và quân đội của ông bị dồn vào bước đường cùng thì liệu điều gì có thể ngăn trở ông sử dụng vũ khí hoá học chống lại người châu Âu – những người “láng giềng” rất gần, chỉ ở ngay phía bên kia Địa Trung Hải.

Và nếu như hiểm họa đó quả thực xảy ra thì đúng như nhà nữ tiên tri lỗi lạc đã tiên đoán, đến năm 2014 “đa số người sẽ bị mụn nhọt, ung thư da và những chứng bệnh khác về da” (hậu quả của chiến tranh hoá học). Tiếp đó, đến năm 2016 “châu Âu sẽ trở nên trống vắng”.

Tuy rất khâm phục tài tiên tri của người phụ nữ mù Bulgaria nhưng chắc hẳn tất cả chúng ta đều cầu mong lần này bà tiên đoán sai.

_________________




Q9A1_THANG LONG_UNIVERSITY_FOREVER !!!


Về Đầu Trang Go down
http://q9a1-thanglong.friendhood.net
luck
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CĂN ĐỒNG---Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng?   Fri Apr 08, 2011 9:47 pm


dcba
Super Moderator Tham gia ngày: Jul 2006
Bài gởi: 635
Cảm ơn: 31
Đã được cảm ơn 234 lần trong 120 bài


Khả năng nói chuyện với người đã khuất của các nhà ngoại cảm

Sự hiên diện của thế giới người chết, hay còn gọi là thế giới bên kia, cõi âm vv.. đã từ lâu là một vấn nạn lớn của nhân loại mà chưa có lời giải đáp thỏa đáng về mặt khoa học. Liệu có cuộc sống nào khác sau khi chúng ta chết đi không? Linh hồn (vong linh) có hay không và sẽ đi về đâu?


Cho đến nay chưa có bất kỳ bằng chứng khoa học nào chứng tỏ sự hiện diện của thế giới sau cái chết. Phải chăng cũng vì lẽ đó mà dấy lên vô số giai thoại về linh hồn bất tử, không kể xiết những câu chuyện ma, trong đó nghe chừng thuyết phục nhất là những buổi gọi hồn - khi người cõi âm trở về trò chuyện với người trần thông qua “trung gian” là ông đồng bà bóng hay những người có khả năng đặc biệt có thể giao tiếp với người chết.

Tại Việt Nam, từ lâu nay có rất nhiều người tự xưng mình có khả năng nhìn và nói chuyện với người chết, không ít người trong số đó chỉ là tưởng tượng, ảo giác, hay lừa đảo dựa vào tâm lý người hỏi mà trả lời. Nhưng thực tế có nhiều trường hợp những người có khả năng đặc biệt mà trong nước gọi là nhà ngoại cảm (NNC) cung cấp những thông tin khá chính xác khi nói chuyện với người chết.

Từ ngoại cảm có lẽ dịch từ chữ Extra-sensory Perception (linh tính, thần nhãn, thần nhĩ, giác quan thứ 6, trực giác, xuất vía ...) Giác quan đặc biệt ngoài 5 giác quan căn bản để tiếp cận với ngoại giới là : vị giác, khứu giác, xúc giác, thị giác và thính giác, tượng trưng cho lưỡi, mũi, tay, mắt, tai. Trong tiếng Anh người ta dùng từ Parapsychologist hay Psychic để chỉ những người có khả năng này.

Trước tình hình ngày càng có nhiều NNC xuất hiện khắp nơi tại Việt Nam và với nhiều bằng chứng khá thuyết phục về khả năng kỳ lạ cũa họ, ngày 31 tháng 01 năm 1997, chính quyền trong nước đã thành lập Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người địa chỉ tại số 10 Đường Đào Tấn, Quận Ba Đình, Hà Nội (Viện Vật lý Việt Nam) do GS-TS Đào Vọng Đức - nguyên viện trưởng Viện Vật lý Hà Nội, làm giám đốc. Trung tâm có ba bộ môn, bao gồm bộ môn Năng Lượng Sinh Học, bộ môn Thông Tin Dự Báo, và đáng chú ý là bộ môn Cận Tâm Lý

Cận Tâm Lý từ trong nước dịch từ chữ parapsychology, para (beside/beyond/bên cạnh, ngoài, bên kia), psyche (soul/mind/linh hồn, suy nghỉ),trong đó có nghiên cứu về thần nhãn (clairvoyance), thần nhĩ (clairaudience), chuyển di tư tưởng, hồn ma nhập đồng, hiện hình v..v....

Bô môn cận tâm lý do Tiến sĩ Nguyễn chu Phác Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Nhà trường (Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam), Phó chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí Nhà trường quân đội, làm chủ nhiệm, đại tá Hàn Thuỵ Vũ làm phó chủ nhiệm. Bộ môn Cận Tâm Lý sau khi tìm hiểu, khảo sát và sàng lọc, đã tập hợp lại các nhà ngoại cảm chân chính, đáng tin cậy như: Dương Mạnh Hùng, Phan Thị Bích Hằng, Đỗ Bá Hiệp, Nguyễn Văn Nhả, Nguyễn Văn Liên, Nguyễn Khắc Bẩy vv.. dùng các khả năng đặc biệt của các nhà ngoại cảm này thực hiện các đề tài khoa học như tìm kiếm các liệt sĩ. Đáng chú ý là đề tài TK08 và TK08a "Xác minh tên liệt sĩ trên mộ vô danh". Ban chủ nhiệm đề tài đã cùng một số nhà ngoại cảm đi đến các nghĩa trang liệt sĩ Kim Tân (Thanh Hoá), Phú Long (Ninh Bình), Mai Dịch và Đông Kim Ngưu (Hà Nội) là nơi chôn cất hài cốt và tưởng niệm đồng bào bị chết năm 1944 - 1945. Trong 4 nghĩa trang này các nhà ngoại cảm đã tiếp xúc với 60 vong linh, hỏi được họ tên người chết, quê quán và cả tên họ của thân nhân gia đình còn sống.

Những NNC thuộc trung tâm này đã giúp tìm lại mộ của một số danh nhân Việt Nam như tướng quân Hoàng Công Chất, nhà cách mạng Lương Ngọc Quyến, nhà văn Nam Cao vv..
Cũng như nhiều người thân của lãnh đạo trong nước. trong một số trường hợp người nhà đã đi xác định bằng phương pháp thử ADN và cho kết quả chính xác 100%.


Qua các đề tài khoa học trên, Bộ môn Cận tâm lý đã chứng minh bằng thực chứng rằng sau khi thể xác chết phần ý thức - tinh thần vẫn tồn tại ở một dạng khác, ở một nơi khác ta tạm gọi là linh hồn, vong linh và thế giới người âm là có thực.

Đây là một vấn đề nhạy cảm vì lâu nay những người cộng sản vô thần, với chủ nghĩa Duy Vật Biện Chứng ,vẫn cho rằng chết là hết nên chuyện gọi hồn, nói chuyện với người chết là duy tâm, nhảm nhí, mê tín dị đoan. Vì không tin có sự hiện hữu của linh hồn nên trong quá khứ đã có nhiều trường hợp đập phá mồ mả, di dời hài cốt một cách bất cẩn lấy đất xây dựng các công trình, lấy chùa chiền, các cơ sở tôn giáo làm nhà kho, cấm đoán việc cúng kiến, bài bác, xuyên tạc đời sống tâm linh của xã hội vv..

Ngoài ra khi tiếp xúc với người chết, các nhà ngoại cảm còn nhận được nhiều thông tin về những hành vi không tốt của một số càn bộ nhà nước. Qua các tử sĩ các nhà ngoại cảm biết thêm về những trận đánh mà quân đội Bắc Việt đã thất bại để lại thương vong rất lớn, có trận như trận K’nak thương vong trên nghìn người và để lại gần 500 xác lại trận địa mà “tưởng như đã lãng quên hoặc đã được dấu kín , nhưng chính các Liệt sĩ là người đã khơi ra” hoặc “chỉ viết qua loa về những trận đánh không thành công. Trong hồi ký hoặc ký sự lịch sử của một số cá nhân, đơn vị tổng kết chủ yếu chỉ nêu thành tích , việc quy trách nhiệm sai lầm thiếu sót cũng không rõ ràng” (trích báo cáo ĐỀ TÀI TK06 - TÌM MỘ TẬP THỂ LIỆT SĨ Ở TÂY NGUYÊN).

Có lẽ vì những lý do trên nên tới nay đã gần 10 năm, những đề tài báo cáo của bô môn Cận tâm lý thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người không được phổ biến rộng rãi . Lãnh đạo trong nước tuy biết về những công trình này nhưng không có một quan điểm rõ ràng, chính thức về thế giới tâm linh mặc dù trên thực tế đã bắt đầu có sự tin tưởng qua việc cầu hồn, xem bói, đi lễ chùa như trong lời phát biểu của tướng Nguyễn Chu Phác:”Các anh ấy đều làm cả nhưng trong tình hình xã hội bây giờ thì các anh không dám công khai”, hoặc có sự dễ dãi hơn trong một số chính sách về tôn giáo như cho phép làm lễ cầu siêu, giải oan vv.. Nhà cầm quyền trong nước cũng không có chính sách hỗ trợ cho bộ môn Cận tâm lý để phát huy khả năng của các nhà ngoại cảm trong những công việc ích lợi như tìm mộ người chết, xác định nối kết dòng họ với nhau qua những thông tin khi tiếp xúc với người quá cố, điều tra các vụ án mạng, xác địch các di tích lịch sử vv... Các nhà ngoại cảm không được đãi ngộ xứng đáng, kinh phí hoạt động chỉ dựa vào sự hỗ trợ của các nhà hảo tâm.

Tuy nhiên, khả năng của các nhà ngoại cảm Việt Nam đã có tiếng vang trong và ngoài nước. Đài BBC đã hoàn thành một bộ phim tài liệu nói về việc đi tìm hài cốt bằng phương pháp ngoại cảm tại Việt Nam. Có tựa đề Psychic Vietnam, bộ phim đã được chiếu trên kênh BBC Two ở Anh ngày 18.5.2006 và chiếu lại trên kênh̉ Discovery tại các nước Á Châu như Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản vv.. trong tháng 1 và 2 năm 2007 gây ấn tượng khá mạnh cho người xem.

Quý vị có thể xem bộ phim tài liệu tại đây :



Trong bộ phim này quý vị sẽ thấy công việc làm của hai nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy, Vũ Thị Minh Nghĩa (Năm Nghĩa) cũng như một số nhân vật trong bộ môn Cận Tâm lý : Thiếu tướng Nguyễn Chu Phác, đại tá Hàm Thụy Vũ, nhà giáo Quan Thị Lệ Lan.

Bộ phim trên được thu lại trong chương trình của kênh Discovery phát tại Hongkong tháng 1 năm 2007 với phụ đề tiếng Trung Quốc

Chúng tôi cũng xin gửi đến quý vị trích đoạn phần âm thanh của buổi họp mặt của bộ môn Cận tâm lý - Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người ngày ông táo chầu trời 23 tháng chạp năm Ất Dậu ( 22 tháng 1 năm 2006) tại Hà Nội
Xin click vào tiêu đề để nghe hoặc download

CD 1
1. Lời giới thiệu
2. Đại tá Hàm Thụy Vũ phát biểu
3. Thiếu Tướng Nguyễn chu Phác phát biểu
4. NNC Phan Thị Bích Hằng phát biểu
CD 2
5. Giào sư Trần Phương phát biểu
6. Giáo sư Trần Văn Hà phát biểu
7. TS Đào Vọng Đức phát biểu
8. Ông Trần Bá Nha cha nuôi NNC Phan Thị Bích Hằng phát biểu


Trích đoạn Video kỷ niệm 10 năm thành lập Trung Tâm Nghiên Cứu Tiêm Năng Con Người ngày 26 tháng 1 năm 2007 tại Hà Nội


Giáo sư Đào Vọng Đức giám đốc Trung Tâm phát biểu



TS Nguyễn Chu Phác chủ nhiệm bộ môn Cận Tâm Lý phát biểu


NNC Nguyễn Phúc Giác Hải chủ nhiệm bộ môn Thông Tin Dự Báo
Về Đầu Trang Go down
luck
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: “Khảo sát khả năng đặc biệt của cô Phương – Hàm Rồng,Thanh Hóa   Fri Apr 08, 2011 9:54 pm



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————————-

Hà Nội, ngày 23 tháng 02 năm 2000

BÁO CÁO BỔ SUNG CỦA NHÓM TRỰC TIẾP KHẢO SÁT VÀ LẬP PHIẾU

“Khảo sát khả năng đặc biệt của cô Phương – Hàm Rồng,Thanh Hóa(từ 14/01/2000 đến 25/01/2000

Để minh họa cho Thông báo kết quả đợt I “Khảo sát khả năng đặc biệt của cô Phương” ở huyện Hàm Rồng (Thanh Hóa), chúng tôi gồm có Nguyễn Quang Thịnh – chuyên viên cao cấp Trung tâm thông tin tư liệu thuộc TTKHTN và CNQG và Đinh Lan – cán bộ giảng dạy toán bậc đại học đã nghỉ hưu, là những người đã trực tiếp theo dõi và lập phiếu khảo sát cũng như sang lại băng của những cuộc gặp giữa vong và người thân tại điện thờ ở nhà cô Phương. Tất nhiên, chỉ sang lại băng của các trường hợp mà gia đình đồng ý, xin báo cáo rõ thêm qua 97 phiếu khảo sát mà chúng tôi đã lập được. Báo cáo bổ sung minh họa có tính định tính này cũng nhằm đáp ứng mục đích của kế hoạch khảo sát đã đề ra, nghĩa là xác định tính đúng sai của những thông tin do quần chúng đưa ra, khẳng định những điều đã và đang là sự thật diễn ra tại “điện nhà cô Phương – Hàm Rồng, Thanh Hóa”.

Trước hết, nhận xét đầu tiên của chúng tôi về “điện nhà cô Phương” là một gian nhà rộng chừng 30 mét vuông, trong nhà chỉ có một bàn thờ đơn sơ, không trang trí gì ngoài mấy bát hương. Còn cô Phương, một phụ nữ 26 tuổi, xinh đẹp, ăn mặc rất giản dị. Bắt đầu buổi lễ với vẻ mặt thành kính, cô khấn cúng rất đời thường: “Con niệm Nam mô a di đà Phật, xin các chân linh Bồ Tát, hôm nay ngày… tháng… năm… cho các vong linh về gặp người thân, đường sá xa xôi cách trở, các gia đình đã đến đây…”.

Qua chứng kiến những cuộc gặp gỡ của các vong với gia đình, chúng tôi cảm nhận việc làm của cô Phương là hoạt động tâm linh chân chính, không có màu sắc mê tín dị đoan, vì cô Phương cũng không gọi được hồn nào mà chính vong của từng gia đình đi theo gia đình về báo cho cô Phương, gọi người nhà vào nghe vong nói. Qua phỏng vấn các gia đình, chúng tôi cũng khẳng định không thể là một “siêu khả năng” đọc ý nghĩ người khác của cô Phương. Bởi vì rất nhiều người phát biểu: “Vong nói cả những chuyện gia đình đã quên sau một thời gian dài, hay những chuyện mà người đi gọi vong không biết, phải hỏi lại người ở nhà mới xác định là đúng”.

Qua 98 phiếu khảo sát với băng ghi âm kèm theo, chúng tôi đánh giá một số nét như sau:

1. Quan hệ người đi tìm với vong, giữa các vong

Phần lớn là cốt nhục, máu mủ, tuy nhiên cũng có những trường hợp sau đây vong vẫn về: bố mẹ nuôi (phiếu 72), kế mẫu (phiếu 46), người yêu cũ từ hơn 30 năm trước (phiếu 37A), bạn bè (cô gái tên là Tâm tới tìm bạn, không lập phiếu).

Trong đợt này, vong cao niên nhất là vong cụ Hồ Quý Ly, nhỏ nhất là vong một cháu mất lúc mới 8 tháng; từ khi mất, thời gian mời vong về gần nhất là 50 ngày. Giữa các vong có quan hệ như lúc còn sống: vợ chồng, cha mẹ, ông bà, xóm giềng, bạn bè… điều này thấy ở tất cả các trường hợp, một gia đình có từ 2 đến 8,9 vong về trở lên.

2. Cách xưng hô và cách gọi

Các cá nhân, gia đình được chúng tôi khảo sát, phỏng vấn đều khẳng định là cách xưng tên của vong cũng như cách gọi người thân của vong rất gây ấn tượng, mọi người đều nhận thấy từ ban đầu: vong đó chính là người nhà của mình, không thể lẫn lộn. Một số ví dụ sau đây nói về việc vong xưng và gọi (qua cô Phương):

- Linh hồn liệt sĩ Lê Quý Huệ hy sinh ở An Giang – Bảy Núi muốn gặp người thân (phiếu 46).

- Có linh hồn tên là Khôi, tức Thành (phiếu 2), có trường hợp gọi tên người nhà là Sơn thì hai người đàn ông tên Sơn cùng đứng lên, nhưng vong (qua cô Phương) trỏ tới một người nói “Sơn này có con tên là Giang mới là người nhà của ta”!

- Có một gia đình (phiếu 97), vong ông nội về gọi tên con cháu và phân biệt rõ là nhà có 2 Xuân: Xuân Hà và Xuân Giang. Hà và Giang là tên hai cháu dâu của vong. Có trường hợp cháu tên Tuấn: Tuấn cháu nội, Tuấn Anh chắt nội và cháu Tuấn có tật (liệt chân) là chắt ngoại.

- Ở phiếu 17, vong một bà về gặp chồng, các con và cháu. Vong nói: cháu ngoại là Phương Linh, lấy từ chữ Phương là tên con rể vong, tại sao cứ gọi cháu là Ĩn.

3. Vong nêu nguyên nhân dẫn đến cái chết của mình

Đây cũng là một điều nói lên tính xác thực của thông tin. Không tính đến những liệt sĩ hy sinh ngoài mặt trận và những người chết do tuổi già, sức yếu. Còn trong khoảng hơn 150 vong về, nhiều vong nói rõ cái chết đặc biệt, ít gặp của mình như chết đuối (phiếu 1, 28, 30, 67), chết do mắc bệnh hoang tưởng rồi treo cổ tự vẫn (phiếu 93), chết do bị kẻ gian bóp cổ ăn trộm tiền của (phiếu 10)…

Như trường hợp một bà cô tên là Nhung, chết trẻ vì bệnh cam tẩu mã, hai người cháu đi gặp vong không hề biết, phải xác định qua bố là anh ruột vong mới biết là đúng như vậy. Đây là một trong nhiều ví dụ để chúng tôi loại trừ khả năng của cô Phương “đọc ý nghĩ” người tiếp cận.

4. Vong biết mọi việc xảy ra với người thân

Các gia đình, các cá nhân mà chúng tôi khảo sát, phỏng vấn đều xác nhận một điều là những việc đã, đang làm của mọi người thân, kể cả dự định sẽ làm, vong đều biết; có trường hợp vong trách: gia đình hẹn vong (chúng tôi hiểu là khấn ở nhà) là đến gặp từ hôm qua mà hôm nay mới tới để vong phải chờ, hoặc gia đình đã làm đám giỗ vong trước một ngày để đi tới “điện nhà cô Phương”.

- Từ những việc lớn trong nhà như mồ mả, đất đai:

Ví dụ mộ bị nứt 5 đường, vong vẽ 5 đường nứt (phiếu 58), chỉ rõ vị trí ngôi mộ của vong mà gia đình đang định tìm kiếm; có trường hợp gia đình đã tìm được (phiếu 57, 58); có trường hợp gia đình xác nhận thông tin nhận được trực tiếp ở vong (qua cô Phương) trùng với thông tin mà gia đình biết được từ 2 người có khả năng đặc biệt trong tìm mộ là cậu Liên và cô Thao (phiếu 40). Việc con cháu có ý định xây lăng mộ hoặc gia đình đã dịch gia phả từ chữ Hán nôm sang chữ Quốc ngữ (phiếu 69, 97).

- Đến những chi tiết khác như:

Cháu nghiện hêroin, hay người ăn cắp (phiếu 50, 31, 42) vong gọi rõ (như trong phiếu 58), cháu Nguyễn Thị Hoàng Yến đang học ở Anh, cháu Lan định sang Nga hay trong phiếu 74 cháu Bảy đang lo chuyện nhập quốc tịch ở Tiệp, lần này về chỉ để kiếm vợ là người Việt Nam rồi đưa sang Tiệp làm ăn sinh sống. Tại phiếu 60, vong bà mẹ về gọi rõ con gái tên là Chi vừa ở Mỹ về đến gặp vong, nhưng sẽ phải sang Mỹ ngay không kịp ăn Tết ở Việt Nam (lúc đó còn 10 ngày là tết); ở phiếu 65, vong là cô ruột, cũng là mẹ nuôi của người gọi vong nói nỗi nhớ nhà, vong nói rõ: nhà cô ở cách nhà (cha, mẹ) của cháu 16 số, 16 cộng 64 là nhà của cô. Thực tế được gia đình xác nhận, đó là 2 ngôi nhà 64 và 80 phố Hàng Q. Hà Nội.

Ở tất cả các phiếu khảo sát mà chúng tôi đã lập được, đều chứng tỏ vong biết các chuyện trong nhà, ngay cả đứa cháu vừa bị bỏng hay ngã gãy tay hôm trước, gia đình mới mua tivi 5 ngày trước hoặc bố mới chữa ống nước cách 3 ngày v.v…

Tuy nhiên, không phải lúc nào vong cũng ở bên người thân. Qua theo dõi liên tục thấy sự tồn tại một thế giới các vong là có thực, nhưng các vong cũng đi đây đó, làm công việc của vong. Ví dụ ở phiếu số 10, vong người cô ruột nạn nhân (cháu Hùng, 12 tuổi) xưng là cô Văn Thị Thanh (em ông Văn Đình Hùng, người đi tìm vong). Vong bà Thanh về khóc, ân hận, sợ anh chị trách móc là nhà có bà cô linh thiêng sao để kẻ gian vào nhà giết cháu, cướp của. Vong bà Thanh nói: lúc xảy ra tai nạn với cháu, vong vắng nhà.

5. Tình cảm, thái độ của vong (qua cô Phương) đối với người thân

Để thấy rõ điều này với những ai chưa một lần tới “điện nhà cô Phương” thì ngoài việc đọc các phiếu khảo sát, có thể nghe vài đoạn băng ghi âm mà chúng tôi đã xin phép các gia đình sang lại.

Chúng tôi có nhận xét rằng với các vong của người mới mất gần đây (thường cũng phải ngoài 49 ngày), vẫn còn nhiều lưu luyến, tiếc nuối cuộc đời không kéo dài hơn được. Đặc biệt với các vong của người ra đi một cách đột ngột hoặc oan ức thì vong khóc lóc thảm thiết, nước mắt, nước mũi ròng ròng.

Với những vong của người đi đã lâu thì có thái độ trầm tĩnh, một vài trường hợp hóm hỉnh, cười vui. Ví dụ, vong cha đẻ của nghệ sĩ hài TĐH về nói với con: “Từ sáng, cha chen ngang 4 lần rồi, lúc nào cha chen được là chen”. Theo nghệ sĩ TĐH xác nhận: đúng là lúc còn sống, ông Hiển hay vui đùa như vậy (phiếu 14), hay ở phiếu 73 vong bố cười vui về chuyện ông thông gia – bố vợ anh Cương – người đi tìm vong, cứ nghi ngờ con rể trong quan hệ nam nữ. Vong nói: đó là chuyện quá khứ thôi!

Có vong về xót xa ân hận vì lúc sống nghiện hêroin làm khổ mẹ và vợ con (phiếu 14); có vong nói: lúc còn sống, sau khi đi lao động ở Liên Xô về, có nhiều tiền mà “kibo” (đúng như từ vong dùng) với mẹ đẻ (phiếu 45), khi chết đi tiền ở bên nhà chồng.

Có vong về buồn rầu, than thở: “Ta buồn vì cháu Liên Trung Ngã của ta phạm pháp, đang bị giam giữ” (phiếu 35).

Nhiều vong rất tự hào về sự hy sinh của mình là vì dân, vì nước hoặc có mẹ được phong Bà mẹ Việt Nam Anh hùng hoặc có vợ con chăm làm việc thiện…

Bao trùm lên tất cả các phiếu khảo sát mà chúng tôi đã lập được là những lời khuyên hướng thiện, nhân đức của vong đối với người thân. Ngay cả vong người vợ phải tự tử chết do chồng nghi oan, vẫn khuyên con cháu đối xử tốt với bố: “Đó chẳng qua là bố mẹ hiểu lầm nhau” (phiếu 79). Hoặc có vong người vợ về nói: sẽ tìm vợ mới cho chồng và dặn con gái phải cư xử đúng với bà kế mẫu tương lai (phiếu 60).

Có lời lẽ vong dùng rất “bài bản”: “Mọi người sống tốt thì xã hội mới phát triển”(!)

Các vong đều khuyên gia đình đừng đốt vàng mã nhiều, đừng mê tín dị đoan tốn tiền vô ích; với người thân đang bệnh tật, nhiều vong có lời khẳng định: “Đó là bệnh trần, phải dùng thuốc”.

Vong cũng khuyên người sống phải tôn trọng pháp luật (như ở phiếu 35) hay ở phiếu 10, vong nói với gia đình: vong chết do tên… (nói tên X), tả hình dạng, nghề nghiệp, tả rõ lúc tên giết người hành sự, câu chửi cũng như hành động của kẻ thủ ác. Xong vong nói: “Thời nào cũng có Bao công, người ta sẽ tìm đủ chứng cớ buộc tội, không thể chỉ căn cứ lời người chết, vì vậy gia đình cần bình tĩnh, không trách cứ công an, viện kiểm sát…”.

Với những thói xấu của người thân, vong có thái độ rõ ràng như trách móc, khuyên răn, đó là ở các phiếu 2, 3, 8, 33, 17, 81 gia đình có chuyện bất hòa, nghiện rượu, nghiện hêroin… như ở phiếu 2 (trong băng ghi âm) vong là liệt sĩ nói với em: “Cả khu không ai gọi em là ông Lập hay anh Lập, người ta toàn gọi em là thằng Lập say”.

Nhiều vong rất tế nhị như ở phiếu 37B, lúc có con gái vong chỉ nói con gái bị u xơ, bệnh trần, tìm thuốc chữa, nhưng khi con gái đã ra ngoài sân (vô tình hay do vong điều khiển?) thì vong nói riêng với hai con trai (lúc này cô Phương tắt băng ghi âm) là con gái bị ung thư, sẽ chết. Có những trường hợp vong không đồng ý cho lập phiếu khảo sát, vì vậy có trường hợp không có phiếu, nhưng có băng ghi âm, trong những băng này không có địa chỉ người đi tìm vong, ví dụ ở băng số 2 mặt B, băng số 4 cả 2 mặt A và B).

6. Vong nói về mồ mả, hài cốt

Chúng tôi nhận xét rằng, cô Phương không giống một số người có khả năng đặc biệt khác chuyên làm việc tìm mồ mả, hài cốt. Mọi người đến “điện nhà cô Phương” cũng không chỉ có mục đích tìm mồ mả, hài cốt người thân. Tuy nhiên, các gia đình có bức xúc về vấn đề này cũng được vong (qua cô Phương) cho biết ngay, hướng dẫn chỗ phải đi đến hoặc có những giải đáp thỏa đáng.

Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập tới một vài trường hợp coi là đã được xác định đúng.

Ví dụ ở phiếu 97, vong ông nội về nói ngay: các cháu đến đây hỏi về việc mồ mả hài cốt, nhưng chuyện này ông chỉ nói với bố mẹ các cháu mà thôi! Đó là có một cô ở thành phố Hồ Chí Minh đến “điện nhà cô Phương” với bức xúc là người nhà sang cát cho 6 mộ của họ tộc, nhưng sơ suất không đánh số. Vì vậy, việc bộ hài cốt nào ứng với bia ghi danh nào thì chưa chắc chắn.

Ở phiếu 24, vong liệt sĩ Lê Văn Thiệp nói với cô em ruột là: xương cốt nằm dưới nền một nhà máy in ở Hà Nội. Về điều này, gia đình cho biết trùng với lời ông Phan Tử Lăng, thủ trưởng của liệt sĩ Thiệp đã nói với gia đình 40 năm trước và nơi đó là nhà máy in Tiến Bộ ngày nay.

Có trường hợp vong liệt sĩ về nói chết bên Cămpuchia, được chôn cất trước cửa nhà một ông cán bộ (phiếu 37B), gia đình cho biết trùng với thông tin do đồng đội đã nói với gia đình.

Có trường hợp vong nói mộ gia đình đã lập là mộ giả, không có hài cốt (phiếu 38B, 59A), các gia đình xác định đó là sự thật. Tuy nhiên, các vong đều nói hồn đã nhập mộ!

Có trường hợp, vong nói chết trên biển từ 48 năm trước, không còn cốt, trùng với thông tin mà đồng đội đã nói lại về cuộc vượt ngục ở Côn Đảo (phiếu 55).

Cũng có trường hựp gia đình xác nhận thông tin về mộ do vong nói trùng với thông tin do hai nhà ngoại cảm là cậu Liên và cô Thao nói, nhưng người nhà chưa đi tìm (phiếu 40).

Trong cả đợt khảo sát (97 phiếu), có duy nhất một trường hợp vong vô cùng giận dữ, đó là phiếu 89, vong bà mẹ về trách móc con cháu khi bốc mộ cho mẹ lại bốc nhầm mộ nhà khác: “Mặc áo nhầm thì còn được, xương cốt nhầm là làm sao? Chúng mày đã nhận người khác là mẹ rồi à!”.

Ở phiếu 92, vong chồng tên Sĩ nhắc vợ tên là Nga về mộ một vong tên là Quang, nằm gần mộ của vong. Bà Nga không biết Quang là ai. Sau đó gọi điện về Hà Nội (bà Nga hiện ở thành phố Hồ Chí Minh) mới biết Bùi Tường Quang là cháu của chồng, do cha mẹ anh chị em đã chết cả, nên mộ của vong Quang chưa được xây. Đây cũng là ví dụ để nói rằng cô Phương không hề làm cái việc là “đọc ý nghĩ” của người đi tìm vong.

7. Dự báo của vong cho người thân

Việc vong chỉ mồ mả, hài cốt phần lớn ta phải chờ thời gian mới có đánh giá, tuy nhiên như ở phần 6 đã có một số trường hợp có thể đánh giá ngay về sự chính xác, ngoài ra một số trường hợp khác, điều mà vong báo với gia đình chính xác một cách không lý giải được.

Ví dụ ở phiếu 20, hai người con đi gặp vong bố chết 1 năm trước về bệnh ung thư để hỏi về bệnh của mẹ, vong người bố nói mẹ cũng bị ung thư sẽ chết, điều này đã được bệnh viện xác nhận.

Ở phiếu 38A, người đi tìm vong tên Cương, ghi cả 2 lần đi gặp vong ông nội trong phiếu khảo sát và cũng cho chúng tôi thu băng cả hai lần. Lần thứ nhất vong ông nội bảo: bố anh Cương đang bị bệnh ung thư sẽ chết vào tháng 12 Kỷ Mão, lúc này bố anh Cương đang nằm ở bệnh viện tỉnh Nghệ An. Lần thứ hai, anh Cương đến “điện nhà cô Phương” ngày 15/01/2000, tức là 10/1 Canh Thìn, sau khi bố anh Cương đúng là đã chết vì ung thư, ngày chết vào giữa tháng 12 Kỷ Mão như vong ông nội đã báo trước, lần này vong ông nội về báo là vong bố anh Cương đã xuống Âm với ông rồi và ông đang chăm sóc.

Ở phiếu 52, người đi tìm vong là chị Tùng, chị cũng cho ghi 2 lần đi tìm gọi vong cách nhau 4 ngày. Lần thứ nhất vào ngày 13/01/2000, lúc nhóm khảo sát chúng tôi chưa làm việc và lần thứ hai là ngày 18/01/2000, chị Tùng cũng để chúng tôi thu băng lại.

Ở lần thứ nhất, vong em chị Tùng là liệt sĩ Trịnh Minh Thông nói em ruột là Trịnh Minh Thư bị tâm thần, đang nằm bệnh viện, chị Tùng phải lên chùa cúng, em Thư sẽ khỏi.

Về nhà, chị Tùng lên chùa nhờ các sư cúng (duy nhất 1 lần!). Quả nhiên, bệnh cậu Thư khỏi. Hôm 18/01/2000, chị Tùng có dẫn cả cậu Thư đến, trước mặt chúng tôi là một thanh niên khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cậu Thư phát biểu: “Chẳng hiểu tại sao lại khỏi!”.

Chúng tôi rất chú ý liệt kê, đánh giá các điều mà vong về báo trước cho người nhà như bệnh tật, tai nạn… Tuy nhiên, để làm việc này cần có khoảng thời gian.

(Nói thêm: trước ngày 22/12 Kỷ Mão, tôi cùng con gái (27 tuổi) có cuộc nói chuyện ngắn vài phút với cô Phương. Cô Phương nói rằng: “Không hiểu Tết nhất thế nào mà mấy hôm nay cháu “thấy” máu và xác người đầy trên đường”).

Khi viết báo cáo này, tôi liên hệ câu nói đó với những tai nạn giao thông xảy ra trong dịp Tết vừa qua, vượt hơn hẳn mọi năm. Phải chăng đây cũng là sự dự báo của cô Phương?

8. Một số hiện tượng đặc biệt

Trong đợt khảo sát này, chúng tôi đã gặp những hiện tượng thần bí, các gia đình đều công nhận là đúng 100%, cũng xin viết lại để tham khảo.

Tại phiếu 15A, vong cụ Hồ Quý Ly về gặp cháu 18 đời là ông Hồ Sỹ Phúc, ở số 11 đường Nguyễn Tuân, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Từ 10 năm trước, vong cụ Hồ Quý Ly chỉ chỗ cho ông Phúc vào một cái hang (qua giấc mơ), nay cụ hỏi lại và ông Phúc xác nhận đúng. Cái hang đó chỉ ông Phúc là trèo vào được, thanh niên khỏe mạnh đi cùng không ai vào được, toàn trượt ngã.

Trong hang (vong cụ Hồ Quý Ly có vẽ hình) có 1 con trăn, con trăn đó chỉ kêu 2 tiếng “chít, chít” rồi bò vào một góc nằm cuộn tròn.

Hai chữ tượng hình (mật mã) do ông Phúc chụp được ở hang trùng với 2 chữ mà vong cụ Hồ Quý Ly (qua cô Phương) đã ghi trước đó cho ông Lê Văn Tạn ở Thọ Xuân – Thanh Hóa, vong cụ Hồ Quý Ly báo tin: ông Tạn cũng là cháu đời thứ 18 của cụ, là ngành dưới (tức là em ông Phúc ở Hà Nội), sở dĩ có chuyển đổi sang họ Lê vì xưa kia con cháu cụ sợ bị hình phạt tru di tam tộc.

Ông Phúc ở Hà Nội và ông Tạn ở Thanh Hóa trước khi đến cô Phương không hề quen biết nhau, nay qua vong cụ Hồ Quý Ly, hai ông nhận ra cùng họ và trở thành anh em thân thiết.

Ở phiếu 29, vong bà mẹ về kể lại năm 1987, trước khi bà chết vài tháng có một con rắn cạp nong to vào nhà. Đó là con rắn thần, các con đã đánh chết. Ở phiếu số 52 cũng vậy, vong người anh về kể lại cách đây 5 năm, em trai có làm mộ giả cho anh trên đồi cao, trên đường đi có một con rắn nằm cuộn tròn giữa đường. Vong người anh lúc đó đã nhập vào con rắn. Hoặc có vong nói trước ngày giỗ đã điều khiển một con chim bay vào nhà, có thấy không? Gia đình xác nhận là có con chim bay vào nhưng bay ra ngay…

Nhìn chung, trong 97 phiếu khảo sát có 96 phiếu đều ghi: sau khi gặp vong của người thân thì họ vui vẻ, có duy nhất 1 trường hợp ghi buồn! Vong ông bố bị chết vì ung thư, nay vong lại báo là người mẹ cũng sắp chết do ung thư!

Nhiều người sau khi gặp vong người thân, bước ra khỏi “điện nhà cô Phương” với nụ cười trên môi và nước mắt chảy dài trên má. Họ đã nhận được những lời khuyên bảo, răn dạy, giải tỏa được những bức xúc về mồ mả gia tiên, tâm tư tình cảm, công ăn việc làm, quan hệ gia đình và xã hội… Họ đều tin là người thân của họ tuy đã đi xa nhưng không phải hết tất cả, những vong của người thân vẫn luôn ở bên ta, quan tâm, chăm sóc ta. Nhiều người nói: “Phải sống thiện hơn, không có các vong biết hết!”.

Cá biệt, có những vấn đề lớn trong gia đình được giải tỏa như sau:

- Một vong về minh oan cho chú và gọi rõ tên kẻ giết người (phiếu 10);

- Vong của hai bố con liệt sĩ về minh oan cho vợ, mẹ trước những người than khác: nỗi oan “hoang thai” mà bà đã phải chịu đựng suốt từ năm 1967 đến trước ngày tới “điện nhà cô Phương” (phiếu 40);

- Vong của một người thanh niên xin với bố mẹ chăm lo cho vợ và đứa con tật nguyền. Dù rằng lúc còn sống, cuộc hôn nhân của vong không được bố mẹ thừa nhận (phiếu 80).

Có những người đã đi tới “điện nhà cô Phương” rất nhiều lần, như ở phiếu 88 ông Dương Quốc Đạt, một thương binh, có bà Cô Tổ là Dương Thị Ngoét đã truyền đạt và giao trách nhiệm hành nghề thuốc đông y gia truyền của họ Dương.

Cũng có người trên đường đi, nghe nói về “điện nhà cô Phương”, thử ghé qua vì muốn gặp vong, nhưng với tâm trạng chưa tin như ở phiếu 48 – một nữ doanh nghiệp người Thái Lan, cô Chămaiporm Chathanamuk. Vong bà mẹ về nhắn qua cô Phương; cô Chămaiporm đã ghi trong phiếu khảo sát và phát biểu (băng số 9, mặt B), đã xác nhận: cô Phương gọi đúng tên Chămaiporm và tên bố cô là ông Phít, vong cũng nói rõ bà chết do bệnh tim, chết đột ngột, không dặn dò gì và nói rõ trong túi cô Chămaiporm có bùa hộ mệnh.

Trên đây chúng tôi chỉ làm phần việc như là ghi chép lại những sự thực và chỉ những sự thực đang diễn ra ở “điện nhà cô Phương”. Sau khi một lần nữa, tôi nghe lại số đoạn băng để xem cách nói của vong (qua cô Phương) của những người đã khuất thuộc các lứa tuổi khác nhau từ em bé 8 tháng tuổi đến người già đã xa trần gian hàng 600 năm trước, người có trình độ học vấn trên đại học đến người còn làm lao động giản đơn hoặc nặng nhọc… thấy rõ (qua băng) cách nói thể hiện đúng tuổi tác, trình độ và sự hiểu biết của vong lúc còn sống.

Tất cả những người đến tìm vong có nhiều lứa tuổi, nhiều trình độ như tiến sĩ, giáo sư, bác sĩ, nhà buôn, làm ruộng, công nhân, nội trợ v.v… nhưng tất cả mọi người đều có chung một cảm nhận, và đó cũng là cảm nhận của những người được trực tiếp khảo sát.

Mọi người đều nhận thấy: “Thế giới tâm linh là có thật, đó là một thực tế khách quan, cần được các nhà khoa học nghiên cứu nghiêm túc. Chúng ta hãy bình tĩnh, khách quan lắng nghe những lời nhắn nhủ từ thế giới tâm linh để có cuộc sống nhân ái hơn, lương thiện hơn”.

Chúng tôi tin rằng, “Thời của những điều kỳ diệu sẽ tới. Khoa học sẽ làm nên những phát hiện lớn trong lĩnh vực vật chất” – lời của nhà tiên tri VANGA trong cuốn sách VANGA – những bí ẩn của nhà tiên tri (tác giả là Karaximira Xtolakora, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1997).

Viết xong, ngày 15 tháng 2 năm 2000
Người viết báo cáo

ĐINH LAN
Về Đầu Trang Go down
kkkk
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: CHÚNG TÔI ĐI GỌI VONG NGƯỜI NHÀ QUA CÔ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG   Fri Apr 08, 2011 9:56 pm



Tướng Nguyễn Hùng Phong kể chuyện

KNTL – Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, nguyên Phó tư lệnh Chính trị và Bí thư Đảng uỷ Quân khu I, ở tại 33B Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Trước khi đi gọi vong người nhà, ông Phong đã đọc qua một số tài liệu về nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Phương do những người am hiểu khoa học viết ra. Và có lẽ cũng qua việc gọi vong, ông Phong mong muốn bằng sự suy xét của mình kiểm nghiệm lại những dư luận đa chiều về một người có khả năng đặc biệt.

CHÚNG TÔI ĐI GỌI VONG NGƯỜI NHÀ QUA CÔ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

Chuyện về cô Phương ở gần cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá) gọi được vong linh người đã mất về nói chuyện với người thân, tôi đã nghe nói từ năm 1998, nhưng vẫn còn nhiều nghi ngờ. Cuối năm 1999, con tôi đang công tác tại Công ty tái bảo hiểm quốc gia có mang về cho tôi một tài liệu nói về cô Phương, trong đó có bài viết “Em Phương ở núi Ngọc – Hàm Rồng – Thanh Hoá” của TS Ngô Kiều Oanh (Giám đốc Chương trình Thông tin quy hoạch vùng và Tài nguyên môi trường, Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia) và bài “Cuộc gặp gỡ người thân gia đình đã mất (vong) ngoài sức tưởng tượng” của PGS-TS Trần Khiêm Thẩm và vợ là PGS-TS Lê Viết Ba… Kèm theo bản kiến nghị của ông Lê Vĩnh Thọ, cán bộ nghiên cứu thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, gửi ông Đặng Hữu, Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương, đề nghị xem xét và cho phép nghiên cứu khả năng đặc biệt của cô Phương. Những thông tin trên của các nhà khoa học làm cho tôi tin là cô Phương có khả năng gọi được vong linh người đã mất về nói chuyện với người thân.

Tháng 3-1999, vợ tôi là bà Vũ Thị Hạnh, nguyên Trưởng phòng Giáo dục quận Hoàn Kiếm – Hà Nội, bị một cơn nhồi máu cơ tim, mất đột ngột tại nơi làm việc (Trung tâm Đại học ngoại ngữ tại chức, Trưng Vương – Hà Nội), tôi và các con bị hẫng hụt nặng về tinh thần và tình cảm. Sự ra đi đột ngột không lời dặn dò của vợ tôi đã làm cho tôi và các con càng thêm đau thương. Biết được “hiện tượng cô Phương“, tôi và các con quyết định nhờ cô Phương giúp cho được gặp vong linh bà Hạnh để giải toả phần nào những băn khoăn về tình cảm.

Ngày 15-12-1999, tôi và con gái về giỗ đầu chú em ruột tôi tại quê ở huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Ngày 16-12-1999 (tức 9 tháng 11 Kỷ Mão), bố con tôi đi vào cầu Hàm Rồng. Trước khi về quê, tôi đã thắp hương ở bàn thờ bà Hạnh khấn nói rõ ý định về quê giỗ đầu chú Vỹ, rồì vào cầu Hàm Rồng nhờ cô Phương mời bà về gặp bố con tôi. Quãng 7 giờ 30 sáng 16-12-1999, khi chúng tôi đến cầu Hàm Rồng thì thấy các hàng quán quanh nhà cô Phương có nhiều người trọ, chúng tôi la cà vào các quán để thăm dò cách thức làm các thủ tục. Được biết có người đến hàng tuần mà vẫn chưa gặp được vong linh người thân, cũng có người vừa đến đã được gặp ngay. Quãng 8 giờ thì cô Phương bắt đầu làm việc. Chúng tôi vào sân nhà cô Phương đã thấy khoảng vài chục người ngồi chờ, quãng hơn 9 giờ thì số người đến tăng dần lên tới hơn 3 chục. Chúng tôi mua một túi lễ mọn đặt vào đĩa với thẻ hương, con gái tôi đặt lên đĩa 20.000 đồng và mang vào phòng cô Phương ngồi, để lên bàn thờ thắp hương khấn “xin thần linh phù hộ cho gia đình được gặp vong linh bà Vũ Thị Hạnh“, rồi quay ra sân ngồi chờ. Đến lúc này, tôi vẫn chưa được nhìn thấy cô Phương. Thấy mọi người đến cái am có bát hương ở sân thắp hương khấn, chúng tôi cũng làm theo. Khi ngồi chờ ngoài sân, thấy có một người ngồi ở cửa ra vào phòng cô Phương thông tin ra gọi người nhà của vong linh vào gặp rồi người nhà đó lại ra ngay ngồi chờ. Quãng hơn 9 giờ thì bỗng có tiếng gọi “ai là người nhà vong linh tên là Hạnh thì vào”, con gái tôi vội chạy vào phòng thì được cô Phương báo cho là “mẹ Hạnh về và cả ông nội nữa”, cô Phương bảo ra sân thắp hương và ngồi chờ. Cứ thế, số người có vong linh về được gọi vào phòng quãng hơn chục người.

Khoảng hơn 10 giờ, cô Phương từ trong phòng ra sân nói: “Hôm nay vong linh về có thế thôi, nếu gia đình nào chưa có vong linh về thì hãy về rồi mai kia lại đến”. Tôi thấy mọi người vẫn không về.

Tiếp đó, cô Phương nghỉ giải lao, có một người đàn ông mang chiếc cát xét và mời mọi người cùng vào phòng trong ngồi xuống chiếu, trong phòng chỉ có một bàn thờ đơn sơ không trang trí gì ngoài mấy bát hương. Mọi người vào ngồi chật cả phòng, bố con tôi ngồi giữa đám đông. Người đàn ông lúc nãy nói về chất lượng băng ghi âm của ông ta, nói rõ người nào muốn có băng ghi âm mang về thì mua một chiếc băng trắng, ông ta nhắc nhở mọi người cần giữ im lặng để nghe vong linh nói, khi nào vong linh muốn nói chuyện riêng với thân nhân mà không muốn cho người khác nghe thì cô Phương sẽ yêu cầu mọi người ra ngoài, lúc đó phải ra nhanh.

Sau khi nghỉ giải lao hơn 10 phút, cô Phương vào và ngồi xuống chiếc chiếu ở góc phòng. Trước mặt cô có chiếc đũa với hai đồng tiền âm dương và chiếc cát xét. Cô Phương nói: Việc các vong linh về trước hay sau là cơ duyên nên không thể xếp hàng ai trước ai sau, vong linh nào về trước thì người thân được gặp trước. Cô Phương ngồi gieo các đồng tiền vào đĩa. Chỉ mấy giây sau, có một vong linh về gọi con đến trước mặt (cô Phương) rồi hỏi: Anh vừa ở Nga về phải không? Người con trả lời: Con vừa ở Nga về, đến đây xin được gặp bố. Vong người bố trách: Tại sao ở Nga anh thay đổi chỗ ở mà không báo cho bố biết, bố sang chỗ ở cũ của anh bên đó không gặp nên bị lạc. Họ nói chuyện với nhau chừng 5 phút. Tiếp đến, vong linh thứ hai là một bà bác về gọi cô cháu (con ông em) đến và nói: Bố con bạc lắm, chẳng thờ cúng tổ tiên, ăn ở đối xử không ra sao. Cô cháu khóc và hỏi: Bố con bị ốm nặng có qua khỏi không? Vong bà bác nói: Bố con đang nằm viện ở Hà Nội phải không? Không qua được đâu, phải đưa ngay về nhà kẻo không kịp. Vong đó nói chuyện với cô cháu chừng 5 phút. Tiếp đến, vong linh thứ 3 gọi người nhà lại gần, chưa kịp nói được câu gì thì đã đi ngay.

Bỗng cô Phương vẫy tay về phía tôi và nói: Mời ông và con lên. Hai bố con tôi mừng và xúc động quá, vội chen lên ngồi cạnh cô Phương. Lần lượt bố con tôi được trò chuyện với vong bà Hạnh. Vong bố tôi và chú em tôi cũng nói xen vào, cuộc nói chuyện được ghi âm toàn bộ gần hết một cuộn băng 30 phút. Giữa chừng, cô Phương có yêu cầu mọi người ra ngoài để vong linh nói chuyện riêng với gia đình. Cô Phương tắt cát xét và sau đó, khi mọi người đã ra hết thì cô lại bật cát xét lên. Câu chuyện về gia đình thì rất dài, ở đây tôi chỉ đưa ra một số chi tiết để nói lên sự chính xác mà chỉ có người thân trong nhà tôi mới biết được.

Khi bố con tôi ngồi trước mặt thì vong bà Hạnh (qua cô Phương) khóc thực sự (hai hàng lệ chảy ròng ròng) và nói: Vì nước mà ông đi tăm tăm biệt biệt, tôi ở nhà một mình nuôi con, đến khi được gần nhau thì trời lại bắt tôi chết, ông kể chuyện huân chương cho tôi nghe nào! (Lúc tôi về hưu, tôi có nói với bà ấy và các con: Mẹ có công sinh và nuôi dạy các con khôn lớn để cho bố yên tâm công tác và chiến đấu, bao nhiêu huân chương của bố là thuộc về mẹ. Lúc còn sống, bà Hạnh rất thích câu nói này.) Rồi vong bà Hạnh nói tiếp: Tôi vừa mất, đáng lẽ không được về, nhưng biết ông già rồi và đi vất vả đến đây để gặp tôi, cho nên tôi phải cố gắng hết sức mới về được, ông có mừng không? Ông định hỏi tôi điều gì, ông đưa giấy cho tôi xem nào? (Khi biết tin vong bà Hạnh và bố tôi về, tôi và con gái có ngồi ở xe để chuẩn bị mấy câu hỏi vào giấy, bỏ túi đề phòng nếu cảm động quá mà quên thì lấy ra xem. Không ngờ vong bà Hạnh biết, yêu cầu cho xem giấy.) Khi xem, vong bà Hạnh nói ngay: đây là chữ ông viết, không phải chữ con. Vong bà Hạnh chỉ đọc 2 câu đầu và nói: tôi biết hết ông định hỏi gì rồi, tôi sẽ dặn ông và con. Vong bà Hạnh lần lượt hỏi đến tên tất cả các con, các cháu và một số người thân quen, cả đứa cháu con chú em đang lao động ở Đức, gửi lời thăm bà Oanh cùng công tác tại Trung tâm đại học ngoại ngữ tại chức, gửi lời thăm cháu Trang là em dâu con gái tôi bị tai nạn xe máy… Vong bà Hạnh nói với con gái tôi nhắc anh Hà (con trai tôi): ngày 18 tháng 12 âm lịch này là ngày xung của Hà đấy, phải cẩn thận… Vong bà Hạnh hỏi: bát hương ở bàn thờ mẹ hoá phải không? Con gái tôi nói: Thưa mẹ, bát hương bàn thờ mẹ hoá nhiều lần (gần 10 lần) vậy tốt hay xấu? – Mẹ mừng, mẹ thích thì mẹ làm đấy, không có gì xấu đâu. Rồi nói với tôi:
Ông đi xe biển đỏ phải không? Khi về nhớ mở cửa xe để tôi về cùng ông! (Tôi đi xe quân khu 1 và gửi xe ở đầu làng.) Tôi cám ơn ông và các con đã đưa tôi về quê ngoại (xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm – Hà Nội). Ông có biết không, lúc sống tôi rất thích về quê ngoại và cũng có ý nghĩ khi nào mình chết được về quê ngoại nằm, ở đó có cha có mẹ mình. Đám đất ông tìm cho tôi sao mà đẹp thế, tôi ưng lắm, tôi thật toại nguyện. Ông còn hỏi tôi về chuyện 35 ngày… Tôi cám ơn ông và các con sau 35 ngày đã đưa tôi lên chùa, tôi đã được về hầu Phật, ở dưới Âm tôi không thiếu cái gì, chỉ thương ông và các con
Vong cụ nói với con gái tôi: Ông thương cháu lắm, tại sao cứ có thai lại rơi ra, rồi vạch cho cách ăn bắp gân bò để dạ con co lại giữ thai. Vong cụ hỏi thăm cháu Tuất con út chú em tôi vừa đi hợp tác lao động ở Hàn Quốc, hỏi là tại sao định không cho đi rồi lại cho đi (trước đó, tôi định không cho cháu đi vì sức khoẻ cháu yếu, vả lại tôi đã tìm được việc cho cháu tại Hà Nội, lương tháng trên 500.000 đồng, nhưng vì cháu thích đi quá, tôi khuyên không được nên đành để cho cháu đi). Vong cụ còn hỏi thăm cháu Hải (đời thứ 4) bên ngoại tôi mà tôi mới gặp cháu vài lần đến nhờ tôi xin việc làm.

Vong chú em tôi về chỉ nói được 2 ý:sao anh đến đây không cho cháu Hùng đi với (cháu Hùng là con trai thứ 2 của chú ấy), em vẫn cứ canh cánh bên lòng về vợ chồng cháu Hùng, không biết các cháu có tiến bộ không? (trước khi chú mất, vợ chồng cháu Hùng mâu thuẫn nặng). Tôi trả lời là cháu đã tiến bộ, vợ chồng cháu đã hoà thuận rồi. Chú ấy mừng và nói: Thế chứ, gia tộc nhà mình từ trước đến giờ có ai bỏ nhau đâu, người ta cười cho… Ở dưới Âm bố mừng và khen anh đã viết được gia phả bằng chữ quốc ngữ…

Trên đây tôi chỉ lược ghi một số chi tiết của cuộc đàm thoại giữa bố con tôi với vong linh 3 người thân trong gia đình để nói lên hiện tượng các vong linh về gặp người thân qua cô Phương là có thật. Những câu chuyện của gia đình tôi mà vong linh nói và hỏi đều chính xác, có những việc làm, định làm (như việc xây nhà thờ) vong linh đều biết…

Qua bài viết của các nhà khoa học nói về “hiện tượng cô Phương” và qua cuộc đàm thoại giữa bố con tôi với vong linh người thân (qua cô Phương), chúng tôi có mấy suy nghĩ sau đây:

Tôi nhất trí với ý kiến của TS Ngô Kiều Oanh là: “Thực sự chúng ta (loài người) không chết mà chỉ chuyển sang một thể vật chất khác, vẫn tư duy nhưng với khả năng rộng lớn hơn về không gian và chuỗi thời gian hoạt động, cõi vĩnh hằng thiêng liêng là có thật”.

Tôi cũng cho rằng: “Thế giới tâm linh là có thật, vong linh (người âm) vẫn tồn tại quanh ta, biết và theo dõi mọi hoạt động sống trong gia đình. Dù tin hay không tin, đó vẫn là một thực tế khách quan cần được các nhà khoa học nghiên cứu một cách nghiêm túc
-Hoạt động của cô Phương có tính thiện, không vụ lợi. Người có nhu cầu đến nhờ cô Phương giúp chỉ với một lễ mọn kèm theo mươi ngàn đồng (tuỳ tâm), không phải đăng ký kê khai tên tuổi và yêu cầu cho gặp vong linh với họ tên cụ thể. Ngoài ra, cũng không cần có sự tiếp xúc nào với cô Phương hoặc những người trung gian. Chỉ khi vong linh về thì người thân mới tiếp xúc với người âm qua cô Phương. Đây là sự hoạt động tâm linh chân chính, không phải mê tín dị đoan. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho cô Phương sử dụng khả năng đặc biệt của mình để phục vụ rộng rãi cho nhu cầu tình cảm của nhân dân

(Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, 12-1999
Về Đầu Trang Go down
kkk
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Khả năng nói chuyện với người đã khuất của các nhà ngoại cảm   Fri Apr 08, 2011 10:13 pm

Khả năng nói chuyện với người đã khuất của các nhà ngoại cảm


Sự hiên diện của thế giới người chết, hay còn gọi là thế giới bên kia, cõi âm vv.. đã từ lâu là một vấn nạn lớn của nhân loại mà chưa có lời giải đáp thỏa đáng về mặt khoa học. Liệu có cuộc sống nào khác sau khi chúng ta chết đi không? Linh hồn (vong linh) có hay không và sẽ đi về đâu?


Cho đến nay chưa có bất kỳ bằng chứng khoa học nào chứng tỏ sự hiện diện của thế giới sau cái chết. Phải chăng cũng vì lẽ đó mà dấy lên vô số giai thoại về linh hồn bất tử, không kể xiết những câu chuyện ma, trong đó nghe chừng thuyết phục nhất là những buổi gọi hồn - khi người cõi âm trở về trò chuyện với người trần thông qua “trung gian” là ông đồng bà bóng hay những người có khả năng đặc biệt có thể giao tiếp với người chết.

Tại Việt Nam, từ lâu nay có rất nhiều người tự xưng mình có khả năng nhìn và nói chuyện với người chết, không ít người trong số đó chỉ là tưởng tượng, ảo giác, hay lừa đảo dựa vào tâm lý người hỏi mà trả lời. Nhưng thực tế có nhiều trường hợp những người có khả năng đặc biệt mà trong nước gọi là nhà ngoại cảm (NNC) cung cấp những thông tin khá chính xác khi nói chuyện với người chết.

Từ ngoại cảm có lẽ dịch từ chữ Extra-sensory Perception (linh tính, thần nhãn, thần nhĩ, giác quan thứ 6, trực giác, xuất vía ...) Giác quan đặc biệt ngoài 5 giác quan căn bản để tiếp cận với ngoại giới là : vị giác, khứu giác, xúc giác, thị giác và thính giác, tượng trưng cho lưỡi, mũi, tay, mắt, tai. Trong tiếng Anh người ta dùng từ Parapsychologist hay Psychic để chỉ những người có khả năng này.

Trước tình hình ngày càng có nhiều NNC xuất hiện khắp nơi tại Việt Nam và với nhiều bằng chứng khá thuyết phục về khả năng kỳ lạ cũa họ, ngày 31 tháng 01 năm 1997, chính quyền trong nước đã thành lập Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người địa chỉ tại số 10 Đường Đào Tấn, Quận Ba Đình, Hà Nội (Viện Vật lý Việt Nam) do GS-TS Đào Vọng Đức - nguyên viện trưởng Viện Vật lý Hà Nội, làm giám đốc. Trung tâm có ba bộ môn, bao gồm bộ môn Năng Lượng Sinh Học, bộ môn Thông Tin Dự Báo, và đáng chú ý là bộ môn Cận Tâm Lý

Cận Tâm Lý từ trong nước dịch từ chữ parapsychology, para (beside/beyond/bên cạnh, ngoài, bên kia), psyche (soul/mind/linh hồn, suy nghỉ),trong đó có nghiên cứu về thần nhãn (clairvoyance), thần nhĩ (clairaudience), chuyển di tư tưởng, hồn ma nhập đồng, hiện hình v..v....

Bô môn cận tâm lý do Tiến sĩ Nguyễn chu Phác Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Nhà trường (Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam), Phó chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí Nhà trường quân đội, làm chủ nhiệm, đại tá Hàn Thuỵ Vũ làm phó chủ nhiệm. Bộ môn Cận Tâm Lý sau khi tìm hiểu, khảo sát và sàng lọc, đã tập hợp lại các nhà ngoại cảm chân chính, đáng tin cậy như: Dương Mạnh Hùng, Phan Thị Bích Hằng, Đỗ Bá Hiệp, Nguyễn Văn Nhả, Nguyễn Văn Liên, Nguyễn Khắc Bẩy vv.. dùng các khả năng đặc biệt của các nhà ngoại cảm này thực hiện các đề tài khoa học như tìm kiếm các liệt sĩ. Đáng chú ý là đề tài TK08 và TK08a "Xác minh tên liệt sĩ trên mộ vô danh". Ban chủ nhiệm đề tài đã cùng một số nhà ngoại cảm đi đến các nghĩa trang liệt sĩ Kim Tân (Thanh Hoá), Phú Long (Ninh Bình), Mai Dịch và Đông Kim Ngưu (Hà Nội) là nơi chôn cất hài cốt và tưởng niệm đồng bào bị chết năm 1944 - 1945. Trong 4 nghĩa trang này các nhà ngoại cảm đã tiếp xúc với 60 vong linh, hỏi được họ tên người chết, quê quán và cả tên họ của thân nhân gia đình còn sống.

Những NNC thuộc trung tâm này đã giúp tìm lại mộ của một số danh nhân Việt Nam như tướng quân Hoàng Công Chất, nhà cách mạng Lương Ngọc Quyến, nhà văn Nam Cao vv..
Cũng như nhiều người thân của lãnh đạo trong nước. trong một số trường hợp người nhà đã đi xác định bằng phương pháp thử ADN và cho kết quả chính xác 100%.


Qua các đề tài khoa học trên, Bộ môn Cận tâm lý đã chứng minh bằng thực chứng rằng sau khi thể xác chết phần ý thức - tinh thần vẫn tồn tại ở một dạng khác, ở một nơi khác ta tạm gọi là linh hồn, vong linh và thế giới người âm là có thực.

Đây là một vấn đề nhạy cảm vì lâu nay những người cộng sản vô thần, với chủ nghĩa Duy Vật Biện Chứng ,vẫn cho rằng chết là hết nên chuyện gọi hồn, nói chuyện với người chết là duy tâm, nhảm nhí, mê tín dị đoan. Vì không tin có sự hiện hữu của linh hồn nên trong quá khứ đã có nhiều trường hợp đập phá mồ mả, di dời hài cốt một cách bất cẩn lấy đất xây dựng các công trình, lấy chùa chiền, các cơ sở tôn giáo làm nhà kho, cấm đoán việc cúng kiến, bài bác, xuyên tạc đời sống tâm linh của xã hội vv..

Ngoài ra khi tiếp xúc với người chết, các nhà ngoại cảm còn nhận được nhiều thông tin về những hành vi không tốt của một số càn bộ nhà nước. Qua các tử sĩ các nhà ngoại cảm biết thêm về những trận đánh mà quân đội Bắc Việt đã thất bại để lại thương vong rất lớn, có trận như trận K’nak thương vong trên nghìn người và để lại gần 500 xác lại trận địa mà “tưởng như đã lãng quên hoặc đã được dấu kín , nhưng chính các Liệt sĩ là người đã khơi ra” hoặc “chỉ viết qua loa về những trận đánh không thành công. Trong hồi ký hoặc ký sự lịch sử của một số cá nhân, đơn vị tổng kết chủ yếu chỉ nêu thành tích , việc quy trách nhiệm sai lầm thiếu sót cũng không rõ ràng” (trích báo cáo ĐỀ TÀI TK06 - TÌM MỘ TẬP THỂ LIỆT SĨ Ở TÂY NGUYÊN).

Có lẽ vì những lý do trên nên tới nay đã gần 10 năm, những đề tài báo cáo của bô môn Cận tâm lý thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người không được phổ biến rộng rãi . Lãnh đạo trong nước tuy biết về những công trình này nhưng không có một quan điểm rõ ràng, chính thức về thế giới tâm linh mặc dù trên thực tế đã bắt đầu có sự tin tưởng qua việc cầu hồn, xem bói, đi lễ chùa như trong lời phát biểu của tướng Nguyễn Chu Phác:”Các anh ấy đều làm cả nhưng trong tình hình xã hội bây giờ thì các anh không dám công khai”, hoặc có sự dễ dãi hơn trong một số chính sách về tôn giáo như cho phép làm lễ cầu siêu, giải oan vv.. Nhà cầm quyền trong nước cũng không có chính sách hỗ trợ cho bộ môn Cận tâm lý để phát huy khả năng của các nhà ngoại cảm trong những công việc ích lợi như tìm mộ người chết, xác định nối kết dòng họ với nhau qua những thông tin khi tiếp xúc với người quá cố, điều tra các vụ án mạng, xác địch các di tích lịch sử vv... Các nhà ngoại cảm không được đãi ngộ xứng đáng, kinh phí hoạt động chỉ dựa vào sự hỗ trợ của các nhà hảo tâm.

Tuy nhiên, khả năng của các nhà ngoại cảm Việt Nam đã có tiếng vang trong và ngoài nước. Đài BBC đã hoàn thành một bộ phim tài liệu nói về việc đi tìm hài cốt bằng phương pháp ngoại cảm tại Việt Nam. Có tựa đề Psychic Vietnam, bộ phim đã được chiếu trên kênh BBC Two ở Anh ngày 18.5.2006 và chiếu lại trên kênh̉ Discovery tại các nước Á Châu như Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản vv.. trong tháng 1 và 2 năm 2007 gây ấn tượng khá mạnh cho người xem.

Quý vị có thể xem bộ phim tài liệu tại đây :



Trong bộ phim này quý vị sẽ thấy công việc làm của hai nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy, Vũ Thị Minh Nghĩa (Năm Nghĩa) cũng như một số nhân vật trong bộ môn Cận Tâm lý : Thiếu tướng Nguyễn Chu Phác, đại tá Hàm Thụy Vũ, nhà giáo Quan Thị Lệ Lan.

Bộ phim trên được thu lại trong chương trình của kênh Discovery phát tại Hongkong tháng 1 năm 2007 với phụ đề tiếng Trung Quốc

Chúng tôi cũng xin gửi đến quý vị trích đoạn phần âm thanh của buổi họp mặt của bộ môn Cận tâm lý - Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người ngày ông táo chầu trời 23 tháng chạp năm Ất Dậu ( 22 tháng 1 năm 2006) tại Hà Nội
Về Đầu Trang Go down
kkk
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Lý giải về ngoại cảm: Tiềm thức khai mở khả năng đặc biệt    Fri Apr 08, 2011 10:14 pm




Lý giải về ngoại cảm: Tiềm thức khai mở khả năng đặc biệt


Các nhà ngoại cảm có khả năng thực sự tìm được mộ và tìm chính xác chiếm khoảng 60%. Có nhà ngoại cảm còn tìm chính xác đến 81%. Tuy nhiên, việc lý giải hiện tượng kỳ lạ này dường như vẫn là một chân trời rộng mở vô biên, không bờ bến…



Nhà khoa học Vũ Thế Khanh tại một buổi hội thảo

Hiện tượng các nhà ngoại cảm có khả năng tìm mộ là rất đặc biệt, kỳ dị, thậm chí khả năng cũng như con người họ dường như đã bị bao phủ bởi màn sương huyền bí.

Người đời nhìn vào họ như nhìn vào vị Thánh, Đức Phật để rồi gọi họ là "cậu", là "cô" rất thành kính và coi họ như "người Trời" chứ không phải người thường. Đó cũng là lẽ thường của cuộc sống, bởi vì, cho đến hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới cũng như trong nước vẫn chưa có được những lời giải thực sự thuyết phục được số đông công chúng.

Khả năng ngoại cảm đã được các nước trên thế giới nghiên cứu từ cả thế kỷ nay. Nhiều nước còn lập cả viện nghiên cứu để sử dụng khả năng của các nhà ngoại cảm vào nhiều lĩnh vực khác nhau như thiên văn, dự báo, khám phá tội phạm, thậm chí cả trong lĩnh vực quân sự...

Ban đọc có nhu cầu tìm mộ xin liên hệ: Liên hiệp Khoa học Công nghệ tin học ứng dụng, số 1, Đông Tác, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội.

ĐT: 04.5745150 - 04.2164107.
Các nhà khoa học ở nước ta đã bắt đầu nghiên cứu các hiện tượng đặc biệt của con người, tự nhiên từ khoảng 15 năm nay. Đi đầu trong lĩnh vực này phải kể đến bộ tứ cơ quan gồm Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng, Trung tâm Bảo trợ văn hóa truyền thống, Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an và Bộ môn Cận tâm lý của Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người.

Các cơ quan này đã tập hợp được đông đảo nhà khoa học tài ba, ham mê khám phá những hiện tượng kỳ lạ, khả năng đặc biệt nhằm khai thác để phục vụ đất nước. Mặc dù đã hoạt động được 15 năm, triển khai cả ngàn đề tài khoa học, song đối với vấn đề ngoại cảm sâu rộng vô biên, đây cũng mới chỉ là bước nghiên cứu đầu tiên, nhằm đánh giá đúng sai, thật giả mà thôi.

Hầu hết các nhà ngoại cảm có khả năng thật sự đã được phát hiện nhờ các cơ quan trên đây, những trường hợp bịp bợm, ảo tưởng (số này đến cả ngàn) cũng bị loại bỏ nhờ các đề tài nghiên cứu rất cụ thể, chi tiết. Kết quả thể hiện khả năng của các nhà ngoại cảm đã được đánh giá bằng những số liệu khoa học chính xác và các nhà khoa học ở các trung tâm này đều khẳng định hiện tượng tìm mộ bằng ngoại cảm là có thật.

Con số tìm được mộ và tìm chính xác chiếm khoảng 60%. Có nhà ngoại cảm còn tìm chính xác đến 81%. Tuy nhiên, việc lý giải hiện tượng kỳ lạ này dường như vẫn là một chân trời rộng mở vô biên mà các nhà khoa học mới chỉ chập chững bước chân vào mà thôi.

Trong số cả trăm nhà khoa học miệt mài theo chân các nhà ngoại cảm lên rừng, xuống biển tìm hài cốt liệt sĩ, mới chỉ có vài nhà khoa học lên tiếng đưa ra lời lý giải cho hiện tượng này.

Một trong số những nhà khoa học nghiên cứu về các khả năng đặc biệt và khả năng tìm hài cốt, là nhà khoa học Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng. Ông rất tích cực đi tìm hiểu bản chất của hiện tượng và ứng dụng nó vào đời sống cộng đồng.

Theo ông, việc giải thích hiện tượng này không phải một sớm một chiều. Ông đã trình bày công trình nghiên cứu khảo nghiệm ở một số hội thảo và nhận được ủng hộ của nhiều nhà khoa học.

Hội đồng khoa học Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng chủ trương nghiên cứu hiện tượng tìm mộ bằng ngoại cảm từ việc khám phá bản thể, tiềm thức ẩn giấu trong con người.

Tiềm thức nhiều khi được thể hiện thông qua việc “nối dài các giác quan”, trong đó có giác quan thứ 6, ẩn chứa những khả năng vô biên. Ở các loài thú, loại giác quan này vô cùng nhạy bén và thể hiện rất rõ.

Bản năng con người thời kỳ sơ khai cũng tương tự bản năng của động vật, nhưng được tạo hóa đặt trên một bình diện cao hơn. Trước những sự kiện xảy ra xung quanh, con người đã nhờ đến sự chỉ dẫn của trực giác trước khi hành động.

Bản năng cộng với sự lao động đã phát triển tư duy, mang lại cho con người trí thông minh và trí nhớ tạo nên sự hiểu biết. Tác dụng vô thức của bản năng được gọi là “tiềm thức” và nó có ý nghĩa khác với bản năng thú tính.

Các nhà ngoại cảm cũng như những người có khả năng đặc biệt thường khai thác tiềm thức đưa hoạt động của bộ não về dạng tiềm thức rồi sử dụng ý nghĩ để chất vấn tiềm thức cá nhân của mình. Khi đó, tiềm thức sẽ đưa ra câu trả lời và nhà ngoại cảm nói và hành động theo sự hướng dẫn của tiềm thức. Khi hoạt động trí não ở thể tiềm thức, cơ thể sẽ vô cùng nhạy cảm với các hiện tượng, sự vật xung quanh và có thể cảm thụ, giải mã hoàn hảo những gì tác động lên họ.

Các nhà khoa học trên thế giới đã mất nhiều năm trời để nghiên cứu khả năng vô biên của bản năng, tiềm thức của con người. Họ cho rằng, khi tiềm thức hoạt động, tiềm thức sẽ sử dụng “con mắt thứ ba”. Ngày xưa, khi con người thường xuyên sử dụng tiềm thức thì “con mắt thứ ba” rất phát triển, nó nằm ngay trên trán.

Tiến sĩ Pravdivtsev, người Nga, đã bỏ gần như cả cuộc đời để nghiên cứu về “con mắt thứ ba” và ông khẳng định rằng, bằng nghiên cứu về phôi thai hiện đại, có thể tìm thấy “con mắt thứ ba” ở tháng thứ hai của phôi thai, nhưng con mắt này sẽ dần mất đi khi thai nhi tiếp tục lớn và chỉ còn là tuyến yên trước tiểu não khi sinh ra mà thôi.

“Con mắt thứ ba” đó chính là tuyến epiphysis (tuyến quả thông), một bộ phận nhỏ cỡ hạt đậu, có hình dạng quả lê và màu đỏ nâu, nằm ngay trước tiểu não. Theo nhận định của các nhà khoa học, trong quá khứ, bộ phận này có thể to bằng hạt nhãn.

Con mắt này có rất nhiều tác dụng đặc biệt. Nó như một thấu kính hội tụ truyền đi tối đa thông tin mà nó nhận được, giúp con người giám sát xung quanh một cách toàn diện. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học nhận thấy một quy luật khá thú vị, đó là những người có khả năng thông tin đặc biệt, phần xương trên chóp mỏng đến mức chỉ còn như một lớp da.

Phải chăng, epiphysis có liên quan đến thị giác và những thông tin đặc biệt của con người? Có thể chính “con mắt thứ ba” là cơ quan giúp một số người có được những khả năng đặc biệt như tiên tri hay thần giao cách cảm...

Theo các nhà yoga, các thiền sư lỗi lạc, ai cũng có “con mắt thứ ba”, vấn đề là có biết “mở” nó ra hay không.

“Con mắt thứ ba” của một số nhà yoga có tác dụng như những tia X-quang, đi xuyên qua các bức tường, nhìn thấy vật đằng sau, hoặc phát hiện được kho báu dưới lòng đất. Họ còn có thể quan sát được các sự kiện diễn ra ở bất cứ thời gian nào và bất cứ ở đâu trên trái đất.

Ở Ấn Độ, những người có khả năng như vậy được gọi là Trikalazna, có nghĩa là người biết được cả quá khứ, hiện tại, tương lai. Ở châu Âu người ta gọi là nhà chiêm tinh học hay nhà tư tế.

Trong các bài giảng về yoga, con người có thể luyện tập để khai mở “con mắt thứ ba”. Việc khai mở được ở mức nào thì nhà yoga có khả năng ở mức đó. Nếu nhà yoga vượt qua được mức thứ nhất thì có thể nhìn thấy những vòng hào quang phát tiết từ đồ vật, con người hoặc cơ thể mình.

Các nhà khoa học khẳng định, dựa vào cấu trúc của bộ não, vật báu trời cho, bất cứ người nào cũng có thể đạt được ba mức độ trên bằng cách luyện tập kiên trì, bài bản.

Mức độ cao nhất, luyện đến độ tinh thông thì hiếm người làm được. Để đạt tới ngưỡng này, con người cần phải cống hiến toàn bộ cho sự nghiệp hoàn thiện tinh thần. Khi đã đạt đến mức độ tuyệt đỉnh của giai đoạn thứ tư, con người sẽ không cần học ai và không cần học cái gì nữa. Khả năng tinh thần sẽ cho phép con người biết và nhìn thấy tất cả những gì mong muốn, không phụ thuộc vào thời gian và không gian.

Các bài học yoga có mục đích khai mở những khả năng bí ẩn của bộ não. Các thiền sư tu hành khổ hạnh cũng mang khát vọng như vậy. Khi đạt đến độ thâm sâu, nhà tu hành không cần học gì nữa mà vẫn biết mọi sự trên đời. Khi đó, nhà tu hành tiếp thu trí tuệ từ vũ trụ.

Tuy nhiên, trí tuệ vũ trụ là vô biên, vì thế, sự hiểu biết của các nhà tu hành dù cao siêu đến đâu thì họ cũng chỉ dám so sánh với chiếc lá trong bàn tay mà thôi, còn những gì không biết là cả rừng lá.

Theo nhà khoa học Vũ Thế Khanh, “con mắt thứ ba” tiềm ẩn trong não người dù có chức năng như các nhà khoa học thế giới nghiên cứu đi chăng nữa thì nó cũng chỉ có tác dụng một phần trong khả năng kỳ diệu không lường được của các nhà ngoại cảm.

Để hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về vấn đề này, ông Khanh và các GS, TS, các nhà khoa học hàng đầu của Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng đã nghiên cứu sự tác động qua lại giữa vật thể và ý thức thể.

Theo ông Khanh, giữa vật thể và ý thức thể có 4 loại tác động: vật thể tác động vật thể; vật thể tác động ý thức thể làm thay đổi ý thức thể; ý thức thể tác động làm thay đổi vật thể (làm di chuyển, biến dạng cấu trúc vật thể bằng ý nghĩa, tác động cách không, như trường hợp làm cong thìa, nĩa bằng ý nghĩ của một số nhà ngoại cảm trên thế giới) và cuối cùng là ý thức thể tác động với ý thức thể (hay còn gọi là tâm giao tâm, tức nói chuyện bằng ý nghĩ, ngoại cảm).

Các nhà khoa học ở Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng cho rằng, khoa học hiện đại đã chưa thấy hết hiệu quả phần ý thức thể tác động làm thay đổi vật thể và coi hiện tượng tâm giao tâm là ngoài khoa học, là thần bí.

Theo các nhà khoa học ở Liên hiệp, việc ý thức thể có thể tác động, điều khiển, làm biến dạng, thay đổi được vật thể mạnh hay yếu là phụ thuộc vào khả năng sẵn có trong mỗi con người kết hợp với sự luyện tập kiên trì để phát huy sức mạnh của ý thức thể.

Ông Khanh và các nhà nghiên cứu của Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng đưa ra một nhận định khá đặc biệt, hơi khác với triết học duy vật hiện thời: ý thức thể cũng là một dạng vật chất!

Ông Khanh giải thích rằng, thế giới tự nhiên tác động vào con người bằng ánh sáng, âm thanh, mùi, vị, xúc qua các giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, da. Sự tác động của tự nhiên đến các giác quan sẽ sinh ra thức (nhận thức) như: thích, không thích, hợp, không hợp....

Cũng từ đây mới sinh ra hỉ, nộ, ái, ố... và tạo ra phản ứng cho cơ thể. Sự phản ứng đồng thời sẽ sinh ra lực cộng hưởng rồi tạo ra tác động lực. Tác động lực sẽ phát ra không gian (gọi là năng lượng sinh học) mạnh hoặc yếu. Hiện nay, với máy móc hiện đại như điện tâm đồ, điện não đồ đã đo được năng lượng sinh học của con người.

Chính năng lượng sinh học tiềm ẩn sinh ra điện trường, từ trường mà thường gọi là trường sinh học. Trường sinh học sẽ tạo ra hiện tượng tâm giao tâm, gọi là “truyền âm nhập mật” hay “nghĩ ngữ truyền thanh”, tức là có thể trò chuyện, hiểu được tâm tư của nhau bằng ý nghĩ. Cũng theo lý giải của ông Khanh, dù con người mất đi, song trường sinh học sẽ tồn tại vĩnh viễn.

Qua lý giải này thì một số nhà nghiên cứu về tiềm năng con người đã khẳng định ý thức thể, tâm thức cũng là một dạng vật chất, nhưng là vật chất đặc biệt, có sự chuyển đổi biến ảo khôn lường. Chẳng hạn, chị Ngô Thị Tuyển có thể vác một lúc hai hòm đạn chạy băng băng trong cảnh mưa bom bão đạn.

Lúc bình thường chị không thể vác được như vậy, song trong hoàn cảnh đó ý thức thể đã biến thành năng lượng và chuyển năng lượng vào các cơ bắp, làm cho cơ bắp nhỏ bé, mềm yếu thường ngày đột nhiên có một sức mạnh phi thường. Qua đây, có thể thấy ý thức thể là một dạng vật chất rất mạnh và trong tương lai có thể lượng hóa được bằng khoa học, máy móc hiện đại. Vì ý thức thể là một dạng vật chất đặc biệt nên nó có thể tác động làm biến đổi vật thể (?!).

Chính ý thức thể, tiềm thức đã sinh ra điện trường, từ trường và trường sinh học. Theo các nhà khoa học thì trường sinh học phát sinh từ cơ thể người cũng là một dạng vật chất và nó tồn tại vĩnh viễn, do đó, dù con người mất đi thì cũng không ảnh hưởng gì đến trường sinh học.

Trường sinh học không những có thể chu du đến khắp nơi trên thế giới mà có thể vươn ra ngoài vũ trụ. Trường sinh học mã hóa và lưu giữ toàn bộ thông tin mà bộ não con người thu nhận được. Những gì chúng ta ghi nhớ được chỉ nằm trên bộ phận nhỏ của bộ não, nhưng những gì tác động đến chúng ta thì hệ tiềm thức chụp lại và lưu giữ như ổ cứng của máy tính hoặc được mã hóa rồi được lưu giữ ở trường sinh học.

Việc các nhà ngoại cảm “nói chuyện” được với linh hồn thực tế là do tiềm thức của nhà ngoại cảm dịch được những thông tin mã hóa mà trường sinh học mang theo, như chiếc đài hay chiếc tivi giải mã được tần số sóng vậy. Cũng có thể nhà ngoại cảm tưởng trên đời có linh hồn thật, bởi không phải lý trí nhà ngoại cảm “nói chuyện” với “linh hồn” mà là tiềm thức “nói chuyện” (thực ra là tiềm thức khai thác thông tin từ trường sinh học) rồi chỉ đạo cho lý trí.

Những câu hỏi của nhà ngoại cảm với linh hồn để xin sự chỉ dẫn chẳng qua là sự chất vấn của ý thức với tiềm thức. Việc nhà ngoại cảm biết những thông tin, những sự kiện xảy ra trong đời của người khác là bởi vì tiềm thức siêu đẳng của nhà ngoại cảm đọc được cả ý nghĩ và tiềm thức của người khác, chứ không phải do linh hồn người thân kể lại.

Cũng có thể tiềm thức của nhà ngoại cảm như một chiếc máy phân tích hình ảnh siêu hiện đại. Mỗi khi ý thức yêu cầu, tiềm thức lập tức giải mã hình ảnh từ sóng trường sinh học. Hình ảnh mà nhà ngoại cảm nhìn thấy là linh hồn có thể chỉ là hình ảnh giải mã của tiềm thức, song hình ảnh đó là đa chiều (chứ không phải hình ảnh 3D hay 4D thông thường), nên nhà ngoại cảm cũng tưởng rằng hình ảnh trước mắt là linh hồn của một con người thực sự.

Đây chính là hệ tương tác giữa ý thức thể và ý thức thể. Với tương tác này, nhà ngoại cảm, những thiền sư lỗi lạc có thể nói chuyện được với nhau bằng ý nghĩ. Họ có thể hiểu, đọc ý nghĩ của người thường, nhưng người thường thì không đọc được ý nghĩ của họ, nên người thường cho họ là thần thông quảng đại. Khi nhà ngoại cảm nói ra vài sự kiện đúng thì người đối diện đã nghĩ họ là "con Trời, con Phật" rồi.

Với khả năng lưu giữ thông tin, các nhà khoa học khẳng định, trường sinh học hay ý thức thể cũng là một dạng vật chất, nhưng là siêu vật chất. Loại vật chất đặc biệt này không phụ thuộc sự giới hạn của không gian, thời gian. Chuyên đề ANTG mong nhận thêm được những lý giải của các nhà khoa học về hiện tượng tìm mộ bằng ngoại cảm để dư luận có được những cái nhìn khách quan, nhiều chiều nhằm khám phá lĩnh vực đầy bí ẩn này

Phạm Ngọc Dương

(nguồn: Báo Công An Nhân Dân
Về Đầu Trang Go down
nnn
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Nhà ngoại cảm NGUYỄN THỊ PHƯƠNG    Fri Apr 08, 2011 10:17 pm


Nhà ngoại cảm NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
CHUYÊN GIA ĐÓN TIẾP VONG LINH

Mới gặp chị Nguyễn Thị Phương lần đầu tiên mọi người sẽ nghĩ rằng chị là một tiếp viên hàng không, hoặc một diễn viên điện ảnh. Dáng người rất chuẩn, nét mặt trái xoan điển hình, với đôi chân mày kẻ mảnh và cong vút, rất thanh tú khả ái, hài hòa với một mái tóc dài được chải bới gọn gàng và thanh lịch. Ấy vậy mà duyên may thế nào từ khi mới 13 tuổi, vào năm 1987 chị xuất hiện một khả năng đặc biệt. Một cô bé đang học lớp 7 bước đi kiêu hãnh uy nghi, tay cầm quạt, miệng lẩm bẩm nói toàn những lời răn dạy của các cụ lớn tuổi, nói vanh vách những chuyện của người đã mất chưa ai từng biết. Khả năng đặc biệt mỗi ngày càng thêm linh nghiệm và đến nay đã 20 mươi năm, khu nhà của chị Phương trở thành nơi đón tiếp vài chục ngàn vong linh, những người từ cõi Âm trở về gặp lại người thân con cháu đang sống hiện tại ở Dương trần.

Khu nhà tại Nghĩa Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa có vườn rộng, có vài ao cá nằm ở một bên sông Mã, cách thành phố Thanh Hóa không xa , gần như liền kề với một đầu cầu Hàm Rồng hướng về phía Hà Nội và từ đó mọi người gọi chị với cái tên quen thuộc là Cô Phương Hàm Rồng.

Một người bình thường gặp được một vong linh hiện lên nói chuyện đã là một hiện tượng kỳ lạ, nhưng chị Phương đã tiếp xúc được hàng ngàn, hàng vạn vong linh là một chuyện rất ngạc nhiên, do vậy hiện tượng này đã được chú ý ngay, trở thành một đề tài nghiên cứu do tiến sĩ Ngô Kiều Oanh thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt nam tự bỏ 50% chi phí thực hiện, 50% còn lại do các nhà nghiên cứu của TTNC Tiềm năng Con người đóng góp.

Do đề tài nghiên cứu vấn đề nhạy cảm, nên được chuẩn bị cơ sở pháp lý rất chặt chẽ gồm 10 văn bản, từ Văn phòng Chính phủ, Ban Khoa giáo TW Đảng, Bộ Khoa học Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Thanh Hóa, và sự đồng ý của gia đình chị Phương. Ngoài ra có nhiều vị lãnh đạo của tỉnh Thanh Hóa trực tiếp tham gia chứng kiến các buổi đón tiếp vong linh do chị Phương thực hiện.

Thời gian thực hiện từ 16/04/1999 đến 19/03/2000, phương pháp nghiên cứu là khảo sát 100 người, có nhu cầu giao tiếp với vong linh người thân trong gia đình, đủ mọi thành phần từ cán bộ trung ương, cán bộ của tỉnh Thanh Hóa, các gia đình liệt sĩ, cách mạng lão thành, công nhân viên, học sinh, người lao động v.v... Kết quả bỏ phiếu kín 100% người nhận xét nội dung chị Phương truyền lời các vong linh cho người thân là đúng chính xác, nói tỉ mỉ những chi tiết mà chỉ là người trong gia đình mới biết những thông tin đó. Đề tài nghiên cứu đã kết luận rằng khả năng đặc biệt của chị Phương là thực sự, mối quan hệ với vong linh cõi Âm không dễ gì phủ nhận.

HÌNH ẢNH VONG LINH NHƯ THẾ NÀO

Những vong linh sau bao nhiêu năm tháng phiêu bạt nơi cõi Phật, ở nước Chúa hoặc miền Cực lạc nào đó đã được chị Phương đón tiếp trở về, vẫn mặc những bộ áo quần xa xưa, không thay đổi, đơn giản và mộc mạc, nét mặt vẫn như ngày xưa khi còn sống, giọng nói vẫn là giọng nói thân thiết nên những người thân của những vong linh nhận ra được ngay. Khi xuất hiện, các vong linh biểu lộ tình cảm như người bình thường, khi thì phẫn nộ giận dữ, lúc thì vui vẻ hòa dịu, khi thì tha thiết khẩn khoản, lúc lại vui mừng phấn khởi, có thể khóc lóc, có thể giận dỗi, mang đầy đủ tâm lý như người đang sống.

Hình ảnh của những vong linh được chị Phương nhìn thấy rõ, nghe được rõ, và chị Phương đã nhập vai nói đúng giọng của vong linh.

Vong linh lão thành nhất mà chị Phương đón tiếp là người mất năm 1915, vong trẻ nhất là em bé mất lúc 3 tháng tuổi.

Vong linh Việt kiều sinh ra ở nước ngoài như Nga, Đức, Pháp, Trung Hoa v.v... nói bằng ngoại ngữ, nhưng khi nhập chị Phương nói ngoại ngữ ấy rất rõ ràng, chuẩn xác mặc dù chị Phương thực sự chưa có khả năng về ngoại ngữ.

Vong linh của các liệt sĩ khi chết bị mất tay chân, hoặc bị trúng bom thân thể không lành lặn, khi chết bị chặt đầu quăng mất xác v.v... dù cho thân xác có bị thế nào chăng nữa thì vong linh người đó khi trở về được chị Phương nhìn thấy vẫn còn đầy đủ, nguyên vẹn. Điều này rất phù hợp với nghiên cứu của nước ngoài, họ chụp được hình ảnh trường sinh học nguyên vẹn của chiếc lá mặc dù bị cắt đi mất một nửa.

VONG LINH QUAN TÂM NHỮNG ĐIỀU GÌ

Khi trở về gặp lại người thân, các vong linh hầu như nắm bắt được hầu hết các thông tin về con cháu, người thân đang sống trong thời điểm hiện tại.

Với các vong linh lúc ra đi có nhiều vướng mắc về tâm lý, bị hiểu lầm, bị vu oan, chết oan đã giãi bày được hết những uẩn khúc của mình, hoặc thanh minh những uẩn khúc cho người đang sống nếu có, thông qua những lời tâm sự, những câu chuyện được kể lại mà các vong linh chưa kịp nói cho ai lúc ra đi. Có trường hợp vong linh trở về làm nhiệm vụ của một trọng tài, đứng ra phân xử mâu thuẫn dai dẳng của hai người đang còn sống, mà vì lý do xung khắc những người này không thể nói ra cho người kia hiểu.

Với các vong linh là bề trên trong gia tộc, gia đình, nhân dịp trở về này vẫn cố gắng dạy bảo con cháu, đưa ra những lời khuyên dạy, những cách đối nhân xử thế hợp lòng người, góp ý các cháu trẻ tuổi ham chơi, lêu lổng biết ăn năn lo lắng cho gia đình, khuyên dạy cho các đôi vợ chồng bất hòa, xung khắc triền miên.

Với các vong linh có nhiều kinh nghiệm trường đời, giỏi kinh doanh, học cao biết rộng thì đưa ra những lời khuyên dạy phương pháp làm ăn, kinh doanh cho người thân.

Một gia đình di tản năm 1975 sang Mỹ định cư, nay trở về gặp lại được 18 vong linh người thân đã mất, các vong kể lại rất nhiều chi tiết câu chuyện về cuộc di tản.

Đặc biệt chú ý là vong linh của các nạn nhân bị bức tử, như bị cướp của giết người, bị hãm hiếp cho tới chết, bị cố ý gây chết người, hoặc bị thủ tiêu v.v... Nay họ trở về ung dung đàng hoàng, đã kể lại tất cả sự thật của vụ giết người ấy, chỉ ra tên và mô tả hình dáng người đã giết họ một cách oan ức. Có trường hợp ở Bến Tre, nạn nhân bị thủ phạm chặt đầu mang đi bỏ nơi rất xa với phần thân hòng xóa dấu vết, nay vong linh đã chỉ ra được nơi dấu để thân nhân mang về chôn đầy đủ.

Các vong linh bị thất lạc mộ, hoặc hài cốt còn lưu lạc trên núi, dưới biển, trong bụi rậm v.v... đã trở về tha thiết nhờ cậy người thân, chỉ dẫn đường đi cho người thân biết để kiếm tìm đưa về chôn cất. Mọi vong linh đều có chung một nguyện vọng hài cốt của mình được con cháu thờ cúng, chăm sóc. Các vong linh rất sợ cảnh cô đơn, hắt hủi hoặc bỏ bê của thân nhân, việc nhang đèn không những làm khuây khỏa tinh thần người sống mà rất cần thiết cho các vong linh nữa, các vong linh chỉ cần cái tâm thành kính của người thân đối với họ chứ không bao giờ đòi hỏi lễ vật cao sang, hoặc tổ chức tiệc tùng giỗ chạp rình rang.

(nguồn:
Về Đầu Trang Go down
mmm
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Hòa Thượng Tịnh Không khuyên không nên hiến xác.    Fri Apr 08, 2011 10:25 pm


Hòa Thượng Tịnh Không khuyên không nên hiến xác.

Hỏi: Con đã nghe gần hết tập hai của bộ "Khuyên người niêm Phật", qua đó con được biết là sau khi lâm chung từ 8-16 tiếng thì không nên chạm vào cơ thể người mất, đó là điều tối kỵ. Vậy con xin phép được hỏi là, trong trường hợp một người muốn hiến xác hoặc hiến các bộ phận cơ thể cho y học hiện đại thì có nên hay không, có tối kỵ không? Sau khoảng thời gian 8-16 tiếng thì bác sỹ có được phẫu thuật để lấy các bộ phận cơ thể cứu giúp những người mắc bệnh không?

Đáp: Khi chết hiến xác và hiến các bộ phận trong người cho người khác, hay hiến cho ngành y học có thêm mấy món đồ để họ thực tập, nghiên cứu. Điều này chứng tỏ người cho có tâm từ bi lớn, có hạnh bố thí cao. Tuy nhiên, đối với người Niệm Phật quyết lòng Vãng Sanh thành đạo thì cần phải cẩn thận về chuyện này.

Người tự nguyện hiến xác thường bị bác sĩ mổ xác lấy các bộ phận trong cơ thể khi vừa mới tắt hơi, chứ không để lâu được.

Theo pháp Hộ Niệm, người vừa tắt hơi, bị đụng chạm vào thân xác quá sớm là điều tối kỵ, có thể khiến họ bị đọa lạc xuống các cảnh giới vô cùng xấu trong ba đường ác.

Vừa mới tắt hơi là giai đoạn thần thức như đang ở giữa ngã tư đường, giữa chết và sống, giữa thiện và ác, giữa đọa lạc và giải thoát. Tinh thần của người chết rất hoang mang, sợ hãi, buồn thảm, hoàn toàn không ổn định. Trong khoảng thời gian 8 giờ, nếu người sống vô ý tạo thêm sự xáo trộn, ồn náo, hỗn loạn như khóc than, ôm nắm, đụng chạm đến thân xác, bỏ vào phòng lạnh để ướp xác... làm cho họ đau đớn, chẳng khác gì như bị hành hạ, bị tra tấn. Thật là tội nghiệp cho người chết! Đụng chạm bình thường mà còn thảm thương như vậy, huống chi là mổ xác, banh thân họ ra, cắt từng miếng thịt, lấy từng bộ phận!...


Trong lúc lâm chung, họ bị đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Ở trạng huống này người ra đi rất cần được Niệm Phật Hộ Niệm để yểm trợ tinh thần họ. Cần phải khuyến tấn, hướng dẫn thần thức họ đi Vãng Sanh. Chính người chết cũng cần Niệm Phật cầu Phật gia trì, tiếp độ. Tất cả mọi sự đụng chạm vào thân xác đều đưa đến hậu quả vô cùng bất lợi cho người chết.

Đụng chạm sẽ làm cho họ đau đớn không chịu không nổi, chắc chắn sẽ làm cho thần thức người rối loạn, hãi kinh, bức xúc, tức giận... toàn là những nhân chủng rất xấu cho đời kiếp tương lai của họ.

Chính vì thế, xin hết sức cân nhắc và thận trọng.

Hiến xác để giúp người là tâm lượng Bồ-tát. Nhưng xin tự hỏi, mình có phải Bồ-tát thật không? Liệu mình có chịu đựng nổi sự đau đớn khi người ta mổ xẻ thân xác mình ra hay không? Lúc bị hành hạ quá đau đớn như vậy, có ân hận không? Có sân giận không?

Khi ra đi, trong kinh Phật nói, một ý niệm sân giận chiêu cảm vào đường địa ngục, một ý niệm tham lam chiêu cảm vào đường ngạ quỷ, một ý niệm ngu si đầu thai vào đường súc sanh.

Chính vì vậy, chúng ta cần phải cân nhắc sự lợi hại. Cho một bộ phận, có thể giúp một người nào đó sống thêm vài năm trên trần đời. Tốt đó. Nhưng sẽ giải quyết được gì khác hơn? Liệu người đó có là người tốt không? Người đó có tu hành không? Người đó có được sự giải thoát gì không? Có khỏi bị đọa lạc không? Nhưng coi chừng, vì quá đau đớn, quá bức xúc, mà chính mình chịu lấy hậu quả quá thê thảm, bị đọa vào đường ác hiểm vạn kiếp. Bố thí thì được phước, nhưng trước mắt bị đại họa. Thật là một cuộc trao đổi đại lỗ vốn!

Vô lượng chúng sanh bị đọa lạc, chịu khổ đau nói không nên lời, đang chờ người niệm Phật thành đạo để có năng lực cứu độ họ. Người Niệm Phật phải có tâm nguyện tha thiết Vãng Sanh, sớm ngày thành đạo để độ tận chúng sanh. Nếu sơ ý chấp vào một việc thiện nhỏ mà chính mình có thể bị lạc vào đường đọa lạc, thống khổ chẳng biết đến kiếp nào mới thoát thân!

Chính vì thế, Hòa Thượng Tịnh Không khuyên không nên hiến xác.

Cho nên, nếu là Bồ-tát tái lai, bạn có thể chủ động liệng cái xác thân trước khi tắt hơi, và an nhiên về Tây-phương với Phật, thì bạn được quyền thoải mái quyết định, không có vấn đề gì cần cân nhắc. Bạn có thể biểu diễn sự ra đi như trò du hí thần thông, biểu diễn tâm đại từ đại bi, tâm bố thí ba-la-mật. Còn nếu là phàm phu, thì khuyên rằng, hãy cẩn thận bảo vệ lấy tương lai của mình, chính mình phải thành đạo trước mới cứu độ được chúng sanh. Tệ gì đi nữa, thì hạ phẩm hạ sanh phải nắm vững trước đã, rồi tính gì tính. Đó mới là sáng suốt vậy. Chứ còn quyết định thiếu cẩn thận, coi chừng bị liệt vào cái nạn: "Từ bi đa họa hại" đó!

Thành ra, tốt nhất là chính mình tinh tấn niệm Phật cầu sanh Tịnh-độ, và cố gắng thực hiện phương pháp Hộ Niệm lâm chung cho thật vững vàng, để được an toàn vãng sanh bất thối thành Phật trước. Thành Phật thì có năng lực cứu vô lượng vô biên chúng sanh thoát vòng sanh tử luân hồi, chứ không phải, vì quá sốt sắng, dũng mãnh hy sinh chịu đau đớn đến nỗi phải bị đọa vào tam ác đạo, để chỉ vì cứu một người sống thêm vài năm đâu.

Phải có trách nhiệm với chính huệ mệnh của mình, của vô lượng bà con quyến thuộc của mình trong vô lượng kiếp. Trách nhiệm với vô lượng vô biên chúng sanh trong tương lai mới xứng là người phát đại viên mãn tâm Bồ đề vậy.



Diệu Âm

xxxxxxxxxxxx

Hiến cơ phận (organs) có lợi và hại thế nào?
Written by TK Thich Phuoc Thai
Thursday, 09 October 2008 10:14

Hỏi: Kính bạch thầy, hiến cơ phận là một việc làm rất cao quý, nhưng là phàm phu như chúng con thì việc làm nầy có lợi hại thế nào? Vì theo lời Thầy Tổ dạy là sau khi chết, thần thức chưa rời khỏi xác thân, thì dễ sanh tâm sân hận, nếu thân thể bị xúc chạm. Kính xin thầy cho con biết, việc làm nầy như thế nào mới được vẹn toàn?

Đáp: Việc hiến cơ phận trong thân thể sau khi chết là do sự phát nguyện của đương sự. Nghĩa cử cao đẹp nầy, không phải ai cũng có thể làm được. Đây là hạnh bố thí rộng lớn của Bồ tát. Vì bố thí có nội tài và ngoại tài. Ngoại tài là cho những vật dụng ngoài thân mình, như tiền bạc của cải v.v… Ngược lại, nội tài là bố thí những bộ phận trong cơ thể, như hiến máu hay bất cứ một bộ phận nào khác còn lành mạnh.

Nói về lợi, thì sau khi chết, dù thiêu hay chôn thân thể người ta cũng phải tan rã. Thay vì tan rã một cách vô ích, người ta lại tình nguyện cho những bộ phận nào đó còn tốt trong thân thể của họ, để cho các nhà y khoa nghiên cứu, thí nghiệm rồi đem ra chữa trị giúp người. Đó là một điều rất hữu ích cho nhơn loại. Phải nói, đây là một hạnh nguyện rộng lớn của Bồ tát mà người thường không thể làm được. Vì Bồ tát khi còn sống, các Ngài lợi dụng cái thân thể còn mạnh khỏe để làm lợi ích cho tha nhân, đến khi chết, các Ngài cũng nghĩ đến mọi người mà hiến bộ phận trong thân thể để cứu mạng sống cho những ai không may bị mang bệnh nặng hiểm nghèo.

Một việc làm do phát tâm nguyện vị tha cao cả như thế, thì thử hỏi làm gì có lòng sân hận mà có hại? Nếu có hại, với điều kiện là người đó không có sự phát nguyện mà người ta tự nhiên mổ xẻ cắt xén lấy một bộ phận nào đó trong người của họ, thì điều đó mới thật sự là xúc chạm gây ra tai hại cho người mới chết. Và như thế, thì chắc chắn là thần thức của người mới chết đó, sẽ sân hận mang lại hậu quả không tốt. Điều đó, thì rất là tai hại. Bằng ngược lại, thì không có gì là tai hại cả. Chẳng những không hại mà nó còn mang lại một lợi ích thiết thực rất lớn cho người sống, vì đã cứu được mạng người.

Đối với hạng người tầm thường, vì ngu si chấp ngã quá nặng, nên khi còn sống thì họ một bề chỉ nghĩ đến những điều gì có lợi lộc cho riêng mình, cung phụng cho thân thể đủ mọi thứ nhu cầu sung túc, đến sau khi chết, cũng vẫn còn luyến tiếc thân thể, không muốn cho thân thể bị hư hoại. Đó là hạng người quá ích kỷ, chỉ biết có mình mà không nghĩ đến ai. Họ coi thân thể của họ nặng hơn núi Tu di. Người như thế, khi còn sống cũng không làm điều gì lợi ích cho ai, dù là một việc làm rất nhỏ nhặt cũng không có. Hạng người như thế quả họ sống không có ích lợi gì cho nhân quần xã hội cả.

Trong xã hội, ta thấy có lắm người giàu có, tiền kho bạc đụng, nhưng vì không có từ tâm, nên họ không bao giờ biết thương xót cứu giúp ai cả. Khi còn sống, thì họ lo xây dựng cơ đồ sự nghiệp của họ cho thật vững chắc, ai chết mặc ai, đến khi gần chết, họ trăn trối lại cho con cháu phải xây lăng mộ cho họ thật kiên cố sang trọng. Dù biết trước rằng, đó chỉ là chôn cất một cái thây thúi. Đó là hạng người mà Phật gọi là tham si chấp ngã quá nặng.

Ngược lại, đối với những người mà họ coi thường bản ngã, sống, thì làm lợi ích cho mọi người, đến khi chết, họ cũng vẫn nghĩ đến làm lợi ích mọi người. Quả đây không phải là hạng người tầm thường dễ tìm thấy trong xã hội loài người.
Tuy nhiên, người có tâm nguyện hiến cơ phận, thiết nghĩ, cũng nên giải thích rõ với những người thân thuộc trong gia đình về bản nguyện của mình, để không gặp sự cản trở có thể xảy ra sau khi lâm chung. Mặt khác, tang quyến cũng nên nói rõ cho quý Tăng Ni biết về bản nguyện hiến cơ phận của bệnh nhân trong giờ phút hộ niệm mà bệnh nhân đang trong tình trạng hấp hối hay lúc tẩn liệm. Mục đích là để thức nhắc cho bệnh nhân nhớ lại bản nguyện vị tha cao đẹp của mình lúc còn sống và hết lòng hộ trì cho nhân viên bệnh viện thực hành nhiệm vụ cắt lấy cơ phận.

Tóm lại, khi đã nói hiến cơ phận là đã có sự phát nguyện rồi. Đã có phát nguyện như thế, thì làm gì có sự giận hờn. Vì người khác chỉ làm theo những gì mà mình đã phát nguyện. Như thế, thì đây là điều hoàn toàn có lợi chớ không có hại chi cả.

xxxxxxxxxxx

Hỏi: Ở phương Tây, hiến tặng những bộ phận trong cơ thể người vừa chết là việc bình thường, như hiến tặng cặp mắt, quả thận để cho người khác, việc làm này có ảnh hưởng hay làm trở ngại gì cho thần thức của người chết không?

Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche: Việc hiến tặng thi thể là một điều tốt, bởi vì nó phát khởi từ động cơ làm lợi lạc cho người khác với lòng bi mẫn chân thật. Và một khi nó là ước nguyện cuối cùng của người chết thì tuyệt nhiên không có ảnh hưởng hoặc có hại gì cho thần thức của họ khi họ rời bỏ thể xác. Trái lại, việc làm tích cực này sẽ góp phần tạo thiện nghiệp cho người ấy trong đời sống vị lai.

Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche: Nếu một người muốn hiến tặng thi thể của họ thì nên lấy những bộ phận cần thiết ấy sau khi người đó chết. Ðiều này không có gì ảnh hưởng đến tiến trình thần thức thoát xác và tái sinh của họ.

Hỏi: Có nhiều trường hợp nếu các bộ phận của thi thể được lấy đi mà thần thức của họ chưa rời khỏi thể xác thì sao?

Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche: Ðiều này tùy thuộc vào lòng bi mẫn và ước nguyện của người chết. Nếu người ấy đã từng bày tỏ nguyện vọng bố thí lớn lao đó một cách chân thành, thì có thể lấy đi những bộ phận cần thiết ngay cả trước khi tim ngừng đập, cũng không có hại gì cho thần thức.

Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche: Như tôi đã nói trên, thần thức sẽ rời khỏi thể xác khi ta đụng chạm đến thi hài của họ, chẳng hạn như ta kích thích vào vùng đỉnh đầu để chỉ dẫn cho thần thức thoát ra. Một khi thần thức đã ra rồi thì bạn có thể lấy đi những thân phần cần thiết. Do đó, nên lưu ý giúp người chết làm phép chuyển di thần thức trước khi lấy những thân phần của họ.

Hỏi: Còn phương pháp đông lạnh (Cryonics) thi hài sau khi chết thì sao ?

Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche: Việc ấy hoàn toàn vô nghĩa, không đem lại một lợi ích nào. Thần thức người ấy không thể quay lại thi thể một khi người ấy đã chết thật sự.
xxxxxxxxxxxxxx

Xin được tiếp tục:

HIẾN XÁC THEO QUAN ÐIỂM CỦA PHẬT GIÁO
(Nguồn:

Việc hiến tặng các cơ quan nội tạng đối với nhiều Phật tử là một vấn đề đầy mâu thuẫn. Một mặt, chúng ta luôn muốn thực hành Bồ tát hạnh ở mọi nơi có thể, vì ở Hoa Kỳ hằng ngày có chín người hấp hối trong sự chờ đợi tuyệt vọng những người hiến tặng. Mặt khác, theo giáo lý đạo Phật, chỉ khi thần thức rời khỏi thể xác mới gọi là chết, chứ không phải sau khi trút hơi thở cuối cùng, và người ta thường tin rằng chính hoàn cảnh tử vong lâm sàng và thời gian sau đó, trước khi thần thức thoát đi, là thời điểm then chốt quyết định sự tái sinh hoặc đầu thai của người đó. Theo quan niệm này, tốt nhất là không được cắt xẻ thi hài trong vòng ba ngày sau cái chết lâm sàng, nếu không nó sẽ gây ra sự rối loạn cho tiến trình tái sinh.

Tuy nhiên, theo y học, để cấy ghép cơ thể có hiệu quả, những bộ phận đó trong cơ thể người chết phải được cắt càng nhanh càng tốt sau khi trút hơi thở sau cùng, như vậy nó có thể làm rối loạn nghiêm trọng đến quá trình tự nhiên của ý thức quan về dạng vô hình. Nhiều Phật tử đã phát nguyện hiến xác theo yêu cầu không được cắt cơ thể họ sau ba ngày, nhưng làm như vậy không đảm bảo chất lượng cấy ghép các cơ quan nội tạng, các mô đã hiến tặng.

Thiền sư Sheng Yen và Tangen Harada cho rằng dù việc hiến tặng có thể làm rối loạn đến tiến trình chuyển hóa ý thức của người hiến tặng, nhưng nếu người ấy có tu tập và có ước nguyện mạnh mẽ giúp đỡ người khác thì sự chi phối đến thể xác của họ ít làm ảnh hưởng đến sự tán loạn ở giai đoạn chuyển di thần thức.

Quan điểm khác thì cho rằng vì ta không biết mình sẽ phản ứng như thế nào đối với quá trình hiến tặng trong giai đoạn trung chuyển này, vì vậy tốt nhất là nên tránh. Những người theo quan niệm này thường nhấn mạnh đến khía cạnh thương mại phiền toái của việc hiến tặng, như chi phí cao và sự ưu tiên mang tính độc đoán trong việc phân phối. Họ cũng cho rằng sự hấp tấp quá mức có thể dẫn đến việc cắt đi các cơ quan trong khi bệnh nhân đó vẫn còn có khả năng hồi sinh.

Cái chết của não (Brain death) cũng đưa ra nhiều vấn đề khác. Phần lớn các cơ quan hiến tặng là bệnh nhân bại não, khi cơ thể vẫn được tiếp tục nuôi sống, gia đình và người thân đã sắp xếp việc hiến tặng. Tuy nhiên, từ chết não cũng không chính xác vì não cho thấy có một số còn hoạt động ngay cả sau nhiều giờ ngừng thở. Ðến nay, chúng ta vẫn chưa hiểu hết về mối quan hệ giữa thần thức và chết não. Tuy nhiên, ta dễ đoán ra rằng hoạt động của não sau khi trút hơi thở cuối cùng có liên quan đến hoạt động của thần thức.

Ðối với một số người, một phương pháp khác có thể tránh được sự rối loạn trong quá trình chuyển tiếp của thần thức do việc hiến tặng các bộ phận cơ thể mà vẫn có ích cho người khác. Sau hăm bốn giờ khi tim ngừng đập, ngoại trừ việc cắt đi các cơ quan nội tạng người ta có thể hiến xương và các mô sống. Mặt khác, có ba cách nữa để trở thành người hiến tặng khi ta còn sống và khỏe mạnh là hiến tặng máu, tủy hay thận.

xxxxxxxxx

Về Đầu Trang Go down
kkkk
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: VẤN ĐỀ VỀ HIỆN TƯỢNG TRÙNG TANG ?    Fri Apr 08, 2011 10:32 pm



Dân gian vẫn kể cho nhau nghe về những trường hợp chết "trùng tang liên táng" rất thương tâm và coi đó như là một thảm họa.

Trong dân gian, việc tang ma thường đi kèm với nỗi lo sợ quá mức khi người chết đúng giờ "trùng rơi vào kiếp sát" (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) và sau đó, trong thời gian ngắn, gia đình lại có người qua đời. Nỗi ám ảnh này được lưu truyền dai dẳng trong dân gian. Tuy nhiên, trên thực tế đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên hoặc lý giải được bằng những bằng chứng hết sức khoa học.

Sự trùng hợp ngẫu nhiên

Vốn là một võ sư, một người lính đã từng trải qua thời khắc giữa cái chết và sự sống, ông L.C không có sự mê tín nhưng hôm tôi gọi điện hẹn gặp để hỏi chuyện công việc thì ông từ chối. ông giãi bày mới hay: "Bà mẹ tôi (hơn 90 tuổi) ốm nặng nằm trong bệnh viện mấy tháng nay rồi. Nhưng ông anh, sinh năm Dần (62 tuổi) lại đột ngột qua đời đúng vào ngày, tháng, năm Dần. Vậy là thầy phán trùng tang. Cả nhà lo cúng lễ. Tôi thì chẳng tin đâu, cũng chẳng sợ gì cả nhưng cũng đành theo mọi người cho phải lẽ".

Câu chuyện như ở nhà võ sư này không phải hiếm. Tôi đã từng biết đến một gia đình họ hàng trong vòng 5 tháng mất liền 3 người có quan hệ thân thiết. Đầu tiên là ông anh cả, vẫn còn đang bơm vá xe đạp, bỗng thấy tức ngực, khó thở được đưa đi viện cấp cứu. Ông anh cả này đã từng được đặt ống nối trong phổi. Đến viện bác sĩ chẩn đoán, lao lực, bật ống nối, dịch phổi tràn... và ông đã qua đời ở tuổi 53.
Chưa qua 49 ngày thì người em dâu đi nằm cữ sinh đứa thứ hai. Không ngờ bị băng huyết, ở trạm xá xã, y tá, bác sĩ kém về nghiệp vụ không phát hiện sớm để chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Mất máu quá nhiều, người em dâu mất đúng vào ngày con trai chào đời, năm ấy cô 37 tuổi. Hơn một tháng sau, một bà già hơn 80 tuổi mà hai người đã mất gọi là thím dâu qua đời vì ốm bệnh lâu ngày.
Quá lo sợ ba cái tang liên tiếp, một số người trong gia đình có dấu hiệu mất ngủ, hoảng hốt... Đi xem bói, gia đình được phán là trùng tang. Tuy nhiên, khi về được một thầy phong thuỷ có tiếng trong vùng khẳng định: Lương Văn Nhã, một người chuyên: "Nghiên cứu kỹ về "Thọ mai gia lễ", soi vào cách tính được truyền trong nhiều sách ta, sách Tàu thì trùng tang thường ứng với người cùng huyết thống. Trùng không "bắt" người có quan hệ dâu, rể. Đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên của những người đã mất". Nghe được lời khuyên ấy, nhiều người trấn tĩnh lại, sau thời gian ngắn mọi chuyện lại trở lại bình thường và cũng chẳng còn đám ma nào xuất hiện trong gia đình họ hàng của tôi nữa.

Một trường hợp nữa, trong chuyến đưa người nhà của võ sư L.C lên chùa Hàm Long (Bắc Ninh), tôi biết chuyện đau lòng nhà chị Hường. Chồng chị là Vương Duy Quang, đi làm xây dựng bị cảm mất ở Tuyên Quang. Sau đưa về ma chay, thì hơn tháng sau, bố chồng khi đi thăm chùa Bái Đính về, đêm mệt quá lên cơn hen co thắt phế quản không kịp lấy thuốc đã qua đời. Cho là trùng tang, nên thầy cúng đến làm lễ và gia đình chị Hường "gửi vong" lên chùa Hàm Long, nơi được xem là địa chỉ "nhốt trùng" lớn nhất nước để nhờ các sư chăm sóc.

Đồn đoán về nơi "nhốt trùng" lớn nhất

Dân gian vẫn truyền nhau những trường hợp chết "trùng tang liên táng" rất thương tâm, coi như một thảm hoạ. Cứ thế, người ta lưu truyền về một nơi "nhốt trùng" an toàn nhất là chùa Hàm Long (Quế Võ-Bắc Ninh). Đặt chân đến chùa mới thấy hết cái cảm giác rờn rợn được đồn là nơi "nhốt vong chết trùng" lớn nhất cả nước. Ngôi chùa u tịch, nằm gối đầu vào núi, xa là dòng sông. Tương truyền, chùa được xây dựng từ thời nhà Lý, đây là nơi tu hành của Thiền sư Dương Không Lộ, một chân tu đắc đạo gắn với nhiều truyền thuyết ly kỳ. Từ ngàn xưa ấy, đồn rằng, nơi đây những vị cao tăng đã có phương pháp trấn yểm trùng huyền bí mà hiệu quả. Nơi đây còn có bộ ván in khắc phù giải "trùng tang liên táng" từ mấy trăm năm nay.

Người nhà đưa di ảnh của người quá cố lên chùa sẽ được các sư hướng dẫn cụ thể cách kiêng kỵ. Những người sống trong gia đình được giữ lá bùa trong ba năm để đề phòng tai hoạ. Chuyện ly kỳ tại chùa Hàm Long được người dân lan truyền mà chẳng biết kiểm chứng thực hư như thế nào. Họ đồn đoán rằng, mỗi buổi những nhà sư phải nấu một nồi cháo to cúng thí, nếu hôm nào quên là gà vịt của người dân quanh vùng bị chết hàng loạt (!!!).

Trước những chuyện này, GS Trần Lâm Biền (Cục di sản văn hoá) cho rằng: "Những chuyện như vậy, xét tính chân thật thì khó nói. Nhưng đó là tín ngưỡng dân gian, là niềm tin nên mặc nhiên người dân cứ người sau làm theo người trước và thành nếp như vậy. Và đã là tín ngưỡng thì không ai xem xét đến chuyện đúng sai, thực hư. Chỉ biết rằng, chùa Hàm Long là ngôi chùa cổ có giá trị văn hoá tâm linh được đông đảo người dân chiêm bái".

"Giải mã" và hoá giải

Từ những năm trước đây, nhiều nhà khoa học đã tìm cách tiếp cận, lý giải hiện tượng dân gian này. Các nhà vật lý ngày nay cho biết, khi còn sống GS Nguyễn Hoàng Phương (Hội Vật lý Việt Nam) đã đưa khoa học vào nghiên cứu bước đầu vén bức màn bí mật về hiện tượng này. Theo kiến giải của cố GS Nguyễn Hoàng Phương: "Vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và tần số của trùng nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số đôi bên khác nhau nhiều, nên theo lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (tần số này là bội số của tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống".

Chùa Hàm Long được đồn đoán là nơi “nhốt trùng” lớn nhất Hà Nội
Chính điều này, các nhà vật lý hiện tại như GS.VS Đào Vọng Đức, PGS.TS Hà Vĩnh Tân người bỏ nhiều thời gian nghiên cứu, lý giải các hiện tượng tâm linh huyền bí cũng giải thích trên lý thuyết sóng điện từ và trường năng lượng. Điều này cũng xuất phát từ những kiến giải của GS Hoàng Phương.

Lý giải vì sao khi lo tang ma cho người quá cố mọi thành viên trong gia đình thấy mệt mỏi và sau đó có người ngã bệnh, lương y Trần Bình (Thanh Xuân- Hà Nội) cho rằng: "Khi con người chết đi đều để lại tử khí. Khí này cộng hưởng với mùi khói hương, sự đông đúc của người sống khiến không khí ngột ngạt. Vì vậy, với người có sức đề kháng kém sẽ dễ bị nhiễm tử khí kéo theo các bệnh như: Chướng khí, ăn không tiêu, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn... Nhiễm tử khí lâu ngày sẽ có hiện tượng giống như bệnh nan y khiến không ít người hoang mang".

xxxxxxxxxxxx

VẤN ĐỀ VỀ HIỆN TƯỢNG TRÙNG TANG ?

Trích từ Tử Vi Lý SốCác tác giả: Ngọc Nhàn, ThienVietnam....Mấy hôm trước mình thấy có bạn hỏi về chết trùng và cách cứu giải, nhưng do công việc quá bận không thể hồi âm ngay-bản thân cảm thấy rất áy náy.Mong bạn thông cảm. Chết Trùng - Theo mình biết có : *Trùng 3 ngày( tức là trong gia đình họ hàng sẽ có người chết theo ngay, tính từ lúc có người chết trùng cho đến 3 ngày sau. Nhiều khi người này chưa kịp chôn thì người tiếp theo đã chết.Đây là trùng tang nặng nhất, làm cho gia đình không kịp trở tay vì cũng chưa biết là có chết trùng. Trường hợp này mình đã gặp vài lần). * Trùng tuần đầu( tính từ lúc chết cho đến hết tuần đầu, đây cũng là trùng tang khá nặng và có thể kéo dài đến 49 ngày- tức là cúng 49 ngày đó. * Nhẹ hơn nữa tức là xảy ra vào những ngày sau đó, kéo dài cho đến hết 3 năm và có thể hơn tuỳ thuộc vào thời gian bốc mộ lên mộ tròn. Nhiều khi sự việc xảy ra vào đúng ngày cuối cùng ngay trước hôm bốc mộ do gia đình không kiêng khem cẩn thận. Sở dĩ nói trùng này là nhẹ nhất vì gia đình có nhiều thời gian để đi cứu giải. - Việc trùng nặng hay nhẹ do giờ của người chết trùng quyết định. Việc này nên nhờ các ông thầy hoặc các nhà sư cao tay xem cho. Vì vậy khi nhà có người mất thường nên đi xem ngay để nếu không may chết trùng gia đình còn kịp xoay xở. *Cách giải: - Nhà có người chết trùng phải lập tức gửi người đó lên chùa, tuy nhiên không phải chùa nào cũng giữ được vong chết trùng. Nó phụ thuộc vào sự linh thiêng của chùa và mức độ cao tay của vị sư trụ trì. Nếu trùng nhẹ các bạn có thể gửi lên một ngôi chùa nào đó gần nhà, các nhà sư sẽ hàng ngày đọc kinh niệm phật cho vong hồn siêu thoát( hay nói đúng ra là nhốt vong vào trong ngục, không cho đi lung tung kẻo quỷ sứ bắt được nó sẽ tra tấn và khai ra tên họ người nhà, càng những người hợp với vong chết trùng càng dễ bị bắt). - Nếu trùng nặng, tôi khuyên chân thành bạn phải gửi ngay vào chùa Hàm Long, dù có ở trong Nam thì cũng nên cấp tốc đi máy bay ra mà gửi. Các chùa khác nổi tiếng về cái gì thì tôi không biết nhưng đệ nhất giữ vong phải là chùa Hàm Long ( Ở Thành phố Bắc Ninh). Đây là ngôi chùa cổ mấy trăm năm nằm trên sườn núi, địa thế rất đẹp. Chùa có những cây cổ thụ cực to, và cũng là một trong những nơi đào tạo các nhà sư ở Việt Nam. Từ trong nam ngoài bắc trùng tang đều đem về đó gửi. Hàng ngày vào buổi sáng tôi thấy các nhà sư tụng kinh niệm phật cúng vong rất cẩn thận. - Khi gửi vào chùa rồi, bạn có thể yên tâm ăn ngủ nếu thực hiện đúng các điều sau( các nhà sư chắc cũng sẽ nói lại cho bạn nếu bạn đến đó): 1- sau khi gửi lên chùa, ở nhà không được lập bàn thờ cúng bái người đã chết nữa kể cả ngày giỗ tết, vì có hương là có hồn, chỉ cần bạn đốt hương và đọc tên người chết thì đó coi như chìa khoá mở ngục cho vong thoát ra ngoài. 2- Khi đưa vong lên chùa phải nhờ người không phải là họ hàng, nếu nhờ được bạn bè là tốt nhất, còn nếu không cũng phải nhờ người bên họ ngoại. Vì vong chết trùng thường rất khôn ngoan, nếu thấy người quen đưa đi thì thường nó sẽ đi theo về hoặc tệ hơn là nó đã biết trước và không đi theo. Thế nên không nên bàn chuyện đưa tiễn vong lên chùa ở nhà người chết.3- sau khi nên mộ tròn tức là người chết đã về với tổ tiên, mới được thờ cúng lại bình thường. * Có một nhà sư đã nói đặc điểm của người chết trùng (không phải ai chết trùng cũng có đặc điểm này, tôi chỉ ví dụ để bạn tham khảo thôi)là : dù có ốm thập tử nhất sinh người đó vẫn luôn tin mình sẽ sống ( kể cả là ung thư giai đoạn cuối thì vẫn tin có phép tiên), nên nếu bạn có hỏi xem người ấy có muốn trăn trối gì không thì họ thường lảng tránh câu đó không muốn trả lời. Thêm nữa nếu mất trong khoảng giữa đêm hoặc gần 6h sáng thì cũng nên cẩn thận vì đó là giờ quan, nên đi xem xét cho cẩn thận kẻo bị trùng tang mà không biết. * Ở chùa Hàm Long có các lá bùa để gia đình đeo vào trong khoảng 3 năm để tránh tai hoạ, tôi thấy một mặt là chữ nho một mặt là phật bà. * Rất tiếc là tôi không nhớ địa chỉ cụ thể, tuy nhiên bạn có thể đi đường cao tốc về thành phố Bắc Ninh, có 1 cái cầu vượt, tay trái đi vào thị xã, tay phải đi về phía chùa. Tuy nhiên chùa ở núi nên còn đi vào khá xa, tôi chỉ nhớ là có đi qua nhà máy kính nổi. sau đó thì bạn hỏi đường tiếp nhé, vì nó khá nổi tiếng mà,với lại cũng có biển chỉ đường đi về chùa đó. Tôi đã đi nhiều chùa nhưng đó là ngôi chùa cổ u tịch nhất mà tôi biết, khi tôi đến đó thấy cả dãy dài ô tô từ tứ phương đổ về- thường là những người đi gửi vong chứ ít ai đi vãn cảnh chùa lắm có lẽ vì tâm lý đó là nơi giữ vong, mọi người đến thường xong việc đi luôn, chắc cũng vì sợ ở lâu chỉ thêm đau long do thương xót người đã mất. Các gia đình sau khi gửi vong thường chỉ thực hiện được một thời gian đầu những điều cần kiêng, sau vì thương tiếc người thân đã cúng lại vì sợ ma bị đói. Đây là điều cần hết sức tránh vì các nhà sư cúng bái còn cẩn thận hơn chúng ta nhiều. Có nhiều gia đình phải gửi đi gửi lại nhiều lần vì vong theo về, vì cúng khấn ở nhà. Vì vậy bạn nên tránh những điều tôi đã nói nhé. Bạn ạh, chết trùng hoàn toàn có thể khống chế được nếu làm đúng cách. Vài điều nhắn gửi, mong gia đình bạn bình an. __________________ngoc nhan Chào Đ!Nếu thực sự Phạm vào Trùng tang thì không chỉ xấu với người Sống mà người mất rồi cũng Xấu. hãy đưa ảnh người mất vào chùa, nhờ phật độ cho. Còn người Sống thì cái "Dấu" của nhà chùa mà đeo, mang bên mình trong suốt thời gian đến khi bốc mộ người đó. Trùng tang ngày là nặng nhất, trùng tang giờ nặng nhì, tháng và năm thì nhẹ - không lo.Dân gian còn cách tính Nhất, Nhị, Tam sa nữa, phạm điều này còn độc hơn: Nhất sa sát tam nhân, Nhị sa sát ngũ nhân, Tam sa sát thất nhân (trong vòng 3 năm)." ( Thienvietnam)--------------------------------------------------------------------------------Nhân Trắc Học15-09-2006, 09:14 PMNgoài chùa Hàm Long ở Quế Võ, Bắc Ninh giải trùng bằng phương pháp "nhốt vong", ở Hà nội có chùa Liên Phái trên phố Bạch mai, dùng Bùa "trấn trùng". Theo tôi, nếu trùng nặng thì nên đến chùa LP( gặp cụ Lâm) , nếu nhẹ thì gửi Vong lên chùa HL. Theo tôi được biết thì ở miền Bắc chỉ có 2 chỗ đấy thôi. Chúc gia đình bạn bình an.

Ông Bình kể: "Tôi đã gặp vài trường hợp như vậy. Sau khi gia đình có người mất, vài người nhiễm bệnh. Họ cũng tốn đến 30 triệu đồng để cúng giải trùng tang. Nhưng khi đến tôi chỉ hướng dẫn lấy lá đinh lăng và lá nhãn tươi sắc lấy nước uống vậy là tứ chứng tiêu tan".

xxxxxxxxxxx

Hỏi:

Xin cho biết ngày trùng tang và ngày trùng nhật là những ngày nào trong năm? Trong dân gian kiêng kỵ những ngày trùng này trong việc chôn cất, mai táng, vậy quan điểm của đạo Phật về những ngày trùng này như thế nào?

Nguyễn Thành Thông, Quy Nhơn, Bình Định

Đáp:

Bạn Nguyễn Thành Thông thân mến!

Theo quan niệm của lịch số Trung Hoa và trong dân gian nói chung thì ngày trùng tang là ngày đại kỵ trong việc an táng, chôn cất. Ngày này còn có tên là ngày cướp sát. Cách tính ngày trùng tang như sau:

Đối với tuổi Thân, Tý , Thìn kỵ Tỵ. Có nghĩa là người chết tuổi Thân hay tuổi Tý hoặc tuổi Thìn mà mất vào năm Tỵ, tháng Tỵ, ngày Tỵ và giờ Tỵ là bị chết vào ngày trùng tang, tuyệt đối tránh an táng vào ngày Tỵ. Tương tự như thế đối với các tuổi Tỵ, Dậu, Sưủ kỵ Sưủ, Dần, Ngọ, Tuất kỵ Hợi, Hợi, Mão, Mùi kỵ Thân. Những ngày trùng tang này rất hiếm trong năm.

Theo quan niệm dân gian, nếu chôn cất vào những ngày trùng tang này thì sau khi an táng xong, một thời gian ngắn sau có thể những người khác trong thân tộc sẽ chết theo. Trong trường hợp khoảng vài tuần, vài tháng hoặc trong vòng ba năm có nhiều người chết liên tiếp thì bị trùng tang liên táng.

Ngày trùng tang (trùng nhật) là ngày Dần, Thân, Tỵ, Hợi cùng trùng ngày, trùng tháng và trùng năm. Như ngày Dần, tháng Dần và năm Dần; ngày Thân tháng Thân và năm Thân... gọi là những ngày trùng. Vào những ngày trùng, kiêng kỵ tẩm liệm, chôn cất và cải táng. Người chết với bất cứ tuổi nào cũng đều xung kỵ ngày này. Trong dân gian tin rằng nếu chôn cất vào ngày trùng ắt sẽ có một người thân bị chết theo, tuy vậy vẫn nhẹ hơn trùng tang liên táng.

Đối với Phật giáo thì sống chết là chuyện thường nhiên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng, song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định và có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế, Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ nhận việc ngày giờ chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác.

Tuy nhiên, vì tập tục này ăn sâu vào tâm thức mọi người nên một vài nơi, trong tinh thần phương tiện, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phước hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để " âm dương lưỡng lợi" theo quan điểm Phật giáo.



(uia.edu.vn- báo Giác Ngộ)

xxxxxxxxxx

Làm sao để cắt tang trùng,liệu cầu siêu có được không ?
[04.11.2008 13:50]
Nhà tôi đi xem bói ở nhiều nơi và đã được phán rằng:nhà có tang trùng.Quả thật là như vậy, khi ông tôi mất được khoảng 3 năm thì bà ốm nặng.khi biết bà không qua khỏi,gia đình tôi vội vã lo cải táng cho ông tôi. Công viêc cải táng bắt đầu hoàn thành lúc 7h sáng,gia đình chưa kịp cắt tang ông thì đến 9h sáng hôm đó bà cũng mất. Biết nhà có tang trùng thường có rất nhiều điều tai hoạ.


Gia đình có đi nhiều nơi xem có hình thức cắt tang nào không,nhưng đều được cho hay la không có cách nào cả,chỉ có mỗi cách là vào đền để gửi vong,và sẽ tránh được phần nào tai hoạ trong 3 năm.quê tôi đã có nhiều trương hợp nhà có tang trùng,bao giờ sau đó cũng là cái chết của một vài anh em con cháu trong gia đình (vi thần trùng bắt phạt). Nhà tôi cũng đã đi đến các chùa chiền -nơi tổ chức cầu siêu cho các vong.nhưng cũng đươc nhiều người cho hay hình thức cầu siêu cũng không làm giảm bớt tai hoạ của việc nhà có tang trùng.trong mấy anh em nhà tôi ai ai cũng lo lắng không biết tiếp sau đó đến lượt ai sẽ bị thần trùng bắt đi,mọi người đều bỏ bễ công việc làm ăn. MONG SỰ GÓP Ý CỦA MỌI NGƯỜI XEM GIA ĐÌNH TÔI PHẢI LÀM GÌ ĐỂ CẮT TANG TRÙNG ĐÓ, LIỆU CẦU SIÊU CÓ GIÚP GIẢM TAI HOẠ KHÔNG.
CƯ SĨ ĐỨC CHƠN PHÚC ĐÁP:

Theo quan niệm của lịch số Trung Hoa và trong dân gian nói chung thì ngày trùng tang là ngày đại kỵ trong việc an táng, chôn cất. Ngày này còn có tên là ngày cướp sát. Cách tính ngày trùng tang như sau:

Đối với tuổi Thân, Tý , Thìn kỵ Tỵ. Có nghĩa là người chết tuổi Thân hay tuổi Tý hoặc tuổi Thìn mà mất vào năm Tỵ, tháng Tỵ, ngày Tỵ và giờ Tỵ là bị chết vào ngày trùng tang, tuyệt đối tránh an táng vào ngày Tỵ. Tương tự như thế đối với các tuổi Tỵ, Dậu, Sưủ kỵ Sưủ, Dần, Ngọ, Tuất kỵ Hợi, Hợi, Mão, Mùi kỵ Thân. Những ngày trùng tang này rất hiếm trong năm.

Theo quan niệm dân gian, nếu chôn cất vào những ngày trùng tang này thì sau khi an táng xong, một thời gian ngắn sau có thể những người khác trong thân tộc sẽ chết theo. Trong trường hợp khoảng vài tuần, vài tháng hoặc trong vòng ba năm có nhiều người chết liên tiếp thì bị trùng tang liên táng.

Ngày trùng tang (trùng nhật) là ngày Dần, Thân, Tỵ, Hợi cùng trùng ngày, trùng tháng và trùng năm. Như ngày Dần, tháng Dần và năm Dần; ngày Thân tháng Thân và năm Thân... gọi là những ngày trùng. Vào những ngày trùng, kiêng kỵ tẩm liệm, chôn cất và cải táng. Người chết với bất cứ tuổi nào cũng đều xung kỵ ngày này. Trong dân gian tin rằng nếu chôn cất vào ngày trùng ắt sẽ có một người thân bị chết theo, tuy vậy vẫn nhẹ hơn trùng tang liên táng.

Đối với Phật giáo thì sống chết là chuyện thường nhiên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng, song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định và có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế, Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ nhận việc ngày giờ chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác.
Tuy nhiên, vì tập tục này ăn sâu vào tâm thức mọi người nên một vài nơi, trong tinh thần phương tiện, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phước hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để " âm dương lưỡng lợi" theo quan điểm Phật giáo.

Tóm lại, người Phật tử Việt Nam vì tập quán lâu đời vẫn còn tin theo lý số, có nghĩa là vẫn coi ngày giờ. Nhưng hiểu biết hơn, nhẹ nhàng hơn, vẫn là đạo lý nhân quả phước báo, biệt nghiệp của từng người mới là yếu tố quan trọng quyết định cho tất cả. Tuyệt đối không nên tin theo lý số ngày tháng mà xem thường nhân quả tội phước.








NÓI RÕ HƠN VỀ CÁCH TÍNH TANG TRÙNG
tính tuổi của vong - tháng mất - ngày mất - giờ mất: kết luận.

trùng tang được tính theo cung:
4 cung sau là trùng tang: dự báo sẽ có người thân chết theo: Dần - Thân Tỵ - Hợi.
4 cung sau là thiên di: Dự báo con cháu sẽ phải chia ly, tài sản phân tán, tranh chấp kiện tụng: Tý - Ngọ - Mão - Dậu.
4 cung sau là Nhập mộ: Dự báo vong chết không phạm trùng tang. mãn kiếp sa bà, con cháu làm ăn thịnh vượng, phát tài , sai lộc: Thìn - tuất - sửu - mùi

Đối với nam, thì tính từ cung dần, tính xuôi.
Đối với nữ, thì tính từ cung thân, tính ngược.
tính tuổi chết, tính đến đâu thì ghi lại cung đó; tính tiếp đến tháng chết; ghi lại cung đó.... sau khi tính xong thì kết luận.
cứ mỗi cung nhập mộ thì trừ được một cung trùng tang.


Ví dụ: Ông cụ vong, thượng thọ 82 tuổi, mất 5g15' ngày 6 tháng 3 âm lịch. (giờ mão)
bạn vẽ 1 bảng tính trùng tang như sau:

dần - mão - thìn - tỵ - ngọ - mùi - thân - dậu - tuất - hợi - tý - sửu.

bắt đầu tính:
tính năm:
10 tuổi tại cung dần
20 tuổi tại cung mão
30 tuổi tại cung thìn
40 tuổi tại cung tỵ
50 tuổi tại cung ngọ
60 tuổi tại cung mùi
70 tuổi tại cung thân
80 tuổi tại cung dậu
các tuổi lẻ cũng tíng là 1 cung.
81 tuổi tại cung tuất
82 tuổi tại cung hợi

năm chết phạm trùng tang.

tính tháng:
cách tính tháng là tính vào cung sau cung tính năm; khởi từ tháng giêng.
tháng giêng: cung tý
tháng hai: cung sửu
tháng 3: cung dần

tháng chết phạm trùng tang.

tính ngày
tính ngày vào cung kế tiếp cung cuối cùng của tính tháng. khời từ ngày mùng 1
ngày 1 cung mão
ngày 2 cung thìn
ngày 3 cung tỵ
ngày 4 cung ngọ
ngày 5 cung mùi
ngày 6 cung thân

ngày chết phạm trùng tang

tính giờ chết
giờ chết được tính theo cung kế tiếp cung cuối cùng của ngày chết. khởi từ tý.

giờ tý cung dậu
giờ sửu cung tuất
giờ dần cung hợi
giờ mão cung tý

giờ chết phạm thiên di.

kết luận:

Cụ Ông chết phạm 3 trùng tang, 1 thiên di. Huyết thống sẽ chết theo trong giai đoạn chưa mãn tang từ 3 - 6 người. sau đó con cháu ly tán, thất lộc.

cách tính trùng tang cho nữ cũng tương tự, nhưng tính theo biểu đồ sau:
thân - mùi - ngọ - tỵ - thìn - mão - dần - sửu - tý - hợi - tuất - dậu.
*Gia đình bạn đã đi đến các chùa chiền -nơi tổ chức cầu siêu cho các vong vậy thì an tâm rồi đừng có lo gì cả ,nếu có vẫn đề gì bạn cứ liên lạc với chúng tôi để được tư vấn thêm
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: CĂN ĐỒNG---Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng?   Today at 1:18 pm

Về Đầu Trang Go down
 
CĂN ĐỒNG---Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng?
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Q9A1-THANGLONG-UNIVERSITY :: -
Chuyển đến