Q9A1-THANGLONG-UNIVERSITY

ÁO XƯA DÙ NHÀU, CŨNG XIN BẠC ĐẦU GỌI MÃI TÊN NHAU !!!
 
IndexIndex  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Nếu mai này Mẹ hiền có mất đi.... như đóa hoa không mặt trời... như trẻ thơ không nụ cười... ngỡ đời mình không lớn khôn thêm... như bầu trời thiếu ánh sao đêm......!!!
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề nàyShare | 
 

 CĂN ĐỒNG---Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng?

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
CĂN Đ
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: CĂN ĐỒNG---Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng?   Mon Apr 04, 2011 8:47 pm

CĂN ĐỒNG


Căn đồng là gì? Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng? Căn đồng là một hiện tượng được rất nhiều người quan tâm nhưng không phải ai cũng hiểu, cũng biết một cách thấu đáo. Chính vì không hiểu nên nhiều người vẫn bị lừa phỉnh, mê muội trong tâm linh, dẫn đến hao tiền tốn của, mất thời gian, tự mua dây buộc mình. Bài viết sau đây được tổng hợp từ nhiều ý kiến, tuy không dám nói rằng đã đầy đủ và chính xác về căn đồng nhưng chỉ mong mang đến cho độc giả một góc độ cụ thể hơn về căn đồng để từ đó có cái nhìn đúng đắn và phương thức hành xử hợp lý trong đời sống tâm linh của mình.
Trong các tôn giáo, tín ngưỡng phổ biến trên thế giới, Đạo Thiên Chúa có hình thức hành lễ long trọng kèm theo âm nhạc, hát đồng ca trong nhà thờ với dàn đại phong cầm hết sức tuyệt vời, tạo ra không khí trang nghiêm, thành kính. Ở Việt Nam có tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Đức Thánh Trần với tập tục hầu bóng, lên đồng, kèm theo các động tác múa đặc trưng của từng vị Thánh nhập đồng, thực hiện nghi lễ trong môi trường âm nhạc, ca hát tưng bừng. Trong môi trường hành lễ trang nghiêm và tâm linh như vậy, người có hệ thần kinh yếu rất dễ chịu tác động của không khí buổi lễ, dẫn đến làm thay đổi thần thức, cảm giác hoà nhập với không khí linh thiêng thần thánh. Trong cuộc sống thường nhật, những người như vậy cũng thỉnh thoảng hay rơi vào cảm giác ảo, mơ thấy thần thánh, thân mình bay bổng… Về mặt Thần kinh học, người ta cho rằng những người đó có hệ thần kinh yếu, dễ xúc cảm. Khi có tác động bên ngoài, tâm thức những người đó có xu hướng hoà nhập với môi trường.


Khi lễ hầu bóng diễn ra ở các đền, phủ, điện, trong không khí đàn ca, trống phách, múa hát tưng bừng, mùi nhang khói kích thích, một số ít người tham gia hành lễ có cảm giác thấy lâng lâng, phiêu phiêu, bay bổng, thần thức hoà nhập với không khí lễ hội múa hát khi Thánh giáng vào người con đồng. Đặc biệt, trong môi trường thực hành nghi lễ tâm linh, yếu tố âm nhạc, ca múa hát, mùi nhang khói, lời lẽ và âm thanh khấn vái… có tác dụng rất mạnh. Nếu người hầu đồng có hệ thần kinh như vậy, việc hoà nhập tâm linh trong trạng thái Thánh giáng là điều tất yếu.

Người ta gọi hiện tượng trên là “Ốp đồng”. Người rơi vào trạng thái trên gọi là người bị ốp đồng. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Đức Thánh Trần, những người như vậy được cư dân tín ngưỡng gọi là NGƯỜI CÓ CĂN ĐỒNG. Căn đồng là một hiện tượng được nhiều người quan tâm nhưng không phải ai muốn là có căn. Người ngồi hầu Thánh có cảm giác hào hứng, hoà nhập lễ nghi tâm linh khi thực hành nghi lễ hầu bóng cũng chưa phải là người có căn đồng. Chỉ có những người có hệ thần kinh yếu ở mức độ nào đó khi đi lễ đền, phủ mới bị hiện tượng ốp đồng và người ta gọi họ là những người căn cao, số nặng, là người có duyên (có căn) với các vị Thánh trong Tứ phủ.

Theo tín ngưỡng thờ Mẫu, người có căn đồng là người sinh dương thế nhưng số hệ thiên cung, mệnh càn bóng quế, con cái của cửa Tứ phủ công đồng. Tín ngưỡng thờ Tứ phủ cho rằng, người có căn đồng là người đã được các Thánh chấm, không sớm thì muộn, tùy theo căn số của từng người sẽ được Thánh bắt đi lính làm đồng. Nếu không trình diện để hầu sẽ bị các Thánh hành hạ. Lắm người căn cao số nặng ấy, vì không biết đến cửa Thánh để kêu, để cầu nên bị hành cho đủ các kiểu: ốm đau bệnh tật nhưng đi chữa không khỏi vì không biết là mình bị bệnh gì, bị hành cho dở dại dở điên, công danh sự nghiệp lận đận, nhân duyên khó thành...Nhưng nếu mình biết đến cửa Thánh, cúi đầu đội lệnh, chẳng dám đơn sai thì mọi việc sẽ khác hẳn, bệnh hết, mạnh khỏe, bình an, công thành danh toại.

Tóm lại, người có căn đồng trước sau gì cũng phải ra trình diện, làm ghế ngồi cho Thánh, tức là phải hành lễ trình đồng, mở phủ. Nếu không có căn đồng mà nghe lời phán bảo linh tinh rồi ra lễ trình đồng, mở phủ thì chỉ tốn tiền và thời gian, tự mua dây trói mình vì buộc phải theo đền, phủ suốt đời. Nếu bỏ cuộc sẽ bị Thánh trách quở; mọi khó khăn bất trắc trong cuộc sống sẽ được qui cho là tại vì Thánh phạt.

Vậy làm sao biết được căn mệnh của mình là gì để tránh được những điều đáng tiếc có thể xảy ra? Ai có thể xác định được được căn số trong mỗi con người ? Nhiều người chỉ nghe thầy tứ phủ phán bảo về căn số của mình, rằng có căn với Quan lớn này, Cô, Cậu nọ rồi phải đăng đàn làm lễ trình đồng, mở phủ, tự mình gây không ít khó khăn cho mình và hao tiền tốn của. Người ta cho rằng có nhiều cách để biết được căn số của mình. Ví dụ: được các ngài báo mộng; được các ngài về ốp đồng khi mình tham gia hành lễ trình đồng; khi hầu bóng mà mình luôn thích xem và say mê về giá đó; hoặc có thể là do xem bói mà biết được. Nhưng xem bói phải hết sức lưu ý, không phải thầy nói gì mình cũng tin, vì bây giờ cũng lắm thầy làm vì tiền hơn là làm vì tâm để cứu thế độ dân. Đây là một vấn đề hết sức khó khăn nhưng không phải không có đường thoát, đó là nhờ lập Bát tự để tìm hiểu căn số của mình. Đương nhiên người lập Bát tự phải hết sức am hiểu và giỏi Dịch lý. Hơn nữa, người có căn hay không cũng có thể tự nhận biết qua các hiện tượng trên. Tuy nhiên, cần lưu ý phải khẳng định người có căn đồng là những người mạnh khoẻ, có thể chất, tinh thần và tâm lý hoàn toàn khác với người bị bệnh tâm thần phân liệt.

Nếu phải ra trình đồng, mở phủ, ai là người có thể giúp được người có căn đồng thực hành nghi lễ trong khi xã hội trắng đen lẫn lộn đồng giả, đồng thật này? Bây giờ tìm được một Đồng thầy thật sự khó lắm.

Nếu người có căn đồng không nặng lắm có thể làm lễ tôn lô nhang bản mệnh; nếu chưa đạt yêu cầu thì phải làm lễ trình đồng, mở phủ chính thức thành con dân hầu Thánh, bắc ghế cha ngồi,bắc ngôi mẹ ngự, thành ghế đệm cho Thánh ngự. Muốn làm lễ bốc bát nhang bản mệnh,trước hết người có căn đồng nên chọn một Đồng thầy thật sự, thông thạo việc Thánh. Lễ phải được tiến hành theo đúng trình tự, đúng phép cửa Thánh, có dâng sớ, điệp văn, phẩm vật và đồ mã tiến cúng. Về nguyên tắc, bốc bát nhang ở đền, phủ, điện nào là mình đã trở thành con nhang đệ tử của nơi đó. Các ngày lễ tiệc, đầu năm, cuối năm phải đi lễ đầy đủ ở đó thì mới tốt. Nếu vì lý do nào đó mà tạm thời đi các đền, phủ khác để thực hành nghi lễ thì phải xin và được sự đồng ý của Đồng thầy.

Nếu nặng căn quá mà mình chưa có điều kiện để ra trình đồng, mở phủ, thì có thể lập đàn để xin tiễn căn khất đồng. Nếu vì công danh, sự nghiệp… mà chưa trình đồng, mở phủ thì phải xin khất vì chưa lo liệu được việc Thánh. Cần nhớ đây là lễ xin khất chứ không phải xin từ bỏ căn vì người có căn trước sau gì cũng phải đến hầu Thánh mới yên. Người ta nói người có căn đồng không chống lại được số mệnh gắn bó với Thánh. Quan trọng là người có căn phải nhất tâm tin tưởng thì mới thành công và yên ổn trong vạn sự.



xxxxxxxxxxxxx

Lên đồng hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.

Ở Việt Nam, lên đồng là nghi thức không thể thiếu trong các thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, (Được gọi là Thanh Đồng)... Về hình thức, nghi thức lên đồng hầu về Hội Đồng Thánh Trần mang tính saman nặng hơn khi lên đồng hầu về Tứ Phủ bởi hầu về Hội Đồng Thánh Trần có các hành động trực tiếp lên thể xác Thanh Đồng (người ở ngoài nhìn đôi khi thấy sợ)như đi trên than hồng, xiên lình(dùng thanh sắt sắc nhọn đâm xuyên vào hai má và miệng thanh đồng), ăn lửa, lên đai (1 hình thức thắt cổ, có người được gọi là sát căn, có khi lên 3 đai)...

Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng, Thanh Đồng là nam giới thì được gọi là "cậu", nữ giới được gọi là "Cô hoặc Bà Đồng". "Cậu" thường mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn (tóc có thể để dài như con gái). Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng ) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt...Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều "giá". Mỗi lần thay giá, người ta lại phủ lên "cậu" một tấm khăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này Thanh Đồng đang ở một "giá" mới và phải thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng... sao cho tương xứng với "giá" này. Khi thì Thanh Đồng hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa..Điệu múa của Thanh Đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của "giá". "Giá" quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích; giá các chầu bà thì múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá ông hoàng thì có múa khăn tấu, múa tay không, múa cờ ; giá các cô múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múa khăn lụa, múa đàn, múa tay không; giá các cậu thường múa hèo, múa lân ... Nghi lễ Thánh giáng phải theo thứ tự từ cao đến thấp từ Thánh Mẫu đến hàng Quan, Chầu, ông Hoàng, hàng Cô và Cậu. Số lượng giá trong một buổi lên đồng có khi lên tới 36 giá.

Trong lúc Thanh Đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng Thanh Đồng theo nhịp câu hát.Những nắm tiền lẻ sau khi được Thanh Đồng tung ra, ban phát cho những người xung quanh được coi là tiền lộc và được những người dứng xem xung quanh nhặt lấy cất giữ để lấy may. Nhạc hát thông thường là điệu chầu văn hoặc là hát nói có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới. Nhạc khí chủ đạo là đàn nguyệt, bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông, trống…Ở miền Bắc Việt Nam có Phủ Giầy là noi hay tổ chức lên đồng nhiều nhất.

Với các giá ông Hoàng thì nhóm đàn hát (được gọi là "Cung văn") sẽ ngâm các bài thơ cổ. Lúc này, Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác thưởng tiền cho Cung văn và dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước...Tới giai đoạn cao trào của Thánh thì người đứng giá thường múa gươm hoặc bơi thuyền. Do vậy, ở Việt Nam có câu hát "cậu bắn súng lục, cô bơi thuyền rồng" là để chỉ sự này.

Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có nghi thức giao tiếp với thần linh như tín ngưỡng Mỡi của người Mường, tín ngưỡng Then của người Tày, Nùng. Tuy nhiên, khác với nghi thức lên đồng của người Việt, sự giao tiếp với thần linh ở Mỡi và Then chủ yếu thông qua hình thức xuất hồn, tức là các ông Mỡi, bà Then có khả năng thoát hồn khỏi xác bay đi gặp gỡ, cầu xin thần linh phù hộ cho dân chúng.

Ngày nay, lên đồng vẫn còn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt. Các nghi lễ này thường được tổ chức nhiều lần trong một năm vào các dịp lễ tiết, thường là tại các lễ hội đền thánh, phủ mẫu... Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, truyền thống tín ngưỡng Việt Nam còn tin tưởng rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫn còn và theo dõi cuộc sống của người thân đang sống. Do đó, khi lên đồng, linh hồn của người chết có thể nhập vào đồng cô, đồng cậu (người gọi đồng) để trò chuyện với thân nhân đang sống. Thông qua cuộc trò chuyện âm-dương này, người sống sẽ biết được những yêu cầu của người thân quá cố về mỗ mả để điều chỉnh và cúng xin cho phù hợp. Đồng thời, thông qua cuộc đối thoại này, người sống cũng biết được vận mạng tương lai của mình.

Tại Việt Nam hiện nay, hoạt động lên đồng bị chính quyền xem là hoạt động mê tín dị đoan do nhiều trường hợp việc lên đồng đã bị nhiều người lợi dụng vào mục đích xấu. Tuy nhiên, nhiều hội thảo khoa học nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian Việt Nam, trong đó có lên đồng đã được tổ chức, nhiều ấn phẩm của các học giả đã được xuất bản.
Về Đầu Trang Go down
luck
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Hầu đồng và những giá trị đích thực   Mon Apr 04, 2011 8:54 pm

Lên đồng (hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng) là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.

Ở Việt Nam, lên đồng là nghi thức không thể thiếu trong các thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, (Được gọi là Thanh Đồng)... Về hình thức, nghi thức lên đồng hầu về Hội Đồng Thánh Trần mang tính saman nặng hơn khi lên đồng hầu về Tứ Phủ bởi hầu về Hội Đồng Thánh Trần có các hành động trực tiếp lên thể xác Thanh Đồng (người ở ngoài nhìn đôi khi thấy sợ)như đi trên than hồng, xiên đình, phun lửa,lên đai (1 hình thức thắt cổ,có người được gọi là sát căn,có khi lên 3 đai)...

Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng ,Thanh Đồng là nam giới và được gọi là "cậu" ,nữ giới được gọi là "Cô hoặc Bà Đồng". "Cậu" thường mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn (tóc có thể để dài như con gái). Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng ) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt...Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều "giá". Mỗi lần thay giá, người ta lại phủ lên "cậu" một tấm khăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này Thanh Đồng đang ở một "giá" mới và phải thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng... sao cho tương xứng với "giá" này. Khi thì Thanh Đồng hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa..Điệu múa của Thanh Đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của "giá". "Giá" quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích; giá các chầu bà thì múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá ông hoàng thì có múa khăn tấu, múa tay không,múa cờ ; giá các cô múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa ,múa khăn lụa ,múa đàn , múa tay không; giá các cậu thường múa hèo, múa lân ... Nghi lễ Thánh giáng phải theo thứ tự từ cao đến thấp từ Thánh Mẫu đến hàng Quan, Chầu, ông Hoàng, hàng Cô và Cậu. Số lượng giá trong một buổi lên đồng có khi lên tới 36 giá.

Trong lúc Thanh Đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng Thanh Đồng theo nhịp câu hát.Những nắm tiền lẻ sau khi được Thanh Đồng tung ra, ban phát cho những người xung quanh được coi là tiền lộc và được những người dứng xem xung quanh nhặt lấy cất giữ để lấy may. Nhạc hát thông thường là điệu chầu văn hoặc là hát nói có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới. Nhạc khí chủ đạo là đàn nguyệt, bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông, trống…Ở miền Bắc Việt Nam có Phủ Giầy là noi hay tổ chức lên đồng nhiều nhất.

Với các giá ông Hoàng thì nhóm đàn hát (được gọi là "Cung văn") sẽ ngâm các bài thơ cổ. Lúc này, Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác thưởng tiền cho Cung văn và dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước...Tới giai đoạn cao trào của Thánh thì người đứng giá thường múa gươm hoặc bơi thuyền. Do vậy, ở Việt Nam có câu hát "cậu bắn súng lục, cô bơi thuyền rồng" là để chỉ sự này


Hầu đồng và những giá trị đích thực
.

Nhắc tới chuyện lên đồng, hầu bóng, nhiều người nghĩ ngay đến hình ảnh những người buôn thần, bán thánh, mê tín dị đoan. Thực ra, đây là một dạng nghệ thuật diễn xướng dân gian, bắt nguồn từ tín ngưỡng thi Mẫu của người Việt.
Những cách hiểu sai lệch
Nghe thấy tiếng nhạc cất lên rộn ràng từ nhà hàng xóm, bà T. (Tây Hồ, Hà Nội) lắc đầu bảo: “Mấy người lại tổ chức lên đồng đấy, tốn kém lắm. Mà cứ nói là mê tín, nhưng họ làm công khai đấy, có ai “hỏi thăm” đâu”. Giống như bà T., nhiều người nghĩ rằng hầu đồng là hoạt động mê tín, chỉ được tổ chức lén lút. Tuy nhiên, trên thực tế, các buổi hầu đồng đều diễn ra công khai. Ở Hà Nội, nơi được coi là "trụ sở" chính của giới hầu đồng là phố Hàng Bạc. Ngoài ra, còn có hàng chục điểm hầu bóng khác trên phố Tôn Đức Thắng, khu vực Nam Đồng, Gia Lâm...

Tình cờ được tham dự một buổi hầu đồng mở phủ của một phụ nữ ngoài 30 tuổi, tôi mới biết rằng, nếu không dư giả về thời gian và cả tiền bạc thì đừng nghĩ đến chuyện theo hầu đồng. Thông thường, thời gian cho một cuộc hầu kéo dài cả buổi, thậm chí cả một ngày trời. Buổi hầu chỉ kết thúc khi toàn bộ các mâm lễ gồm hoa quả, nước ngọt, bia... trị giá hàng chục triệu đồng được phát hết cho khách. Suốt cuộc hầu kéo dài hơn 5 tiếng đồng hồ mà tôi được chứng kiến hôm đó, "cậu" (danh từ chung chỉ những người hầu đồng) liên tục phải thay các quần áo của ông Hoàng, bà Chúa, cậu Bốn... rồi nhảy múa, hút thuốc, vung tiền, ném quả, phát lộc rất hào phóng. Các đệ tử, con nhang ngồi hầu xung quanh cũng liên tục châm thuốc, vỗ đùi và thi thoảng lại xuýt xoa "cậu múa dẻo quá", rồi "cậu thật là tài giỏi"… để phụ họa, nịnh bợ. Kết thúc buổi hầu đồng, “cậu” cho biết, đã tiêu gần 20 triệu đồng cho việc sắm lễ, mã..., nhưng như thế vẫn còn rẻ hơn so với tổ chức hầu ở nước ngoài. Vì thế, nhiều người đang sống ở nước ngoài thường về nước tổ chức hầu cho rẻ.

Dù tốn kém, nhưng trên thực tế có rất nhiều người “nghiện” hầu đồng. Không ít người làm được bao nhiêu, tiêu vào hầu đồng bấy nhiêu, thậm chí có người lâm vào cảnh khuynh gia bại sản... Những người theo hầu đồng đều tin tưởng vào lực lượng siêu nhiên, thần bí. Vì thế, khi cuộc sống càng nhiều rủi ro thì hầu đồng lại càng lên ngôi. Làm ăn thất bát: hầu đồng. Bị tai nạn: hầu đồng. Con trượt đại học: hầu đồng. Làm ăn thành đạt: cũng hầu đồng...

Nghệ thuật mang đậm chất tâm linh

Năm 2006, lần đầu tiên một lễ hội hầu bóng hoành tráng đã được Bộ Văn hóa thông tin (cũ) tổ chức tại Kiếp Bạc (Hải Dương), với sự tham gia của một số đoàn từ nhiều địa phương. Đây là sự công nhận chính thức đầu tiên của những nhà quản lý văn hóa với giá trị tâm linh và nghệ thuật của hầu đồng. Trả lời báo chí lúc đó, GS - TS Tô Ngọc Thanh cho rằng, việc công nhận hầu bóng có hơi muộn, nhưng muộn còn hơn không.
Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng, hầu đồng (cũng còn gọi là hầu bóng) là loại hình diễn xướng dân gian bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Hầu đồng xuất phát từ thế giới quan của người Việt cho rằng, mỗi thế giới hữu hình luôn tồn tại song song với một thế giới vô hình. Người Việt cổ cho rằng có 4 thế giới: thế giới trên trời (ở nước nông nghiệp như ta chỉ đơn thuần coi thế giới trời là nơi trú ngụ các tác nhân gây mưa), thế giới dưới nước, thế giới rừng (nơi sinh ra, nơi quần tụ của tổ tiên ta) và thế giới người. Các thế giới này đều do các bà mẹ (Mẫu) cai quản.

Mỗi câu chuyện trong mỗi lần hầu bóng đều hấp dẫn, đầy khí phách về chiến công một con người cụ thể. Họ là tướng trực tiếp cầm quân đánh giặc (như các ông hoàng), nhưng có khi chỉ là những người dân yêu nước bình thường như hình tượng cô Chín, một người lái đò bình thường đã chèo thuyền cả đêm thông báo tin giặc xâm phạm bờ cõi rồi hóa thân...

Ngoài giá trị về tâm linh, hầu đồng còn mang đậm giá trị nghệ thuật. Múa đồng là sự kết hợp giữa nhạc và hát trong khi hầu, thể hiện sự tái sinh (nhập hồn) của các vị thánh vào thân xác của các ông đồng, bà đồng, tạo nên trạng thái phấn khích, ngây ngất để người có thể hợp thể và hòa đồng với thần linh. Trong hầu bóng, chỉ trừ ba giá hầu các mẫu là không có múa, còn lại, tùy theo vị trí, tính cách của từng vị thánh mà có những động tác múa khác nhau. Chẳng hạn, giá hàng quan thường múa kiếm, long đao, kích; giá hàng các chầu bà thì múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá các ông hoàng có múa cung, múa khăn, múa tay không; giá hàng các cậu thường múa hèo, múa lân; giá hàng các cô có múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múa tay không; giá ngũ hổ, ông lốt (rắn) thường mô phỏng động tác của rắn, hổ. Ngoài ra, múa đồng còn tiếp thu nhiều điệu múa dân gian, có cách điệu để phù hợp với tính chất sân khấu tâm linh.

Các bài hát chầu văn được nghe trong lúc người lên đồng vừa hát, vừa múa khi ông hoàng, bà chúa nhập vào. Người hát nhịp phách trong khi dàn nhạc có đàn nguyệt, đàn đáy, nhưng có khi chỉ là một cây đàn nhị. Có nhiều điệu hát như bài "Tam tòa", "Cô Chín sổng", "Cô Bé", "Cô Ba Thoải", " Cô Thượng ngàn", "Quan Hoàng Chín", "Quang Hoàng Mười", "Ông Hoàng Đệ Tam"... Các điệu thường được mượn trong dân nhạc hay hát ả đào...

Nghĩa Dung (Theo Đai Đoan Ket online Ngày : 2009-01-30 08:42)


xxxxxxxxxxx

Giải mã việc nhảy múa trên than hồng hơn 500 độC
Việc đi trên than hồng đã được nhiều người thực hiện, do chân chỉ tiếp xúc với than hồng trong một thời gian nhất định, rồi bước đi tiếp nên việc đi trên than hồng là điều đơn giản...



Học viên lớp cảm xạ học ở Hải Phòng, Tạ Quang Thanh bước qua than hồng như đi trên mặt đất.


Hiện tượng đi trên than hồng của những cảm xạ viên ở Hải Phòng hôm 21/5 đang khiến rất nhiều người quan tâm. Theo các chuyên gia thì hiện nay trên thế giới và Việt Nam việc đi trên than hồng đã được nhiều người thực hiện, do chân chỉ tiếp xúc với than hồng trong một thời gian nhất định, rồi bước đi tiếp nên việc đi trên than hồng là điều đơn giản...

Xuất phát từ tín ngưỡng

Ở một số dân tộc vùng cao của Việt Nam như xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang thường tổ chức những cuộc thi đi trên lửa vào dịp đầu năm mới. Ngày tổ chức lễ hội được các già làng, trưởng họ hay Thầy Tào xem xét kỹ lưỡng, từ mồng 2 - 5 tháng Giêng âm lịch. Để đi trên lửa, người dân đã đốt những đống củi to ngay từ rất sớm, khi củi cháy hết người dân sẽ lấy than hồng rực để rải thành "tấm thảm".

Những người "đùa với lửa" sẽ ngồi "hầu lễ" ngay từ đầu buổi, họ lấy que tre gõ liên tục vào những ống vầu đã chuẩn bị từ trước và Thầy Tào sẽ khấn vái xin "thần lửa" về cùng chung vui với dân làng. Khi "thần lửa" đồng ý, từng đôi một sẽ vào nhảy trên những đống than bằng những bước chân trần. Khi đôi trước nhảy xong, đôi tiếp theo sẽ vào hầu lễ rồi tiếp tục vào nhảy, cứ như thế cho đến hết lễ hội.

Những lễ hội này thường thu hút rất đông thanh niên chưa có gia đình, họ đến đây với mong ước sẽ tìm được người hợp duyên để kết duyên với nhau thành vợ, thành chồng. Đến mùa xuân sau, họ lại dìu dắt nhau đi lễ hội mong thần lửa phù hộ cho tình yêu, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt, ấm no...

Không chỉ ở Việt Nam, mà ở một số quốc gia trên thế giới cũng có những lễ hội đi trên than hồng. Ở Ấn Độ người ta đã có những bằng chứng, chứng minh rằng lễ hội đi trên than hồng đã có từ 1.200 năm trước Công nguyên.

Cho đến nay, những lễ hội kiểu này vẫn được duy trì. Chúng thường gắn với một số tín ngưỡng tôn giáo nào đó, chẳng hạn, mỗi người phải đi trên lửa ít nhất một lần, phải bê cục than hồng trên tay rồi chuyển cho người khác...

Những hành động này nhằm chứng minh cho hành động của những người thực hành nghi lễ là tốt về bản chất, hoặc thể hiện sức mạnh siêu nhiên của thần thánh, cầu mong sự ban ơn của đấng tối cao cho con người ấm no, hạnh phúc.

Chuyện bình thường

TS Vũ Thế Khanh, giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học Ứng dụng UIA cho biết: Việc đi chân trần trên than hồng được những người luyện tập trong bộ môn yoga, cảm xạ học thực hiện là bình thường.

Ở Trung Quốc nhiều người có khả năng biểu diễn nung các thanh sắt nóng hàng nghìn độ để quệt vào các vị trí trên cơ thể. Để có thể có khả năng đặc biệt như thế những người này phải trải qua một quá trình tập luyện rất công phu và kiêng kỵ nhiều thứ.

Theo ông Khanh, các cảm xạ viên ở Hải Phòng có thể đi trên than hồng ở nhiệt độ trên 500 độ C một cách bình thường như đi trên mặt đất nhờ một phần tập luyện khí công, kết hợp phương pháp tập yoga. Nhiều người có thể đi trên than hồng vì khi da chân tiếp xúc với than chỉ trong thời gian ngắn, rồi chân được nhấc lên.


Nhiều người có thể đi trên than hồng vì khi da chân tiếp xúc với than chỉ trong thời gian ngắn, rồi chân được nhấc lên.


Lòng bàn chân chỉ tiếp xúc với than trong khoảng thời gian ngắn như thế, lớp da chân sẽ không chịu sự tác động của than ở nhiệt độ cao. Giống như khi người ta biểu diễn chạy trên các tấm cót dưới nước. Trước khi chạy họ phải vận khí công, chỉ được tiếp xúc nhanh, khẽ chạm trên những tấm cót này để chạy qua một cách nhẹ nhàng.

Theo ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, trong chương trình Chuyện lạ Việt Nam, đã từng có người biểu diễn đi trên than hồng ngay tại trường quay S9 Đài Truyền hình Việt Nam năm 2005.

Sự tin tưởng tuyệt đối là sẽ không bị bỏng cộng với điệu nhảy tốc độ là bí quyết của việc đi trên thảm lửa. Các chuyên gia của Đức đã xác định chính xác được nhiệt độ mà đôi chân trần phải chịu trong một lần tổ chức lễ hội của thổ dân đảo Fiji.

Lúc cao nhất, nhiệt độ dưới bàn chân người nhảy múa lên tới 80 độ C trong khi than nóng những 330 độ C. Ở đây chúng ta cần xét hai yếu tố. Thứ nhất, xét trên trạng thái cơ thể, không phải lúc nào cơ thể chúng ta cũng có thể làm những việc khác thường như thế được.

Mỗi người có khả năng khác nhau như một số người có thể dùng lưỡi liếm dao đã nung đỏ. Ta có thể gọi đó là trạng thái xuất thần của cơ thể. Thứ hai, trước khi họ thực hiện cần phải đọc một câu thần chú, xin phép một ai đó để thực hiện và phải làm một số động tác như múa may quay cuồng, trạng thái lâng lâng, để cơ thể trở về vô thức.

Ông Hải cho hay, ông đã từng tự tay mình bốc than hồng lên để truyền từ tay nọ sang tay kia một cách bình thường mà tay không bị bỏng. Và trường hợp những người đi trên than hồng với nhiệt độ trên 500 độ C cũng vậy.

Việc chuẩn bị về mặt tinh thần, nâng khí lên cơ thể và tập luyện về mặt sức khoẻ, quyết tâm bước qua những đống than hồng là những điều cần thiết cho mỗi người. Thực ra đây cũng là việc không có gì lạ lắm. Nếu chúng ta quan sát kỹ khi người đi trên than hồng, tiết diện bàn chân chỉ chạm nhẹ với than hồng rồi nhấc chân lên để bước đi tiếp.

Như thế có thể bước đi bình thường trên mặt than hồng mà không sợ bị bỏng chân. Chúng ta đều có thể bước trên than hồng nhưng không thể đứng một chỗ, như thế chắc chắn chân sẽ bị nướng thành than.

BS Đặng Văn Quế, nguyên chuyên viên pháp y Bệnh viện Việt Đức cho biết, việc đi trên than hồng không để nhằm mục đích chính là chữa bệnh ra mồ hôi chân hay chân bị hôi thối. Việc đi trên than hồng giúp cho con người ta khỏe mạnh, rèn luyện tinh thần, chiến thắng mọi khó khăn trong cuộc sống.

Khi ai đó đi được trên than hồng là kết quả của quá trình tập luyện. Chúng ta biết rằng việc một số người bị bệnh ra mồ hôi, hôi thối tay chân là do bị tổn thương thần kinh, stress, cũng có thể là do tuyến cường gián đoạn... điều này chúng ta có thể điều trị bằng các phương pháp nội khoa. Nhưng nhờ quá trình đi trên than hồng cơ thể sẽ chế ngự được những thứ bệnh tật liên quan đến hệ thần kinh ở ngoài da.


Về Đầu Trang Go down
kiss
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tự truyện của nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài   Mon Apr 04, 2011 9:15 pm

Tự truyện của nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài


TÌNH NGƯỜI ÂM DƯƠNG


Người ở thiên thu

Có lẽ đấng tạo hóa bày đặt ra những hiện tượng huyền bí mà con người tóm gọn lại gọi chung vào hai chữ "tâm linh". Những nghịch lí và cả tính logis trong chuyện này như một trò chơi ú tim để cho con người cứ phải tìm phải kiếm…
Hơn một lần tôi hối tiếc rằng giá như bao nhiêu năm qua, mỗi lần tôi làm công việc tìm mộ thất lạc cho dù những lần tìm mộ đó thành công hay thất bại, tôi đều ngồi viết lại tất cả thì bây giờ những câu chuyện của tôi sẽ được trích trong cuốn sổ “ Nhật kí làm việc”. Nhưng tiếc rằng……
Hơn mười năm qua tôi đã tìm được bao nhiêu ngôi mộ? Tôi đã tiếp cận được với bao nhiêu vong hồn để tìm hài cốt? Tôi không nhớ và tôi cũng chẳng ý thức rằng mình phải nhớ.
Tôi chỉ biết tìm và tìm…. Ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm lại nối năm, thông tin nối tiếp thông tin…
Với tôi trải nghiệm là tất cả.
Cuộc sống của con người là bức tranh muôn màu. Công cuộc tìm hài cốt thất lạc của tôi cũng thế, tôi đã phải trải qua bao nhiêu gian truân sóng gió trong công việc nhiều khi tưởng chừng không thể vượt qua. Bao nhiêu gia đình là bấy nhiêu liệt sĩ, mỗi một liệt sĩ dù tôi có giúp gia đình tìm được mộ hay không đều là một câu chuyện dài giúp tôi có thêm kinh nghiệm, như một bài học đã qua để rồi ngày mai tôi lại có thêm những bài học mới, bài học trong cuộc đời của một nhà ngoại cảm như tôi.
Tôi hoàn toàn mất hẳn khái niệm sự sống và cái chết của con người.
Với tôi tất cả là hiện hữu, là hoàn toàn có thực!
Tôi viết lại câu chuyện này như một món quà dành cho chính tôi khi đang làm công việc này và tôi muốn lưu tặng gia đình chị Oanh, anh Mạnh và tôi sẽ gửi tặng người thân, bạn vong niên, những người tri kỉ thân thiết của tôi đã phần nào hiểu về tôi. Câu chuyện tôi kể ra đây là một trong những câu chuyện tôi nhớ nhất, ấn tượng nhất. Người liệt sĩ ấy đã giúp tôi có thêm hiểu biết, dạy tôi trưởng thành lên thật nhiều trong công việc. Tôi hiểu rõ hơn về thế giới tâm linh, nơi có những con người mà chúng ta quen gọi là linh hồn đang tồn tại ở một thế giới mà tôi vẫn quen gọi là thế giới âm, thế giới bên kia.
Trong con mắt tôi, con người ở cái thế giới thứ hai họ đang tồn tại, sự tồn tại ấy thực chất là gì? Cần phải có cái nhìn như thế nào đối với sự tồn tại mà tôi đang hàng ngày chứng kiến? Trăn trở của tôi giống như một mớ chỉ thắt nút rối tung thì giờ đây cùng với thời gian mọi chuyện đang dần sáng tỏ.
Công lao này là của những con người ở cõi bên kia, con người cõi bên kia vẫn đang được người ở bên này quen gọi là ma, là linh hồn, là đồng cốt, là vong, là cô hồn… nhưng tôi hiểu đó chỉ là những danh từ mà người sống đặt cho những người đã khuất. Những người đó đã giúp cho tôi viết lại được phần nào câu chuyện mà tôi quen gọi họ là người âm.
Với tôi, người âm đó cũng là con người như tất cả chúng ta.
Tôi mang ơn họ bởi họ là những người thầy dẫn dắt tôi khám phá thế giới huyền bí. Trải nghiệm này đã cho tôi nhận thức ra rằng, thế giới tâm linh là một kho tàng bí ẩn, để cho mỗi chúng ta khám phá và chiêm nghiệm, và hơn hết bất cứ nơi đâu trên thế giới này tôi đã tìm ra được “nguồn sống bất tận” từ thế giới bên kia…

Từ chuyện liệt sĩ Lê Hữu Hạc…

Đó là khoảng thời gian cuối năm 2008.
Một buổi tối như bao nhiêu buổi tối khác. Sau một ngày làm việc vất vả, tôi lại phải tiếp tục với công việc của mình. Bỗng có tiếng chuông điện thoại reo, tôi cầm máy :
- A lô, tôi nghe!
Một giọng phụ nữ trầm ấm vang trong máy. Chị xưng tên và địa chỉ của chị lẫn tên của liệt sỹ mà tôi đã nhận tìm cho gia đình chị. Chị hỏi tôi còn nhớ trường hợp của gia đình chị không? Tôi không thể nhớ rõ ràng trường hợp này vì chị gọi rất bất ngờ nên cứ ú ớ nhớ nhớ, quên quên. Tuy vậy tôi liền hỏi chị :
- Có vấn đề gì không chị?
Chị thông báo cho tôi biết ngôi mộ mà tôi tìm cho gia đình chị đã được gia đình chị mang mẫu hài cốt đi giám định AND và kết quả là….không chính xác! Chị nói thêm :
- Em dẫn tìm mộ từ xa, các đặc điểm em nêu khi gia đình đi tìm là rất chính xác. Do vậy thật lòng bây giờ chị cũng chẳng hiểu ra làm sao nữa.
Chị chào tôi rồi cúp máy.
- Anh Hải đâu? Lục tìm ngay hồ sơ liệt sỹ Lê Hữu Hạc!
Đã biết tính tôi, Anh Hải lục tìm hồ sơ theo yêu cầu của tôi. Một lúc sau Anh Hải đưa tập hồ sơ cho tôi và đứng bên cạnh chờ đợi. Con bé đã quá quen chịu đựng với mọi sự vui buồn, nóng giận bất thường trong công việc của tôi. Nó luôn là người hứng chịu. Tôi bắt Anh Hải phải nhớ cả liệt sỹ, nhớ cả người nhà liệt sỹ và mô tả nhanh để giúp tôi hình dung ra được trường hợp ấy…. Nó lắp bắp, lí nhí trong cổ họng :
- Dạ….thưa…nhiều trường hợp quá nên con không thể nhớ nổi đây là trường hợp nào cả ạ!
Chỉ chờ có thế, tôi nổi xung với con bé. Nó đứng nép vào một góc nhà chịu trận cứ như thể kết quả giám định AND không đúng là do lỗi của nó mà nên vậy.
Lục tìm lại toàn bộ hồ sơ và đọc kỹ lại bản báo cáo kết quả tìm mộ liệt sỹ của gia đình tôi mới hiểu là : Chị Lê Thị Kim Oanh là em gái liệt sỹ Lê Hữu Hạc. Gia đình trước đây đã nhờ nhà Ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy và một cô giáo Mai ( cũng là nhà ngoại cảm ) nào đó tìm mộ cho liệt sỹ Hạc. Hai nhà ngoại cảm Bảy và Mai chỉ vào hai ngôi mộ khác nhau trong nghĩa trang Lộc Ninh - Bình Phước, do vậy gia đình chị Oanh đã lấy mẫu cả ở hai ngôi mộ mang đi giám định AND. Trong khi chờ đợi kết quả giám định AND, gia đình chị Oanh đã đến văn phòng của tôi đăng ký áp vong. Sau khi áp vong, gia đình chị Oanh nhờ tôi hướng dẫn tìm mộ anh Hạc.
Sau khi nhận được thông tin từ liệt sỹ Hạc, tôi kiểm tra thấy thông tin là chính xác nên tôi nhận lời với gia đình chị Oanh là sẽ hướng dẫn qua điện thoại cho gia đình chị Oanh đi tìm mộ liệt sỹ Lê Hữu Hạc. Theo sự hướng dẫn của tôi, ngôi mộ tôi chỉ trùng với ngôi mộ mà cô Mai đã chỉ trước đó. Nhưng bây giờ thì kết quả giám định AND cho thấy cả hai ngôi mộ đều không phải hài cốt của liệt sỹ Lê Hữu Hạc.
Nhận được thông báo kết quả từ chị, tôi thật sự choáng váng!...


Trong lòng tôi trào lên nỗi cay đắng lẫn giận hờn chính bản thân mình.
Trời đất ơi! Sao lại có chuyện như thế này! Trong sự dằn vặt, tôi mâu thuẫn với bản thân mình. Tôi không còn hiểu nổi chính con người của tôi nữa. Tôi cố thuyết phục bản thân tôi rằng tôi làm công việc này cũng vì ước muốn mong mang hạnh phúc đến cho người khác. Hạnh phúc của mọi người là hạnh phúc của tôi. Liệu tôi còn đủ can đảm để vượt qua sự cố tương tự như sự cố này không? Vì mang danh một nhà ngoại cảm và chính tôi là người đã chỉ mộ anh Hạc cho gia đình liệt sỹ mà bây giờ tôi cũng chẳng thể hiểu nổi cái gọi là “ ngoại cảm “ của tôi nữa.
Tôi phải nghĩ làm sao? Tôi phải hiểu thế nào?
Trải nghiệm từ chính bản thân mình, tôi tâm nguyện sẽ cho ra đời cuốn tự truyện mà tôi đã tâm huyết miệt mài viết ra cuốn sách đó. Tôi sẽ nói cho mọi người nghe về những hiểu biết của tôi với thế giới người âm và ngược lại. Tôi muốn chia sẻ cùng tất cả mọi người trong thế gian này những điều tôi thấy, những điều tôi biết. Cả những trăn trở cùng những thắc mắc, bởi nhiều năm tiếp cận với thế giới thứ hai tôi đã nhận ra rằng tất cả những buồn rầu và đau khổ tột cùng sẽ rời xa khi con người đạt đến độ khai sáng tâm linh. Nhưng giờ đây tất cả dường như lại không phải như vậy, trong trường hợp này tôi biết hiểu làm sao? Có ai hiểu cùng tôi, ai sẽ chia sẻ với tôi, hay chỉ có mình tôi lạc lõng giữa cuộc đời này?
Người đầu tiên mà tôi nhớ đến để “ bám víu “ là anh Vũ Thế Khanh – Tổng giám đốc liên hiệp khoa học tin học ứng dụng ( UIA ). Tôi gọi điện cho anh và vừa kể đầu đuôi vừa ấm ức khóc :
- Như thế là làm sao hả anh? Có lẽ….em…xin thôi…
Trong sự ấm ức, bức xúc tôi gọi điện thoại cho nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải và nhà báo Đinh Trần. Tôi khóc lóc và…..ăn vạ :
- Có lẽ cháu bỏ…việc thôi chú ạ.
Hiểu và thông cảm cho suy nghĩ của tôi, cả ba người đều an ủi, động viên tôi hãy tiếp tục an tâm công tác.
Ngay sau đó chú Nguyễn Phúc Giác Hải và chú Đinh Trần cùng xuống văn phòng tôi để nghiên cứu kỹ trường hợp này. Chúng tôi cùng đi đến thống nhất là sẽ bắt đầu từ việc gọi linh hồn liệt sỹ Hạc lên, cho áp vong vào thân nhân liệt sỹ để xác đinh nguyên nhân. Việc này rất cần có sự đồng thuận của gia đình liệt sỹ. May sao, gia đình chị Oanh rất quyết tâm đi theo hướng chúng tôi đã vạch ra. Sau nhiều lần áp vong đi áp vong lại, vong anh Hạc đã về nhập vào hai người em trong nhà. Anh Hạc cho biết ngôi mộ tôi và cô giáo Mai cùng chỉ đúng là có hài cốt của anh, nhưng cốt còn rất ít lẫn lộn với cốt của đồng đội…
Xét về mặt tâm linh thì có thể chấp nhận thông tin của liệt sĩ, nhưng xét về khoa học thì khả năng của tôi trong trường hợp này là không chính xác. Từ việc tìm kiếm này, gia đình liệt sĩ Hạc và tôi có nhiều thời gian làm việc với nhau nên các chị em gái của liệt sĩ như đã hiểu về tôi hơn.
Tôi cảm nhận được tình cảm của các chị dành cho mình.
Nhưng cho đến tận bây giờ, mỗi lần nghĩ về câu chuyện tìm mộ anh Hạc tôi không khỏi băn khoăn, tôi không biết nên giải thích với chính lòng mình như thế nào cho thanh thản. Công việc hàng ngày ở đây tiếp xúc với hàng trăm thân nhân liệt sỹ mỗi ngày, tôi vẫn biết có rất nhiều trường hợp không thể tìm được mộ, và tôi hiểu trong chiến tranh thì chẳng có điều gì là không thể xảy ra…
xxxxxxxxxxxxxx

Một lần, tôi bị ốm khá nặng, nằm trơ trọi một mình ở văn phòng nghĩ linh tinh, ứa nước mắt vì bỗng thấy cô đơn cô độc. Tôi nghĩ đến cuốn sách “ Chuyện về thế giới tâm linh” của nhà văn Trần Ngọc Lân.
Ông viết về các nhà ngoại cảm và những đầu đề kêu như chuông đánh, nào là biệt tài ở giữa chúng ta, nào các nhà ngoại cảm Việt Nam….
Người ta chỉ biết đến các nhà ngoại cảm, những người nổi tiếng ấy vào những lúc tìm mộ, còn cuộc sống thường nhật họ thường tránh tiếp cận, vì nhà ngoại cảm là những người lập dị, người bất thường, là những ông đồng bà cốt..v.v.v…
Lúc này, tôi mới thấy trơ trọi, bơ vơ và lạc lõng làm sao.
Tôi tủi thân quá độ. Trời cao đất dày ơi! Thánh thần ơi!…Tôi là một con người, tôi chỉ là một con người như bao người khác.
Đúng lúc tủi thân nhất ấy, người em gái của liệt sĩ Hạc đến thăm. Tôi bám chặt lấy chị Oanh:
- Chị Oanh ơi, em muốn về sống ở Quảng Ninh.
Trong cơ quan lúc thì tôi kêu việc này với sếp, lúc thì tôi trình bày cái kia. Có lần sếp Khanh phải gắt lên:
- Thế bây giờ “ người thời tiết “ muốn gì? Có phải chiều cô hơn “ chiều vong “ nữa không đây?
Tôi xấu hổ chẳng nói gì chỉ nghĩ: “thôi sếp thông cảm cho em đi, em cũng chẳng hiểu nổi em nữa mà”
Giờ tôi mới thấm câu đùa của anh Khanh “ Nhà ngoại cảm là người nhạy cảm, tâm hồn thì mong manh như lá liễu, tính tình thì sớm nắng, chiều mưa, trưa nổi bão”
Khi tôi khỏi ốm cũng là lúc chứng minh cho chị Oanh thấy nhà ngoại cảm là người có tính khí bất thường mọi lúc mọi nơi, tóm gọn là “ người lập dị” . Tôi chẳng về Quảng ninh nữa. Chị vui vẻ trách tôi:
- Tôi bắt đền cô vì phải lo dọn phòng cho cô về ở đây này.
Chị coi tôi như em gái, đôi khi tôi cũng làm nũng chị dài dài.
Ngẫm mới thấy “Tái ông mất ngựa” là chuyện thật
Chị bắt đền tôi tìm giúp một trường hợp liệt sĩ của gia đình anh Mạnh hàng xóm nhà chị.
Tôi vui vẻ nhận lời.

... đến liệt sĩ Lương Xuân Tách.

Lần đầu tiên gặp anh Mạnh, đó là một người đàn ông trên 50 tuổi cao lớn. Chị Oanh giới thiệu anh với tôi. Ngồi bên cạnh anh Mạnh là anh Cường cùng công tác với anh Mạnh. Anh Cường nói chuyện với tôi khá lâu, trong câu chuyện tôi cảm nhận được tình cảm của anh Cường và sự đồng cảm sâu sắc của anh đối với công tác tìm mộ liệt sĩ.
Anh Mạnh nói oang oang:
- Cô ơi! Em đã đi tìm Bố em nhiều lần lắm rồi mà chưa tìm ra. Có bệnh thì phải vái tứ phương, nhiều thày nhiều bà phán quá làm em loạn cả đầu, giờ chẳng biết đi đâu nữa chỉ biết nhờ cô thôi đấy, cô giúp gia đình em với.
Nghe anh nói đã thấy đầy chất lính. Chị Oanh bảo :
- Trường hợp của chú Mạnh, cô nhất định phải tìm giúp chú ấy đấy. Chú ấy là con trai duy nhất của liệt sỹ đấy.
Tôi nói với các anh chị chuẩn bị cho một số giấy tờ của liệt sĩ thì anh Mạnh đưa cho tôi một loạt giấy tờ liên quan đến bố anh. Hóa ra do anh Cường cũng có người anh trai là liệt sĩ nên các anh khá rõ về đường đi nước bước trước khi tìm liệt sĩ cần phải chuẩn bị những giấy tờ gì.
Xem xong hồ sơ về liệt sỹ, tôi tư vấn thêm cho anh Mạnh, hẹn ngày đến văn phòng áp vong mời hương hồn bố anh về để gặp. Sau cuộc trò chuyện, tôi cảm nhận được sự đồng cảm, tình thương của chị Oanh và anh Cường đối với anh Mạnh - người con trai liệt sĩ.
Rồi ngày áp vong cũng đến. Anh Mạnh cũng như bao gia đình khác tới văn phòng làm lễ áp vong. Vong hồn liệt sĩ về nhập vào người cháu trai nhưng chỉ khóc rồi đi mất, không nói điều gì.
Một chút thôi, thông qua vong hồn liệt sĩ tôi biết vợ liệt sĩ còn sống nhưng đã đi tái giá. Có điều gì vướng mắc ở chỗ này? Tôi trộm nghĩ có thể là vợ của liệt sĩ không tới dự buổi cầu hồn này nên liệt sĩ không nói.
Tôi đã thấy nản. Song tôi cảm nhận được sự quyết tâm của con trai và con dâu của liệt sĩ, họ thất vọng khi không áp được vong nhưng ánh mắt hi vọng vào tôi của họ mà tôi đọc được làm cho tôi cứ thấy khổ sở và tội nghiệp cho họ. Tôi khuyên họ tiếp tục áp vong lần tiếp theo và không quên dặn anh con trai nhớ đưa mẹ anh đi dự buổi cầu vong lần tới.
Thời gian xoáy tôi vào công việc, tôi vẫn chưa sắp được lịch áp vong cho gia đình anh Mạnh lần tới. Chị Oanh lại gọi điện giục tôi về việc của nhà anh Mạnh, chị hỏi hay tôi mời liệt sĩ về gặp có được không. Vâng! em sẽ nhớ! Tôi xuề xòa.
Ngay tối hôm đó, trước khi vào việc tiếp xúc với các vong hồn liệt sĩ, tôi lưu tâm trường hợp liệt sĩ của nhà anh Mạnh. Mở tập hồ sơ, bố anh Mạnh không có ảnh để cho tôi nhận diện.
Tôi bắt đầu mời liệt sĩ về để tiếp cận. Mãi cũng không thấy liệt sĩ xuất hiện, tôi cố gắng chờ đợi, thời gian cứ chậm trãi trôi qua. Căng thẳng lẫn chờ đợi khiến người tôi mệt mỏỉ, thất vọng vì đêm nay không làm được việc gì tôi bỏ vào phòng ngủ. Vậy mà nằm mãi tôi thể chẳng ngủ được, thay vào đó nằm nghĩ ngợi linh tinh. Tự nhiên, tôi thấy sợ phát run lên vì một mình nằm vong vóng ở cái văn phòng giữa cánh đồng, bốn bề vắng lặng như chùa bà Đanh thế này.
Tôi vùng dậy, ra phòng làm việc định bụng bật thêm điện lên cho sáng để đỡ sợ, thì đập vào mắt tôi là một người đàn ông cao nhưng gầy, nhất là khuôn mặt, ánh mắt sắc lẹm, lông mày khá rậm, tuổi trạc 27, 28…
Tôi run rẩy cuống cà kê:
- Dạ…dạ…thưa chú là…chú là…
- Tôi chưa được về nước đâu, vẫn ở chỗ chôn lần đầu đấy, xương cốt còn ít lắm, khó tìm…
Tôi bủn rủn hết cả người. Tiếng người âm vang lạnh lùng, giọng nói gần như quát lại thêm phần nghiêm nghị. Họng tôi cứng lại, quýnh quáng chẳng nói được câu nào, đồng thời người kia cũng biến mất…
Thế là chẳng kịp hỏi thêm được gì hồn vía tôi tự nhiên bay hết lên chín tầng mây.
Tôi chạy vào phòng ngủ, lại chạy ra phòng làm việc, nhà tắm, ngoài sân điện bật vung lên.
Ôi sợ quá! Thỉnh thoảng lại có liệt sĩ xuất hiện kiểu này sợ chết đi được…Đã nhiều năm tôi vẫn quen với cảnh một mình gặp gỡ các vong giữa đêm để được nghe người âm tâm sự, nhưng đêm nay sao cái sợ ở đâu lại kéo đến tràn ngập trong con người tôi đến thế này?
Có những khi mải mê tiếp cận với người âm trong đêm để có thông tin tìm hài cốt, những câu chuyện li kì, dí dỏm người âm kể cho tôi nghe khiến tôi quên hết thực tại. Tôi quên mất tôi là con người đang sống ở trần gian. Một lần tôi tiếp cận với một liệt sĩ còn rất trẻ, anh nói khi anh hi sinh tuổi tròn 18, nhìn mắt anh ngân ngấn lệ tôi thương quá nên nói đùa cho anh đỡ buồn.
- Anh đẹp trai thế kia, các cô gái hồi đó nhìn thấy anh đã say anh như cù rồi anh nhỉ?
- Nghĩa là sao? ( anh tròn mắt hỏi tôi) như chợt hiểu ý anh tiếp lời:
- Anh chưa yêu ai, yêu có thích không?
Anh chờ câu trả lời của tôi nhưng lúc ấy tôi bí từ không biết nói với anh thế nào, có lẽ nhìn tôi đang ngố ngọng trước câu anh hỏi, mặc dù tôi đã trở thành bà nội mà không trả lời được câu hỏi của anh lên anh bò lăn ra cười, tôi nhìn anh cười mà không sao nín cười được nên cũng khanh khách cười theo và hét lên.
- Anh ơi, đừng cười em nữa, em xấu hổ lắm, em không biết tả yêu.
Sau tiếng cười nói một mình của tôi khi đó giữa đêm, mọi người trong nhà thức giấc hết, họ chạy lại phòng tôi làm việc ngơ ngác nhìn, họ ngỡ tôi bị khùng.
Còn tôi tới khi nhìn thấy mọi người mới giật mình trở về thực tại. Vì mặc cảm với khả năng lập dị này nên tôi thường sống một mình nhiều hơn. Mà sao cuộc đời tôi lại gắn cái với công việc chẳng giống ai thế này… Tủi phận, thương thân, nước mắt tôi lại đầm đìa ướt gối.
Tôi chẳng giống ai, cũng chẳng ai giống tôi. Chồng con bạn bè người thân cứ thấy mình như xa lạ, Tôi tự biết được mình là người như thế nào nên cố gắng sống cách biệt để khỏi ảnh hưởng tới người khác. Măc dù mọi người thân vẫn yêu thương tôi, tôn trọng tôi, nhưng tôi vẫn quá mặc cảm với chinh công việc và con người của chính tôi. Nhiều khi tôi trộm nghĩ hay phải chăng kiếp trước tôi là con nợ của nhân gian? Kiếp này con người tôi mới sống trong tình trạng nửa nọ nửa kia thế này…

Ngày ngày đầy ắp là công việc, việc này chưa xong việc kia đã tới. Việc nhà anh Mạnh phải áp vong lại lần nữa chứ biết sao đây. Tôi đành nhắn chị Oanh nhắc anh chăm thắp hương để vong hồn bố anh về gặp để còn xin đi tìm mộ.
Ánh mắt, gương mặt của liệt sĩ ám ảnh tôi…
Một ngày của tháng 11/2009, trước khi đi công tác Quảng Ninh, tôi điện cho chị Oanh vì lúc đó tôi chẳng nhớ nổi tên anh Mạnh nữa, tôi nhắc chuẩn bị cho tôi một số người để tối hôm sau tôi tranh thủ đến nhà áp vong liệt sĩ luôn.
Chiều hôm đó sau khi xong việc, tôi đến nhà chị Oanh. Buổi tối, tôi và chị Oanh cùng sang nhà anh Mạnh. Tôi lên thẳng phòng thờ khấn vong liệt sĩ để trình bày việc tôi đến nhà. Bất chợt, tôi nhìn thấy hai người âm về. Một người tôi nhận ra là liệt sĩ, lúc ẩn lúc hiện họ nói chuyện với nhau, nghe qua câu chuyện, tôi biết người kia là chị gái của liệt sĩ. Tôi hỏi anh Mạnh, anh xác nhận thông tin, tôi mừng quá nói gia đình anh tập trung ngồi vào phòng nhanh lên để tôi còn mời liệt sĩ về nhập vào một ai đó. Kết quả vong liệt sĩ nhập vào cháu gái ở quê mới ra khóc ầm ầm. Sau đó đòi uống rượu rồi hút thuốc. Liệt sỹ nói chuyện, đủ các thứ chuyện… đến khi anh Mạnh nhắc đến mẹ anh tức là vợ của liệt sĩ thì liệt sĩ mắng té tát không cho nhắc đến cái con người “ bạc tình bạc nghĩa”. Tóm lại là liệt sĩ nói vợ mình không ra làm sao cả.
Tôi bắt đầu thấy bực mình nghĩ ông liệt sĩ này sao lại hẹp hòi thế, sao ông lại vẫn còn ghen ghét đến mức quá tệ như thế được. Liệt sĩ đã hy sinh lâu lắm rồi, khi đó người vợ còn rất trẻ sao ông không thông cảm khi vợ đi bước nữa. Vì không muốn gia đình và liệt sĩ lạc đề, tôi chen vào hỏi liệt sĩ về phần mộ. Mặc dù liệt sĩ đã chỉ chỗ nằm đằng trước, đằng sau, phải, trái có những cái gì và hy sinh như thế nào nhưng vì tôi muốn chắc chắn lên hỏi rất kĩ khu vực hi sinh. Liệt sĩ nói đi nói lại với tôi chỗ liệt sĩ nằm nhưng liệt sĩ cứ chắc như đinh một câu ở chỗ đó có suối nhưng không có cá, tôi hỏi mãi địa danh hi sinh liệt sĩ nổi cáu.
- Đã bảo hy sinh ở cánh đồng Chum mà hỏi làm gì lắm thế!
Tôi bắt bẻ liệt sĩ vì trong trích lục ghi liệt sĩ hy sinh ở Xiêng Khoảng, liệt sĩ đã quát ầm ầm khiến mọi người sợ rúm, liệt sĩ bảo tôi:
- Tôi không việc gì phải báo cáo với cô là tôi nằm ở chỗ nào, đầu cô còn xanh lắm, tôi nói với con trai tôi, Cánh đồng Chum là chỗ bố nằm…
Rồi liệt sĩ quay về phía anh Mạnh.
- Con ơi, Mạnh ơi con nghe bố nhé cứ đi rồi bố sẽ chỉ cho, không phải tìm bố đâu sẽ có người tìm bố, con không được nói đưa bố về, khi bố về sẽ có cờ dong trống rước, chính phủ hai nước đưa đón bố về nghi lễ hoành tráng ấy chứ. Con hứa với bố, con sẽ đi vào lúc nào, phải đi đấy nhé, đi rồi bố chỉ cho…
Nghe đến thế tôi tức quá, liệt sĩ nói thế này thì tìm làm sao được, con cái đi tìm hết cả hơi bao nhiêu năm trời, thầy bà tam tứ phen còn chẳng thấy mộ. Vậy mà ông liệt sĩ về cứ nói thánh tướng thế này thì tìm làm sao được, đã thế còn cứ bảo con đi…
Dù rất cáu trong lòng nhưng cố nhịn hạ giọng nịnh liệt sĩ, thì người ta vẫn nói chiều như chiều vong mà, công việc bắt buộc tôi phải có tính nhẫn nại, nhưng lần này liệt sĩ coi như không có tôi cứ hò hét con cháu đi tìm, tôi nháy anh Mạnh thay đổi chiến thuật.
Anh Mạnh vào nịnh hỏi lại bố nơi ông hy sinh và trường hợp hy sinh của ông thì ngoắt một cái, giọng ông ráo hoảnh:
- Thì sang đó ở đơn vị buồn nên buổi tối bố đi vào bản chơi nên bị phỉ nó bắn bị thương chạy rồi chết, có người Lào phát hiện chôn cất bó tăng đắp mộ bố to lắm sang là thấy, đã bảo là việc gì phải tìm.
Tôi lại lăn vào hỏi.
- Bác đi cùng ai, bác bị bắn phải có người biết chứ, thế đơn vị không có kỉ luật à? Thời chiến làm sao mà vào bản chơi được, bác toàn nói dối, hay là bác không muốn về thì thôi vậy…
Rồi tôi hạ giọng:
- Cháu nói cho bác nghe này, bác đừng có lừa cháu. Thứ nhất người Lào mà chôn bác thì bộ đội qui tập bác từ lâu rồi. Thứ hai người Lào không bao giờ đắp mộ cả, bác đang nói dối. Nếu bác không muốn cho tìm thì anh Mạnh cũng thôi luôn, đi tìm làm sao được, nghe lời bác mà đi như thế thì chỉ có mà về không thôi, bác nói như thế này ai mà tin được, mà tin bác thì có mà chết. Cháu có nhiều kinh nghiệm xương máu lắm rồi, thôi cháu chán nghe bác nói linh tinh lắm rồi, mời bác về âm cho…
Liệt sĩ quát um lên và bảo tôi không có quyền đuổi liệt sĩ vì đây là nhà của con của liệt sĩ chứ không phải nhà của tôi, rồi bảo tôi là loại trẻ ranh, không thèm nói với tôi nữa. Tức quá đi mất! Tôi lôi tay anh Mạnh ra không cho nói chuyện với liệt sĩ nữa. Anh Mạnh theo tôi đi ra nhưng liệt sĩ lao vào anh Mạnh kéo lại gào lên thảm thiết:
- Mạnh ơi! Mạnh ơi! con nghe bố đừng bỏ bố con ơi, con đừng nghe người ta, nghe bố đi con ơi đừng bỏ bố con ơi…Mạnh ơi…
Tôi kéo anh Mạnh theo, đẩy anh xuống cầu thang một cách quyết liệt rồi tôi quay lại cho vong xuất hẳn khỏi người cháu gái.
Tôi ái ngại nhìn người cháu gái trở lại trạng thái ban đầu sau một hồi gào thét, tóc tai rũ rượi.

(tiep theo ...)


Tối hôm ấy khi về nhà chị Oanh, tôi và chị bàn luận trường hợp bố anh Mạnh rất lâu. Cả hai chị em chỉ biết đưa ra những câu hỏi bỏ ngỏ.
Phải rất khuya tôi mới đi nằm nhưng tôi không sao chợp mắt được. Nghĩ lại chuyện áp vong tối nay, tôi tức ông liệt sĩ này đến phát điên lên.
Lần gọi này cũng không có mặt vợ liệt sĩ. Rất may liệt sĩ về nhập vào người cháu gái, liệt sĩ nhập về khá lâu. Theo lời liệt sĩ thì người vợ của bác là con người vô tình vô nghĩa và còn nhiều lời lẽ rất nặng nề mà tôi cảm thấy ông thành kiến quá. Tôi thúc anh Mạnh hỏi thật kĩ về trường hợp hi sinh, nơi hi sinh cũng như đặc điểm ở nơi có mộ để đi tìm đưa về. Như hiểu được ý nghĩ của tôi vậy mà liệt sĩ nói với con mình việc đi tìm hài cốt của liệt sĩ dễ như thể đi lấy mộ về vậy. Tại sao liệt sĩ không chịu hiểu cho tôi đi “tìm mộ” khác với đi “lấy mộ” rất nhiều. Nếu như tìm dễ dàng như liệt sĩ nói thì từ trước tới nay người ta sẽ dùng câu nhà ngoại cảm đi lấy mộ chứ chẳng ai lại còn phải nói nhà ngoại cảm đi tìm mộ, từ “lấy” và từ “tìm” khác nhau một trời một vực mà thưa liệt sĩ, tại sao liệt sĩ cứ làm khó cho tôi và gia đình đến như thế này. Vẫn biết rằng công việc gọi vong liệt sĩ lên để hỏi thông tin đi tìm mộ đã cho tôi những bài học đắt giá. Thông thường mỗi gia đình gọi vong linh lên tôi không can thiệp vào việc của họ, tôi chỉ dám hướng dẫn thân nhân cách tiếp xúc và lấy thông tin để phục vụ cho việc tìm hài cốt. Chỉ khi nào tôi thấy thông tin không ổn, tôi mới vào cuộc để hỏi liệt sĩ. Tất nhiên tôi đã hỏi là phải nói tới từ “chuyên nghiệp” và các câu hỏi của tôi luôn luôn mang tính “lập luận”, vì thế cuộc nói chuyện của tôi và liệt sĩ thành ra căng thẳng như thể cãi nhau, nhiều khi cả hai cùng đánh thừng đánh chão, có những lúc tôi như người cãi vã với liệt sĩ, song tôi vẫn phải “Nịnh như nịnh vong”. Cuộc gọi vong tuy thành công là gọi được vong về để gia đình gặp gỡ, nhưng thông tin của vong đưa ra không đủ niềm tin cho việc tìm mộ, ôi những người âm, họ khó hiểu!
Chẳng còn hiểu nổi người âm ra làm sao nữa.
Liệt sĩ này là người ích kỉ, đã hi sinh rồi thì phải thông cảm cho phụ nữ chứ! Ai lại vẫn còn ghen kinh khủng đến thế. Liệt sĩ nói vợ khiếp quá đi mất, nghĩ lại những lời liệt sĩ nói vừa thấy sợ lại vừa thấy tức. Ai lại gọi người đã từng là vợ mình là “Cái con mẹ ấy” bao giờ.
Tôi cũng chẳng hiểu liệt sĩ nghĩ sao mà cứ luôn mồm “ Con không phải đưa bố về, con cứ tìm được là bố có nhà nước lo, bố là người nhà nước, bố hi sinh vì nhiệm vụ quốc tế cao cả, bố về là nhà nước đưa rước bố về chứ không cần con đưa bố về, cả hai nước Việt - Lào tiễn đưa và tiếp đón bố về trong nghi lễ long trọng lẫn tưng bừng ấy chứ. Bố về là phải hoành tráng ấy chứ làm sao con phải đưa bố về…”
Bằng ấy câu của liệt sĩ cứ văng vẳng bên tai tôi, chẳng biết ông liệt sĩ này có hiểu được nỗi nhọc nhằn vất vả của những người đi truy tìm cũng như qui tập liệt sĩ hay không mà liệt sĩ nói cứ nhẹ như lông hồng thế không biết.
Như anh Mạnh nói thì khu vực chôn cất liệt sĩ ngày xưa, bây giờ là cánh rừng hoang vắng rậm rạp, chỗ liệt sĩ nằm sau này bị bom chà đi đánh lại, đội qui tập đã đến tọa độ đó đào bới mãi không thấy gì, không chắc có còn hài cốt của liệt sĩ hay bom bỏ bay hết cả rồi nên liệt sĩ nói thế. Chỉ mỗi việc tìm kiếm thông tin của liệt sĩ mà gia đình anh Mạnh đã phải đi nhờ hết thầy nọ, cô kia, vậy mà cho tới giờ vẫn chưa có nguồn thông tin nào đáng tin cậy để làm cơ sở lên đường đi tìm liệt sĩ…
Việc đi tìm liệt sĩ đâu có phải một bước tới ngay, tìm cái thấy ngay.
Không biết liệt sĩ có hiểu cho lòng tôi, liệt sĩ có thấu hiểu được nỗi lòng của người thân khi đi tìm không thấy mộ, người ta sẽ sụp đổ tinh thần, vì khi đó người thân của liệt sĩ quá kì vọng vào các nhà ngoại cảm.
Bài học về tìm mộ liệt sĩ Quang Minh ở Camphuchia tôi vẫn còn nhớ, vẫn biết lỗi không phải do tôi nhưng cũng chính tại anh Quang Minh nhập về bắt anh Lê Thái Thọ phải đi tìm ngay. Anh Minh nói tìm dễ quá tới mức tôi có góp ý thế nào anh Thái Thọ cũng không chịu nghe, anh bảo anh phải đón bằng được bạn anh về…Để rồi đến khi anh đi không tìm thấy hài cốt anh Quang Minh lại kéo theo cả một hệ lụy, anh Thái Thọ cứ đáu đáu một điều “Chị ơi bằng mọi giá phải tìm được bạn tôi, mong chị giúp đỡ, tôi thật sự không biết trông chờ vào đâu nữa”
Nghe anh nói lòng tôi đắng chát, tôi thì biết làm sao bây giờ, có phải người liệt sĩ nào tôi cũng tìm được hài cốt đâu?
Ôi, các liệt sĩ kính mến, khi người thân có nguyện vọng đi tìm hài cốt của liệt sĩ bằng con đường tâm linh ngoại cảm thì các thân nhân liệt sĩ đến nhờ các nhà ngoại cảm tìm mộ trong đó có tôi, khi muốn tìm liệt sĩ, người thân của liệt sĩ trông chờ tất cả vào tôi. Còn tôi kì vọng vào những cuộc giao tiếp với liệt sĩ mà bây giờ liệt sĩ nói như thể đánh đố tôi thế này thì tôi biết làm sao…
Băn khoăn, tôi gọi điện nói chuyện với chú Đinh Trần. Chú bảo Cánh đồng Chum là một khu vực thuộc tỉnh Xiêng Khoảng của Lào.
Nghe chú nói tôi hơi giật mình. Liệt sĩ đã chỉ dẫn đúng, nhưng vì tôi không thuộc địa danh cho rằng liệt sĩ nói sai lên liệt sĩ bực tức chăng? Tôi bỗng thấy sờ sợ….

xxxxxxxx

Một đêm tôi mời liệt sỹ về.
Tôi trình bày lí do mời liệt sĩ. Tôi xin lỗi liệt sĩ về những hành động thật không phải của tôi đối với liệt sĩ ở lần gọi trước và xin phép lần này được hỏi chuyện. Liệt sĩ đồng ý.
Thông qua lời kể của liệt sĩ, tôi chắp nối lại nội dung như sau: Liệt sĩ sinh ra trong một gia đình có 7 chị em, 2 trai 5 gái, có một chị gái chết khi còn bé. Liệt sĩ là con trai út, trước khi đi bộ đội, liệt sĩ có yêu một người cùng làng nhưng không lấy được nhau vì gia đình bắt cưới người khác. Người vợ này sinh được một người con trai là anh Mạnh. Vợ liệt sĩ lấy chồng có thêm 5 người con nữa. Người yêu của liệt sĩ cũng đã có gia đình và đang ở xa. Liệt sĩ nói phần mộ hài cốt còn ít khó tìm, nếu quyết tâm cao thì mới lấy được còn không thì không chắc…
Tất cả bấy nhiêu là những thông tin cần thiết giúp cho tôi “truyền thông” cho cõi sống này…
Ngay hôm sau tôi gọi cho anh Mạnh và kể cho anh Mạnh nghe về những thông tin tôi nắm bắt được qua vong hồn liệt sỹ. Anh xác nhận thông tin và hồ hởi :
- Đúng bố em rồi cô ơi. Đúng rồi! Đúng rồi! Thế thì chắc chắn lần này em sẽ tìm được bố em cô ạ
Nghe anh nói mà tôi băn khoăn, vì thông thường liệt sĩ sẽ hướng dẫn kĩ cho tôi đường đi nước bước để tôi còn biết cách hướng dẫn người nhà tìm mộ.Còn bố anh cứ lững lờ, hờ hững đến khó hiểu.
Anh Mạnh nói nhất định đi tìm bố nhưng tôi giao kèo phải có tôi đi cùng, bởi ai mà biết được cuộc tìm kiếm sẽ diễn ra như thế nào?
Phải công nhận anh Mạnh có quyết tâm rất cao, chứ tôi thì chùn bước. Tôi băn khoăn gọi điện tâm sự với chị Oanh. Chị đồng tình với ý kiến của tôi và tôi nhờ chị làm công tác tư tưởng cho anh Mạnh. Hơn ai hết tôi hiểu tâm lí của người đi tìm mộ.
Người ta có thể quá kì vọng vào nhà ngoại cảm, nhưng đến khi đi không tìm được mộ họ sẽ bị thất vọng, đau đớn và đổ vỡ trong lòng, vết thương tinh thần ấy khó mà hàn gắn kịp.
Tôi không muốn đau thương chồng chất lại chồng chất đau thương.

Sức mạnh yêu thương.
Vào tháng 12/ 2009, khi tôi đang đi công tác Trà Vinh, một đêm vong hồn bố anh Mạnh về gặp tôi, ông nhắc lại cái hẹn tìm ông đã đến ngày.
Tôi gọi điện cho anh Mạnh và mặc cả:
- Nếu anh còn nhờ em tìm bố anh thì anh nhất định phải chờ em về để em đi cùng. Anh không được tự đi, xa xôi khó khăn như thế không tìm thấy là khổ lắm đấy.
Nhưng sáng ngày 29/12/2009, tôi vừa đi công tác về đến văn phòng, nghe điện anh thông báo anh đang ở trên đất Lào. Tôi không còn dám nói câu gì, tôi hiểu lúc này niềm hi vọng duy nhất của anh là tôi, bởi ai đó đi tìm mộ thông qua ngoại cảm đều đặt một niềm tin to lớn vào nhà ngoại cảm mà họ đang nhờ cậy. Dù có lo lắng vì anh đã không làm theo ý kiến của tôi thì tôi cũng phải cố bình tĩnh động viên anh yên tâm, ngày mai tôi sẽ hướng dẫn cho anh tìm hài cốt bố anh. Nhưng thực sự sau cuộc điện thoại, áp lực tâm lý đè chặt lấy tôi.
Đêm 29/12/2009, tôi chẳng dám nghĩ đến nghỉ ngơi sau chuyến công tác dài. Tôi chủ động mời liệt sĩ về trong hồi hộp lo âu. Rất may liệt sĩ đã xuất hiện, khi nghe tôi thưa chuyện con trai ông đang ở Xiêng Khoảng thì liệt sĩ bảo tôi:
- Được! Tôi sẽ đi để chỉ cho nó.
- Bác đi đâu ạ? Bác phải ở đây với cháu chứ?
Nghe tôi nói liệt sĩ cười. Ôi nụ cười là mười thang thuốc bổ giành cho tôi lúc này. Tôi dỗ dành :
- Bác ơi! Bác đừng đi, bác phải ở đây với con chứ, mai sẽ tìm được hài cốt của bác, bác ơi bác muốn dùng thứ gì con dâng cúng bác.
Liệt sĩ nhắc tôi sáng mai cúng cho liệt sĩ cái bánh đa vừng nướng, rượu, trà...thuốc lá…bánh kẹo, cái gì thì…tùy tâm
Sáng sớm hôm sau, Anh Hải đã sắm một cái lễ thật tươm tất và không quên cái bánh đa vừng thơm phức cúng liệt sĩ. Khoảng 9 giờ, anh Mạnh gọi điện cho tôi. Tôi bắt đầu công việc chỉ dẫn cho anh. Hình ảnh nơi anh tìm kiếm hiện ngay trước mắt, vậy mà dù tôi chỉ dẫn ra các đặc điểm nơi anh đang đứng rất chính xác, nhưng còn phần quan trọng nhất tôi lại quá loay hoay không căn được nơi nằm của bố anh nằm chính xác ở chỗ nào trong cái khoảng hình ảnh tôi đang thấy có cả anh và mấy người nữa cùng hài cốt liệt sĩ. Quả là quá lúng túng bởi tôi biết cái mình thấy không lột tả hết bằng lời được, ngôn ngữ hạn hẹp thì phải, có thể tôi sẽ thất bại chăng?
Đang không biết xoay sở ra sao thì liệt sĩ xuất hiện. Tôi mừng hơn vớ được kim cương đá quí. Tôi van nài, cầu cứu ông, nhưng ông lạnh lùng nói:
- Thằng này vô tâm không khéo thành người bất hiếu, nó đi tìm bố nó có thèm mời ai lấy một điếu thuốc chén rượu. Bố nó là bộ đội thì phải có đồng đội chứ…Kém lắm! Kém lắm…
Dùng hết sức bình sinh tôi cố nhìn thật kĩ nơi anh Mạnh và đội qui tập đang hiện hữu. Tôi chỉ thấy có mấy nén hương đang cháy dở…
Kinh nghiệm cho tôi biết là không thể tìm được mộ bố anh nếu anh làm những việc mà ông chưa vừa ý. Tôi nhắc anh dừng cuộc tìm kiếm, hãy ra khỏi rừng chuẩn bị cho tươm tất bánh kẹo thuốc chè cho các liệt sĩ liên hoan với nhau và không quên nhắc anh thắp hương cho đồng đội của liệt sĩ đang nằm ở đội qui tập.
Tại văn phòng, tôi nhắc Anh Hải đi sắm ngay một mâm lễ cúng các liệt sĩ.
Ngày hôm sau anh Mạnh điện về cho tôi. Tôi bắt đầu vào việc. Hình ảnh nơi anh đứng đưa về khá rõ cho tôi hướng dẫn chi tiết. Liệt sĩ cũng xuất hiện, nét mặt ông tươi tỉnh. Lúc này, tôi nhìn rất rõ ông có đôi môi rất dày. Khi hướng dẫn từ xa qua điện thoại cho thân nhân liệt sĩ tìm hài cốt, điều tất yếu trong công việc là tôi phải định lượng được khoảng cách các vật chuẩn đặc biệt làm mốc để hướng dẫn cho thân nhân tìm mộ. Cái cây tôi lấy để làm chuẩn nhìn rất quen mà tôi không tài nào nhớ ra tên gọi của nó là cây gì để nói cho anh Mạnh nhận diện. Tôi cố vắt óc nhớ xem cái cây ấy nó được gọi chính xác là cây gì mà sao tôi đầu óc tôi lúc này lại mụ mị đến thế… Như hiểu được tôi, liệt sĩ cất tiếng hát :
- Con gà cục tác… lá chanh, con lợn ủn ỉn mua… hành cho tôi, con chó khóc đứng khóc ngồi, mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng…. giềng…
Mừng quá tôi hét vào máy :
- Anh tìm đi ở đó có một khóm giềng duy nhất, cái bụi cây mà ở Việt Nam người ta lấy củ ăn với thịt chó ấy, anh tìm xem có cái cây em nói không?
Sau một hồi chỉ dẫn anh Mạnh và đội qui tập đã tìm được phần mộ của bố anh. Liệt sĩ mừng lắm. Lúc này, tôi thấy ông vui vô cùng. Ông nói với tôi là cứ bình tĩnh, hôm nay ông sẽ hướng dẫn cho con trai tìm thêm cả đồng đội cùng nằm với ông và cứ thế ông dạy tôi. Tôi lại hướng dẫn anh Mạnh sau mỗi lần anh gọi cho tôi và thêm một bất ngờ sau khi tìm được hài cốt của ông, trong lần ông hướng dẫn tiếp sau xuất hiện thêm hai người bộ đội đến cùng nhưng ở phía xa tôi hơn, họ im lặng tôi nhìn thấy họ còn rất trẻ, trẻ lắm…
Ngày hôm đó ở bên Lào, anh Mạnh cùng đội qui tập đã tìm được cả thảy được 3 mộ liệt sĩ. Ở văn phòng tại Việt Nam, tôi sung sướng quá cũng nhảy tưng tưng. Nhưng nước mắt lại cứ trào ra.
Thấy tôi giống trẻ con, liệt sĩ cười bảo:
- Vui quá hóa khóc hẳn, cám ơn chị tôi về…
Tôi cố níu kéo các liệt sĩ ở lại với tôi. Tôi xin họ kể cho tôi nghe tại sao cả ba người lại xuất hiện ở đây và tôi hỏi hai người liệt sĩ đi cùng kia nhưng cả hai chẳng ai nói chuyện với tôi. Cả hai người đều hiền lắm còn liệt sĩ nhà anh Mạnh thì chỉ nhìn tôi cười chẳng nói gì. Kệ cho tôi ríu ran thưa gửi, tôi ngờ ngợ cách cười của ông không phải ông cười vì ông vui đã tìm được hài cốt mà có lẽ ông buồn cười cái tính của tôi. Không biết liệt sĩ có nghĩ là tôi cũng đang rất vui khi con trai liệt sĩ cùng đội qui tập đã tìm thấy mộ, mà còn tìm thêm được 2 liệt sĩ nữa nên tôi đang vui lắm hay liệt sĩ lại đánh giá tôi là một con người có tính cách dở hơi.
Phải nói rằng liệt sĩ đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất từ khi mời vong liệt sĩ lên cho đến khi tìm được mộ. Liệt sĩ đã làm cho tôi vừa tức, vừa buồn cười vừa sợ.
Sau này khi đã tìm được liệt sĩ Lương Xuân Tách, vì điều kiện công tác của cả hai người nên tôi và anh Mạnh không có dịp gặp nhau trực tiếp nhưng anh vẫn dành thời gian liên lạc điện thoại với tôi. Anh kể lại cho tôi nghe khi ở bên Lào tôi đã hướng dẫn như thế nào để cho anh tìm được mộ, nghe anh kể lại tôi có cảm giác như anh đang kể về một ai đó, chứ không phải là chính mình.
Công việc đã giúp tôi nhận ra mỗi lần tiếp xúc được với một liệt sĩ là một cuộc đời, là một câu chuyện. Tìm mộ liệt sĩ là cả một sự dẫn dắt con người trần thế tới kho tàng văn hóa tâm linh huyền bí nhưng cực kì hấp dẫn. Bởi vậy công việc này càng ngày càng thêm thôi thúc tôi khám phá một thế giới mới, thế giới cuộc đời thứ hai của con người đang tồn tại.


Trở về đất mẹ.

Thường thì việc tìm mộ sẽ dừng lại đây. Họa hoằn lắm cũng có liệt sĩ khi tìm được hài cốt mang về quê an táng, tôi có điều kiện đến gia đình dự lễ. Hơn mười năm tìm hài cốt liệt sĩ có lẽ tôi có vinh dự được dự ngày lễ an táng các liệt sĩ chỉ có thể điểm trên đầu ngón tay.
Tôi vinh hạnh được gia đình anh Mạnh mời sang Lào đón bố anh cùng các liệt sĩ về nước trong đợt này. Tôi rất vui vì biết rằng chỉ mấy ngày nữa thôi tôi sẽ được đi đến địa danh Cánh đồng Chum nổi tiếng thời chống Mỹ, khám phá là sở thích bất tận của tôi.
Tháng cuối năm, trời vừa mưa vừa rét. Mấy hôm nay trời lại mưa tầm tã. Anh Mạnh đến văn phòng đón tôi đi. Nhìn chiếc xe ô tô gầm thấp của anh, tôi ái ngại hỏi anh liệu chiếc xe này có sang tới Lào được không? Anh bảo lần trước anh đã đi bằng con xe này. Tôi lên xe ngồi cùng cô gái khá trẻ, anh không giới thiệu nên tôi cũng không tiện hỏi.
Xe chạy qua văn phòng một đoạn, tôi nghe cái ào thì đã nhìn thấy liệt sĩ ngồi ở giữa nghế của tôi và cô gái kia. Tôi khẽ nép người sát vào cánh cửa nhường chỗ cho bác. Cô gái kêu lạnh và cứ dịch ra xa tôi. Vô tình hai chị em tạo ra một khoảng trống giữa băng ghế đủ cho một người ngồi.
Tôi cố trấn tĩnh nhưng bắt đầu thấy run. Tôi cố lờ liệt sĩ đi vì tôi không biết phải làm thế nào khi mà trên xe còn hai người nữa. Nếu ứng xử không đúng lúc, đúng chỗ gia đình anh Mạnh lại cho tôi là “Điên”
Anh Mạnh mở đĩa có bài hát thời chiến ra nghe.
Qua trò chuyện, tôi mới biết cô gái tên là Tình là em gái của vợ anh Mạnh. Anh kể cho chị em tôi nghe tuổi thơ nhọc nhằn của anh, những kỉ niệm về người bố liệt sĩ, về bà nội, về quê hương anh, về những chuyến đi tìm bố đằng đẵng mà anh đã trải qua. Đoạn đường cứ dài thêm theo câu chuyện anh kể. Thỉnh thoảng anh lại thay đĩa hát các bài khác nhau để bố anh nghe. Tình cảm của anh đối với người bố đã khuất thấm dần sang tôi. Tôi chạnh lòng nghĩ về cuộc đời mình và người bố đẻ của tôi.
Hơn ai hết lúc này đây, tôi thèm muốn cái tình cảm của anh dành cho bố mình. Tôi ước ao giá như người bố đẻ của tôi cũng là liệt sĩ thì hạnh phúc cho tôi biết nhường nào? Anh hỏi tôi về thế giới bên kia nhiều lắm, tôi chỉ biết chia sẻ với anh trong sự hiểu biết của tôi. Tôi kể cho anh nghe cuộc đời của tôi, về cội nguồn của cuộc đời và hành trình truy tìm gốc tích người bố đẻ để mà sau mười năm cất công tìm kiếm, tôi đã phải sống như thế nào khi mà tôi phải tìm một trong bốn ông bố kia, ai là bố của tôi, cuối cùng tôi phải nhờ vào giám định ADN để có một kết luận chính thức.
Cả một đoạn đường trường trên nghìn cây số đi với nhau, phải đến hàng trăm lần anh Mạnh ao ước…Anh ước những năm tháng trong chiến trận bom rơi máy chảy, bố anh kịp có thêm đứa con nữa để lại trên đời này ở bên Lào, anh sẽ bảo lãnh đưa về sống ở Việt Nam….
Tôi bảo anh là nhà văn hay sao mà mộng ra chuyện ấy? có lẽ anh suy diễn câu nói của bố anh lúc nhập vong “ bố đi bản chơi bị thương rồi chết”. Tôi nhắc anh cẩn thận với những suy nghĩ của mình.
Xe đi hai ngày mới tới Xiêng Khoảng một đoạn đường dài đã giúp anh em tôi hiểu về nhau hơn.
Đường đi càng ngày càng như leo lên cao. Giữa trưa nắng gay nắng gắt, ông mặt trời như chúc xuống ngang đầu. Tôi nao nao hình dung ra 40 năm trước bố anh và những người lính cụ Hồ đi bộ ròng rã biết bao nhiêu tháng trời mới sang đến đất Lào. Ngồi trên xe nhìn con đường ngoằn nghèo hun hút càng khiến cho tôi khâm phục những con người anh hùng năm xưa.
Xe đến Xiêng Khoảng cũng là lúc ông mặt trời xuống núi. Chiều tà chạng vạng nơi đây khiến lòng người trống vắng quạnh hiu đến lạ thường. Cảm giác tha hương đè nặng lên tôi, lòng tôi bỗng dâng trào tình yêu quê hương mãnh liệt. Ôi sao nhớ Việt Nam yêu thương tới cồn cào.
Cảm giác lo sợ không quay về Việt Nam được xâm chiếm lòng tôi…
Anh Mạnh đi xe thẳng vào trong đội qui tập, anh em trong đội ào ra đón. Chúng tôi xuống nhà quàn thắp hương các liệt sĩ.
Hương hoa nghi ngút trên bàn quàn. Tất cả có hơn một trăm liệt sĩ. Tôi thương quá, nước mắt chỉ trực trào ra.
Chúng tôi lần lượt thắp hương, tôi chắp tay khấn thầm:
- Dạ thưa các bác, các chú liệt sĩ! Cháu tên là Nguyễn Ngọc Hoài, hôm nay đứng trước nơi thờ hài cốt các bác, các chú, cháu thắp nén nhang xin phép các bác, các chú cho phép cháu được dự ngày lễ truy điệu và được cùng mọi người rước đón các bác các chú về Việt Nam quê hương mình…
Người tôi như muốn đờ ra. Ôi nhiều liệt sĩ quá mọi người quanh tôi nói cười ồn ào…
Mùi máu tươi tanh nồng xộc vào mũi, tôi thì thầm với Tình:
- Tình…Tình em có thấy gì không? Có ngửi thấy gì không?
Tình hoảng hốt hít hít :
- Có, có mùi máu, mùi máu chị ạ.
Rồi ngơ ngác.
- Ở đâu thế nhỉ, mùi máu tươi…
Tôi bấu Tình kéo ra khỏi nhà quàn. Tình cứ liến thoắng hỏi tôi tại sao tôi biết có mùi máu. Tình phán đoán hay bộ đội làm thịt lợn. Tôi nhắc Tình chạy lại chỗ cũ ngửi lại, nó chạy lại thật rồi chạy ra “Không thấy mùi gì nữa chị ạ”. Tôi cười trêu “ Đặt tên em là gì, sắp thành trạng hít chưa”. Cả hai chị em cùng cười.
Đội qui tập mời chúng tôi nghỉ lại doanh trại nhưng do hôm nay đội cũng tiếp nhiều khách nên chúng tôi xin phép ra ngoài nghỉ. Anh Mạnh đưa chúng tôi đến nhà anh Cảnh là Việt kiều. Nghe anh Mạnh giới thiệu, anh Cảnh nhìn tôi từ đầu đến chân rồi lại nhìn từ chân lên đầu, anh bảo :
- Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài đây à, nhìn như người bình thường thôi nhỉ ?
Nghe anh nói thế tôi chỉ cười. Anh Cảnh hỏi tôi chuyện hôm trước tìm bố anh Mạnh ở Việt Nam tôi đã “nhìn” thấy tất cả mọi thứ tại hiện trường nơi các anh đang có mặt cách tôi hàng ngàn km như thế nào? Anh bảo :
- Cảnh nhìn chị Ngọc Hoài cũng bình thường như mọi người Việt mình thôi nhỉ, sao chị giỏi thế, có phải trong người chị có “Phi” không? ( phi nghĩa là ma).
Rồi những thắc mắc của anh về lần tìm bố anh Mạnh đưa ra thành một loạt câu hỏi để hỏi tôi. Tôi chỉ cười trừ vì không biết giải thích với anh như thế nào.
Chợt nhớ ra chúng tôi cần phải nghỉ ngơi, anh Cảnh lật đật đi tìm nhà nghỉ cho chúng tôi nhưng chỗ nào cũng hết phòng, cuối cùng cũng tìm được một nhà nghỉ của người Lào.
Nằm xuống giường người tôi như rệu rã. Hai ngày đi xe người đau như dần. Tôi cảm thấy sức khỏe của mình sa sút trông thấy. Tôi nhớ ngày nào đi Khe Sanh bị lạc trong rừng cả một ngày trời, phải đi không biết bao nhiêu là đường đất. Muỗi thì như vãi trấu, ve rừng già kêu inh tai nhức óc, vắt thì nhiều không biết đâu mà kể. Một con cắn được vào kẽ chân máu chảy ra, 7, 8 con khác bò lên chồng chất, châu đầu nhau vào vết cắn trước hút máu. Tôi phải nhảy xuống khe nước gỡ vắt, chao ơi vắt nhiều kinh khủng, nó trơn và dai như cao su, tôi cứ lôi dài người nó ra nhưng miệng nó vẫn cắn chặt vào kẽ chân thành thử không dứt con vắt ra khỏi chân được. Thật kinh khủng ! Cứ nghĩ lại chuyện vắt ở Trường sơn tôi lại muốn ói hết cả lòng phèo của tôi ra ngoài. Vậy mà ngày hôm sau chân và đùi đau như vỡ ra mà vẫn hăng vào rừng…sao lúc ấy mình khỏe thế. Bây giờ ngồi xe có hai ngày mà tôi đã thấy mình muốn nhắm mắt tắt hơi….rồi, già rồi nên vốn sức khỏe cũng sa sút nhanh thật.
Đang vừa nghĩ vừa lơ mơ ngủ thì tôi thấy bố anh Mạnh xuất hiện. Tôi mừng quá nhưng lặng thinh vì ngại Tình sợ hoặc cho tôi là kẻ lập dị.
Liệt sĩ nhìn tôi với cái nhìn trìu mến thân thương, ông nhẹ nhàng bảo tôi:
- Cảm ơn chị Hoài lắm, không gì quí bằng đâu. Thôi nghỉ cho đỡ mệt, bác vui quá, vui quá…
Rồi bác khóc, bác lại cười vì bác vui, bác vui vì sắp được cùng đồng đội trở về quê hương, bác khóc vì bác thương anh Mạnh. Bác bảo anh Mạnh khổ lắm, khổ từ khi còn trong bụng mẹ. Con người ta thiếu cha còn có mẹ, còn anh thiếu tất. Mẹ còn đấy mà cả đời chẳng bao giờ nhìn tới đứa con của mình…
Tôi bần thần rồi lơ mơ hiểu phần nào lời bác nói. Thương bác, giận mình đã không hiểu gì về người khác lại hay nói càn, chợt nghĩ thế nào tối nay bác cũng sang phòng anh Mạnh, băn khoăn tôi gọi với sang Tình:
- Không biết bên phòng anh Mạnh có biết buông màn cho bố anh ấy về nằm ngủ cùng không, hay em sang bên đó nhắc anh đi.
Tình ngần ngại vì đã quá khuya, tôi cũng ngại, mắt nó thao láo:
- Chị nhìn thấy gì?, bố anh Mạnh ở đây à?
Tôi biết nó sợ lên đánh trống lảng:
- Chả nhìn thấy cái gì sất cả, thì người ta đi tìm mộ vẫn hay làm thế, thôi ngủ đi em. Ngủ đi mai con đi thăm thú nơi này nữa chứ.
Chẳng thể nào chìm vào giấc ngủ, thấy thương bác quá, càng nghĩ lời bác kể càng thấy thương. Tôi trách mình hành xử quá không phải với bác trong lần áp vong trước. Bác ơi! cháu ngàn vạn lần xin lỗi bác, cháu hiểu giờ đây bác đã cởi lòng cho cháu biết những bí mật của bác mà câu chuyện này chỉ có người thân kiểm chứng.
Bác ơi! Cõi giới bên kia bác có biết phải khó khăn lắm bác cháu mình mới có thể bày tỏ được với nhau. Cháu cảm ơn anh Mạnh nếu không có sự quyết tâm tìm bố của anh thì làm sao cháu có duyên được đến tận nơi bác ngã xuống. Được nghe bác dốc lòng trò chuyện. Cháu biết bác quí cháu, cháu xin cảm ơn bác rất nhiều, nếu như bác không kể cho cháu nghe về bác thì cháu làm sao mà biết được, người về cõi thiên thu và câu chuyện về một con người chìm mãi trong hư vô...


Sáng sớm hôm sau anh Mạnh sang phòng tôi lập cập kể lại:
- Cô ơi, đúng là đêm qua bố em về với em, chưa bao giờ em thấy hiện tượng như thế cả. Em đang nằm ngủ thì giật mình tỉnh giấc mở mắt em nhìn thấy một người đàn ông còn rất trẻ chỉ khoảng 26, 27 tuổi thôi nhìn em trìu mến lắm, cứ như thể canh cho em ngủ. Em nhổm dậy thì người đó biến mất thế là em thức luôn tới sáng ngồi hút thuốc lào vặt mong trời sáng quá. Đúng là bố em cô ạ, chưa bao giờ em thấy thế cả cô ơi…
Tôi hỏi anh:
- Thế anh có nhìn rõ không? Có đúng bố anh không!
- Em có nhớ nổi mặt mũi bố em thế nào đâu cô. Lúc bố em đi em còn bé quá không hình dung ra bố như thế nào.
Anh sụt sùi. Tình há mồm nghe anh Mạnh kể rồi hết nhìn tôi lại nhìn anh Mạnh nó bảo:
- Eo ơi! Chị nói dối em, thôi tối nay em nằm chung với chị chứ em sợ lắm.
Anh Mạnh giục chị em tôi đi ăn sáng nhanh rồi còn vào đội thắp hương cho bố và các liệt sĩ.
Xong việc anh đưa tôi đi thăm Cánh đồng Chum. Thị xã Xiêng Khoảng hoang sơ nghèo nàn, dấu tích chiến tranh còn vương khắp nơi, một số nhà dân của thị xã phía trước cửa nhà họ xếp đầy vỏ đạn, vỏ bom, bình tông, mũ sắt để cho khách du lịch xem miễn phí.
Buổi chiều dự lễ truy điệu, các sư người Lào đến đọc kinh. Cả ngày hôm đó, tôi thấy vong bố anh Mạnh xuất hiện bên chúng tôi liên tục. Anh Mạnh vui lắm, tất cả tình cảm của anh giành cho bố dồn nén trong mấy chục năm qua mà hôm nay tôi là người chứng kiến.
Sáng hôm sau, đoàn phải đi từ 2, 3 giờ sáng cho kịp thời gian về Nghệ An, đoàn xe của chính phủ hai nước kéo dài nối đuôi nhau. Người tiễn kẻ đón diễn ra tưng bừng hai bên đường người dân đổ ra đông nghẹt cờ hoa vẫy chào lẫn trong sương mù. Cảm nhận hạnh phúc chứa chan, tôi cùng các liệt sĩ tạm biệt Xiêng Khoảng trở về Việt Nam.
Cửa khẩu Nặm Cắn hiện ra. Biên giới Việt Lào là đây, bánh xe vượt qua trạm chở các liệt sĩ về với đất mẹ. Hai bên đường cán bộ nhân dân và các em học sinh nhiệt liệt chào đón các liệt sỹ trở về trong niềm hạnh phúc hân hoan.
118 liệt sỹ được đưa về nghĩa trang tỉnh Nghệ An. Chỉ có duy nhất một liệt sĩ được gia đình nhận đó bố anh Mạnh. Còn lại những liệt sĩ đã có danh tính còn phải truy lại thông tin để tìm người nhà. Các liệt sĩ chưa biết tên đành phải tìm nhiều cách để có thể trả lại tên cho các liệt sĩ, công việc này còn dài… chiến tranh mà biết làm sao được.
Tôi ngậm ngùi thưa với các liệt sĩ rằng công việc tìm kiếm hài cốt các liệt sỹ mà tôi đang làm đã giúp tôi hiểu biết nhiều hơn. Mỗi một gia đình là một hoàn cảnh, mỗi lần tìm mộ là cả câu chuyện dài. Nhà nước ta vẫn đêm ngày tìm các anh qui tập về nghĩa trang liệt sĩ. Các đội qui tập liệt sĩ quanh năm ngày tháng lặn lội nơi rừng sâu núi thẳm, hải đảo xa xôi, đi cả ra nước ngoài lặn lội trong gian khổ để tìm kiếm hài cốt các anh qui tập về đất mẹ. Đi tìm mộ là gian nan, là vất vả, có khi còn cả có sự hy sinh tính mạng. Đất nước chiến tranh, dân tộc Việt Nam chịu bao đau thương mất mát. Dù chiến tranh đã qua đi từ thế kỉ trước nhưng con người Việt Nam vẫn tiếp tục phải gánh chịu đau thương và cả sự hi sinh to lớn do chiến tranh để lại, trong đó có việc tìm mộ liệt sĩ.
Nhưng không phải tất cả những chuyến đi tìm cũng mang lại được kết quả. Chúng ta có thể đi tìm mộ thất lạc bằng rất nhiều cách khác nhau. Qua những đội qui tập liệt sĩ trải dài khắp đất nước. Cũng có thể tìm từ giấy báo tử, từ đồng đội hoặc các cựu chiến binh, các tầng lớp nhân dân trong toàn xã hội bằng cách đưa thông tin và truy cập các trang website.
Đi tìm mộ liệt sĩ từ trích lục hồ sơ gốc của liệt sĩ để biết liệt sĩ đang ở đâu, rồi tìm đến Ban chính sách các quân khu. Cũng có thể tìm từ các phương pháp tâm linh như gặp lại linh hồn người quá cố hoặc tìm qua các nhà ngoại cảm tìm mộ, họ sẽ vẽ sơ đồ phần mộ liệt sĩ chỉ dẫn cho tìm mộ từ xa bằng điện thoại cho mỗi gia đình. Nhà ngoại cảm phải chỉnh đi chỉnh lại thông tin cùng với gia đình để tìm mộ…
Công việc tìm mộ thật gian nan, vất vả kể sao cho xiết. Nhìn vào các nghĩa trang liệt sĩ mà tôi kính nể và khâm phục những tập thể, những cá nhân đã và đang góp sức đưa các anh về.
Anh Mạnh làm thủ tục xin phép đưa bố về quê an táng, mọi người cũng tiễn đưa ông lên xe. Chị vợ anh Mạnh vào chờ đón bố ở cửa khẩu Nậm Cắn. Do vậy khi đi ra Bắc đoàn tôi có hai xe. Xe chạy được một lát anh Mạnh phát hiện có một con vật màu trắng nhìn giống con ve sầu, nó đậu ngay ở máy lạnh của xe, ngay phía ghế đặt hài cốt liệt sĩ. Nó nằm im giống chết rồi. Mọi người sợ hãi hỏi tôi rồi lại nghi ngờ nó nằm đó lạnh quá nên chết cứng, tôi bảo không sao đâu, nó chẳng chết đâu mà lo, bao giờ về tới nhà nó sẽ bay, anh Mạnh hỏi:
- Bố em hóa thân thành con vật đó hả cô?
Không phải, tôi quả quyết và giải thích cho anh hiểu là người âm có thể điều khiển được con vật, bố anh đã điều khiển con vật này để chứng minh cho anh thấy sự tồn tại của bố chứ không phải bố hóa thân thành con vật đó.
Chốc chốc anh lại quay sang bên hài cốt bố nói chuyện:
- Bố ơi, bố thích nghe bài hát nào để con mở, đây toàn bài hát thời bố đây này…
- Bố ơi trưa này bố ăn gì…Bố ơi con cố gắng đi thật êm…
- Bố ơi con đưa bố đi một vòng quanh thị xã Thái bình, bố nhé…
Rồi anh lo lắng:
- Không biết thời tiết này lúc đưa bố về tới nhà, trời có thương mà nắng lên không chứ mưa dầm dề lo quá cô ơi…
Tôi biết anh đang sung sướng, anh đang rất hạnh phúc, chẳng ngòi bút nào tả hết được tình cảm của người con xa bố mấy chục năm trời.
Đường càng về gần
Về Đầu Trang Go down
kiss
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tự truyện của nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài p2   Mon Apr 04, 2011 9:18 pm


Ngay buổi chiều hôm ấy chị Thủy - vợ anh Mạnh rủ tôi đi gọi hồn bác. Tôi theo anh chị đến nhà một “cậu đồng”. Đó là một người đàn ông trạc 40 tuổi sống độc thân người ngợm ẻo lả má phấn môi son mồm lúc nào cũng nhai trầu. Nhà “cậu đồng” thờ nhiều lắm. Bắt đầu cuộc nhập hồn vào “cậu”, thông qua thân xác “cậu” bác nói chuyện với vợ chồng anh Mạnh, trò chuyện được một lát, tôi ngồi đằng sau cất tiếng chào:
- Cháu chào bác ạ!
- Chào chị Hoài nhé, cảm ơn chị mọi công việc xong xuôi tốt lành cả, bác vui lắm rồi.
“Cậu” tiếp luôn:
- Con gái dâng cho bố chén rượu nào?
Anh Mạnh và chị Thủy ngơ ngác, tôi ngồi im “cậu” phán tiếp:
- Con gái Hoài đâu, bố muốn uống rượu của con dâng mời bố .
Anh Mạnh lập cập:
- Cô…cô Hoài, em…em… mời bố rượu đi bố nhận em là con gái rồi…
Rồi anh quay sang phía chị Thủy:
- Thủy…Thủy…lấy rượu lấy rượu cho em gái mời bố.
Anh chị khóc òa. Sau khi uống hết chén rượu đầy tôi dâng, “cậu” vừa hút thuốc tôi mời vừa bảo vợ chồng anh Mạnh:
- Bố nhận em gái cho các con, từ nay trở đi các con đã có anh có em. Các con yêu thương đùm bọc nhau, bảo ban nhau mà sống cho tốt các con nhé, thôi bố vui lắm bố đi đây…
Hôm đó trở về nhà anh chị vui như tết. Còn tôi không khỏi băn khoăn, không phải tôi không muốn làm con của bác nhưng thật khó khi một người đã khuất nhận tôi là con gái. Con người sống ở trên đời còn chẳng thể hiểu nhau để mà thương yêu nhau cho trọn vẹn… Tôi chưa thấy người đã khuất về nhận con nuôi bao giờ, chỉ người đang sống nguyện làm con người đã khuất… Liệu tôi có làm nổi cái trách nhiệm con cái trong nhà như liệt sĩ mong muốn hay không?
Tôi sẽ nói với gia đình thế nào về vấn đề này với chồng con và anh chị em trong đại gia đình tôi. Phải vất vả khổ sở lắm cả gia đình tôi mới tìm ra người bố đẻ cho tôi, bây giờ tôi sẽ phải nói với gia đình thế nào? Tôi đã phải tìm 4 ông bố để nhận ra một ông bố chính thức sinh ra mình, bây giờ tôi lại có thêm một ông bố mới nữa thì nghĩa là sao? Tại sao trong mắt mọi người tôi không phải là người đơn giản, tại sao lúc nào tôi cũng bị gắn với với lập dị, với những phức tạp cồng kềnh…
Trong chuyện này tôi chẳng biết sẽ phải vào đề với gia đình mình như thế nào được nữa… khó cho tôi quá!
Lẽ ra công việc xong xuôi là tôi trở về văn phòng nhưng tôi còn đang ôm ấp đi tìm một chứng nghiệm. Chuyện là, sau việc tìm mộ liệt sĩ Lê Hữu Hạc, một lần khoảng tháng 10/2009 chị Oanh gọi điện cho tôi nói có người chụp được hình ảnh anh bộ đội trên ngôi mộ anh Hạc mà tôi đã chỉ cho gia đình chị trong nghĩa trang Lộc Ninh và người ta bảo đó chính là hình anh Hạc. Người quản trang bèn gửi tấm ảnh chụp được về cho gia đình liệt sỹ xác nhận xem người trong ảnh có đúng là liệt sĩ nhà mình hay không?. Khi nhận được ảnh các chị em gái của liệt sĩ đã òa khóc, tấm ảnh anh bộ đội đó chính là liệt sĩ Lê Hữu Hạc.
Tôi biết trên thế giới người ta cũng đã chụp được một số tấm ảnh của người đã khuất nhưng chỉ do vô tình hình ảnh của người âm lọt vào ống kính, còn việc chủ động gọi linh hồn người chết về chụp ảnh thì tôi chưa nghe và cũng chưa thấy bao giờ, dù rất tin chị nhưng người làm khoa học không cho phép tôi chỉ nghe thông tin mà không trực tiếp thực hành công việc đó. Tôi nghĩ ngay tới gia đình anh Mạnh vì liệt sĩ Lương Xuân Tách cũng không có ảnh. Sau khi nghe tôi có ý kiến, gia đình anh Mạnh nhất trí liên lạc với anh Quân, người có khả năng gọi được hồn người chết về hiện hình để thân nhân chụp lấy hình ảnh người đã khuất.
Chiều hôm đó anh Quân đến. Đó là người đàn ông nhỏ nhắn nước da đen, khuôn mặt hiền lành, anh ngồi đối diện với tôi mắt nhìn chằm chằm vào một khoảng trống rồi nói với anh Mạnh.
- Bố anh đang ở đây!
Anh Quân nhắc anh Mạnh dẫn lên bàn thờ và anh quay sang bên tôi.
- Chị lên đi, bố chị bảo con gái cùng lên.
Tôi không nói gì, hơi bất ngờ không hiểu anh Quân tiếp xúc được với liệt sĩ nên nói thế hay anh ta tưởng tôi là con gái của liệt sĩ.
Anh Mạnh đi trước, anh Quân theo sau, tôi đi sau cùng nhưng khi lên gần tới nơi thờ tôi bỗng thấy liệt sĩ xuất hiện phía trước anh Mạnh.
Sau khi khấn làu làu một bài khấn dài, giọng khấn rất giống các thầy cúng, anh Quân nhắc tôi:
- Tí nữa bố chị về chỉ cho mình chị chụp hình bố chị thôi đấy!
Nói rồi anh ta móc chiếc điện thoại đeo bên hông rồi huơ lên huơ xuống và bất ngờ hình ảnh một người đàn ông hiện ra rất rõ.
- Bố về rồi này chụp lại nhanh lên… nhanh lên…
Tôi và anh Mạnh cuống cà kê. Anh Mạnh đưa máy điện thoại lên chụp, rồi anh giục tôi, vì quá bất ngờ lên tôi ớ ra, rồi tôi cũng lật bật đưa điện thoại di động của mình lên chụp, tất cả xảy ra chưa đầy mươi giây, hình liệt sĩ hiện lên trên điện thoại của anh Quân biến mất.
Anh Mạnh nhăn nhó xuýt xoa vì tôi chụp lại không được rõ như khi ba chúng tôi nhìn thấy. Anh Quân nói có thể gọi liệt sĩ lên chụp tiếp ở ngoài mộ. Vậy là chúng tôi cùng nhau đi ra nghĩa trang liệt sĩ, trên đường đi tôi đã hỏi anh Quân rất nhiều chuyện liên quan tới tâm linh và khả năng của anh. Thỉnh thoảng anh lại nhắc tôi nhớ chụp ảnh cho liệt sĩ vì liệt sĩ đã dặn anh là chỉ cho mình tôi chụp được hình liệt sĩ thôi. Tôi ậm ừ cho qua chuyện nhưng không làm theo lời anh dặn mà nhắc anh Mạnh nhờ thêm mấy “tay” chụp ảnh nữa cho chuẩn, còn tôi bỏ điện thoại mượn máy ảnh để chụp.
Tới nghĩa trang lên kì đài thắp hương xin phép rồi quay về phần mộ anh Quân tiếp tục lặp lại động tác lúc trước nhưng thời gian cứ lặng lẽ trôi đến sốt ruột mà không thấy hình ảnh liệt sĩ hiện lên, tôi càng thêm nôn nóng khoảng thời gian trôi đi khá lâu anh Quân khấn lên khấn xuống mãi vẫn chưa thấy gì, anh nhắc tôi và anh Mạnh gọi bố, thế là anh Mạnh gọi.
Còn tôi chưa kịp thì bất ngờ liệt sĩ lại hiện hình lên chiếc điện thoại của anh Quân đặt trên mộ. Ai cầm máy ảnh trong tay đều liên tục bấm máy, hình ảnh liệt sĩ hiện lên rất rõ, khoảng một phút lại biến mất, màn hình điện thoại lại trở lại một màu tối đen. Dù là chứng kiến lần thứ hai mà tôi vừa thảng thốt vừa vui mừng, mọi người đều kiểm tra máy ảnh của mình. Kỳ lạ thay, tất cả những chiếc máy ảnh kỹ thuật số đều không để lại dấu tích của một file ảnh nào. Hi vọng vào chiếc máy cơ do một chú tên là Hải chụp sẽ lấy được ảnh đẹp nên mọi người tích tốc mang máy ảnh ra thợ để rửa, nhưng đoạn phim trong máy ảnh đều bị cháy, không có một bức hình nào hiện lên. Riêng chiếc máy ảnh của tôi chụp lưu được 4 file ảnh. Song do sử dụng không quen và có ánh đèn flash nên bốn tấm ảnh liệt sĩ đều bị lóa.
Tôi tin vào khả năng của anh Quân, ngoài ra còn rất khâm phục vì trên thế giới đã có một số người chụp được ảnh của người đã khuất hiện hình bằng cách nào đó mà người chụp không hề nhìn thấy, họ vẫn thường gọi là chụp được “ma” hoặc chụp được “ảnh ma” nhưng chỉ là do vô tình hình ảnh của người âm lọt vào ống kính, người ta chỉ phát hiện được sau khi rửa ảnh. Còn trường hợp của anh Quân thì hoàn toàn khác, anh chủ động mời được linh hồn người quá cố về hiện hình lên màn hình điện thoại di động để người thân có thể chụp lại được hình ảnh.
Phải kết luận rằng đã có những trường hợp vô tình phó nháy chụp được ảnh người đã chết, còn trường hợp đặc biệt này là Việt nam có người gọi được hồn ma lên cho gia đình chụp ảnh.
Tôi đã nhìn thấy liệt sĩ bằng chính con mắt của mình rất nhiều lần, nhưng bây giờ nhìn vào tấm ảnh chỉ giống người tôi nhìn thấy khoảng 70 % nhưng đôi mắt và bộ lông mày với cái miệng của liệt sĩ thì không thể lẫn đi đâu được. Điều này tôi thấy cũng dễ hiểu vì chính tôi khi chụp trong ảnh nhìn cũng khác ở ngoài đời, nhưng những nét cơ bản thì không thể khác được. Tôi nhắc gia đình phải mang tấm hình tôi chụp được về quê, hai bên nội ngoại và những người biết liệt sĩ xem họ xác nhận người trong ảnh có đúng là liệt sĩ Lương Xuân Tách hay không?
Tại nghĩa trang chúng tôi chụp ảnh liệt sĩ Tách này cũng có một ngôi mộ giả của anh Hạc nên khi chụp ảnh bác Tách xong chị Oanh nhờ anh Quân sang bên đó mời anh Hạc lên chụp và chị Oanh cũng chụp được ảnh anh Hạc bằng điện thoại di động, tiếc rằng sau đó tấm hình chụp anh Hạc ở nghĩa trang Quảng Ninh nó bị biến mất không lưu lại được. Lúc đi cùng anh Quân, tôi hỏi anh có tìm được mộ thất lạc, anh bảo anh không phải là nhà ngoại cảm mà anh chỉ là “nhà công chứng”. Thấy anh nói chuyện hài hước tôi phì cười. Chia tay anh Quân, tôi thầm hứa sẽ hẹn anh một ngày nào đó tôi sẽ đi theo anh Quân nhiều buổi như thế này, có như vậy tôi mới có thể tìm hiểu và nghiên cứu kĩ hơn về khả năng của anh.

Tình nghĩa Âm Dương

Tối hôm ấy xong việc tôi xin phép gia đình về ngay. Gia đình anh Mạnh tặng tôi một chiếc ti vi tôi nhất định không nhận. Anh bảo thấy cái ti vi ở văn phòng bé quá nên anh chị tặng tôi mang về văn phòng cho mọi người cùng xem cái màn hình to thì tốt hơn. Hai anh em cứ đưa đi đẩy lại rồi anh Mạnh khóc nói bố đã nhận tôi làm con gái rồi.
Trên đường về xe càng chạy cách xa Quảng Ninh bao nhiêu thì lòng tôi càng thêm trống vắng bấy nhiêu. Tôi bâng khuâng nhớ lại những ngày bận rộn đã qua, tình cảm cha con của anh Mạnh cứ thấm sâu vào tâm khảm tôi, những chuyện tâm linh, những nhà ngoại cảm, những điều huyền bí… Tất cả đều có thể đến với con người .
Tôi về nhà được khoảng 3 ngày, anh Mạnh gọi điện thông báo anh đang ở quê. Người thân của liệt sĩ đã òa khóc nức nở khi nhìn thấy tấm hình và gia đình anh Mạnh quyết định dùng tấm hình đầu tiên tôi chụp làm ảnh thờ liệt sĩ. Còn tôi từ lúc về nhà tôi phải làm việc liên tục vì thời gian tôi đi vắng công việc ùn lại. Chuyện giữa tôi và liệt sĩ tôi cũng chưa sắp xếp được thời gian nói chuyện với gia đình thế nào cho hợp lí. Tôi có thói quen không kể chuyện công việc của tôi với người thân vì tôi rất ít thời gian rảnh dỗi. Hơn nữa trong gia đình mỗi người, mỗi lứa tuổi có nhận thức, hiểu biết khác nhau. Gia đình tôi có trẻ nhỏ tôi không muốn con trẻ biết đến những chuyện quá xa vời mà chúng chưa đến tuổi phải biết. Tuy nhiên tôi vẫn đang loay hoay không biết vào đề chuyện này ra sao cho thuận…
Chiều chủ nhật, tôi nhắc chồng tôi ra văn phòng để lắp cho tôi chiếc ti vi gia đình liệt sĩ tặng. Cả nhà háo hức cũng ra văn phòng hết để xem ti vi màn hình mỏng hình ảnh nó như thế nào.
Khi chồng tôi đang loay hoay tháo thùng ti vi thì tôi nhìn thấy liệt sĩ đứng ngay bên cạnh Anh Hải. Bé Lâm Như mới 9 tháng tuổi đang nằm trên tay mẹ Anh Hải bế. Bỗng nhiên Lâm Như khóc váng lên, nó giãy dụa tụt khỏi tay mẹ nó lao sang ôm chặt lấy chồng tôi khóc thét lẹt.
Lúc này người Anh Hải tím tái, nó run lẩy bẩy từng cơn rồi nó òa lên khóc. Tôi hoảng quá ào ra chỗ nó, nó vồ lấy tôi và cứ thế nó gào thét lên khóc một cách bất thường. Tôi biết là liệt sĩ đã nhập vào người nó lên cuống quýt dỗ dành, mặc cho tôi nói gì thì nói nó gào khóc ôm chặt lấy tôi. Tai tôi bị váng lọng hết óc bởi tiếng gào khóc quá độ của nó. Lo con bé là gái đẻ mà khóc thế này nó bị làm sao thì chết, lại tưởng liệt sĩ không vừa ý cái ti vi lên tôi khóc theo:
- Ôi trời ơi, bố liệt sĩ ơi, bố đừng làm con sợ nữa con không dám nhận cái ti vi này. Con sẽ đóng lại ngay trả anh Mạnh. Bố ơi ,con của con bị bố nhập vào người thế này thì nó chết mất bố ơi...Có gì không vừa lòng bố nhập vào con…Con của con chết mất bố ơi…Con xin bố con lạy bố…Con không phải điều gì bố tha thứ cho con…
Mặc cho tôi kêu xin, Anh Hải vẫn cứ gào lên thảm thiết. Tôi xin trả ti vi, tôi xin tha thứ, tôi xin bỏ qua lỗi lầm khi tiếp xúc với liệt sĩ, tôi đã sai điều gì thì tôi xin cắn cỏ cắn rơm… thôi thì tất cả mọi điều tôi đều van… đều lạy…
Bé Lâm Như vừa bám chặt lấy chồng tôi, vừa khóc thét lẹt từng cơn. Nó tè dầm hết ra áo ông nó. Chồng tôi vừa dỗ cháu vừa lo lắng hết nỗi, tôi bảo anh lấy cho chiếc điện thoại tìm mãi mới thấy số anh Mạnh gọi cho anh và dí vào tai Anh Hải.
- Bố! bố ơi, anh Mạnh gọi cho bố này, con trai của bố này bố ơi…
Mặc cho tôi dỗ dành chiếc điện thoại áp bên tai Anh Hải vẫn gào thét, tiếng gào khóc, đau đớn, ai oán khiến tôi rối như tơ vò không còn biết ra làm sao nữa, chồng tôi tới gần dỗ theo:
- Bố ơi, anh Mạnh gọi bố này…
( sau này chồng tôi kể chẳng biết đầu cua tai nheo ra sao, thấy cảnh này hoảng quá đành liều gọi con mình làm bố, anh nói theo tôi vậy )
Nghe chồng tôi nói, Anh Hải gạt điện thoại ra vừa khóc vừa nói:
- Con rể của bố ơi, bố đau lòng lắm…
Rồi ôm chặt lấy tôi gào khóc to hơn, trong tiếng gào tôi nghe được từng câu nói đứt quãng:
- Con gái… ơi! Con… gái ơi… bố đau đớn… đời bố lắm… con có hiểu lòng bố không con ơi…con ơi, bố đau đớn …quá…các con ơi….
Rồi lại gào… lại khóc, tôi dí máy điện thoại vào tai năn nỉ:
- Bố ơi, con thương bố… chúng con biết, chúng con hiểu bố, bố ơi, anh Mạnh gọi bố này bố ơi…
Chợt dừng tiếng khóc “ bố” gào lên:
- Các con ơi, bố đau đớn lắm, con có hiểu cho lòng bố không…mấy chục năm bố giữ chặt trong lòng…ôi đau đớn quá…
Tôi không hiểu đầu bên kia anh Mạnh đã nói những gì nhưng chỉ nghe bên này bố gào lên lẫn tiếng khóc:
- Ô cái thằng này, mày gặp bố mày…, không hề hỏi han bố có khỏe không? Bố sống như thế nào? Chỉ có bố phù hộ độ trì cho con thế là như thế nào hả cái thằng này…, Ôi bố thương con lắm, bố chỉ có mỗi mình con côi cút trên đời này thôi, con trai của bố…con dâu của bố…các cháu của bố…bố thương các con…
Vừa gào vừa khóc rồi bố hất điện thoại ra. Gục đầu vào vai tôi nằm im. Tôi gọi chồng châm thuốc, bố rít mạnh mấy hơi qua vai tôi, rồi ngồi thẳng người lại lúc này không khóc nữa bố ngồi hút thuốc, bắt đầu nói chuyện, vừa hút thuốc vừa nói, giọng cứ oang oang như lệnh vỡ…. Từ cái giọng nói…đến cung cách ngồi, cử chỉ hành động đều là của người đàn ông, đúng là không thể tưởng tượng nổi.
- Hôm con gái bố từ Quảng Ninh về bố cũng theo về luôn. Bố chờ con gái nói chuyện với con rể bố, các cháu của bố về bố mà con gái chẳng nói gì cả. Bố tủi thân quá, vậy mà con gái bố lại hứa với trai của bố, dâu của bố là về sẽ nói chuyện với rể bố chứ lại…
Rồi quay về phía chồng tôi bố nói tiếp:
- Con rể của bố, con có biết không mấy hôm trước vợ con với anh con sang Lào đón bố. Trên đường đi, anh em nó nói chuyện với nhau bố ngồi bố nghe hết, thương chúng nó quá, đứa nào cũng khổ. Anh con có bố thì bố hi sinh sớm nên anh con côi cút lắm các con ơi, tuổi thơ của anh con khổ cực lắm đấy các con ạ… Còn vợ con có bố đẻ sống đấy mà chẳng nhìn nom đến phút nào, cứ như thể không có mặt con mình trên đời, người gì mà vô tình bạc nghĩa đến vậy, nên bố thương con trai, con gái bố. Đời bố bị người ta phụ bạc, đã vậy lúc bố ra đi người ta cũng quên luôn cả hòn máu đào của bố…, Bố thương anh con lắm. Các con của bố, tội nghiệp các con quá, bố thương, bố xót lắm…
Và rồi bố quay sang phía bé Lâm Như đã ngủ, bố sờ nắn tay con nhỏ, bố bảo:
- Cháu ngoại của cụ, nó nhìn thấy cụ nên nó lạ quá, nó sợ nó khóc đấy, chứ cụ về cụ có làm gì đâu mà con sợ thế con…khổ thân nó, cụ về thăm mà nó hết hồn hết vía vì cụ nó đây…
Rồi bố cười nhẹ:
- Ơn trời giờ đây bố có con trai, con gái, con dâu con rể, có cháu nội, cháu ngoại, có cả chắt ngoại nữa. Bố sung sướng, hạnh phúc lắm, các con của bố ơi, giai của bố, dâu của bố, gái của bố, rể của bố, các cháu của bố…
Tôi chen ngang:
- Thưa bố con lạy bố, xin bố nhập vào con, cháu Anh Hải nó mới sinh con bố về thế con sợ lắm bố ạ…
Bố xoa đầu tôi bảo:
- Bố hợp nó, thôi bố đi đây bảo anh chị con từ nay đến tết lên đây cho bố gặp nhé. Bố cảm ơn con, nhất là con rể bố.
Thấy bố đã vui tôi thật lòng thưa:
- Thưa bố, con có sai gì con xin bố tha thứ, bố về bố khóc hết hơi thế này, lần sau bố lại về con sợ lắm.
- Thông cảm cho bố, chỉ một lần này thôi bố dồn nén trong tâm mấy chục năm rồi, bố không có ai có thể hiểu để bố chia sẻ nỗi khổ day dứt trong tâm này. Nay bố nói được với con gái bố, bố thấy nhẹ nhõm đi nhiều rồi, bố sẽ cố gắng không nghĩ đến chuyện buồn đó nữa, lần sau về bố sẽ vui. Bố không chấp gì con vì khi đó con chưa biết, chưa hiểu, còn bây giờ con đã biết mà còn hành động như thế là không được. Hai con nghe bố dạy, từ nay bố về nhà ở với các con, chứ bố không ở nhà anh chị con đâu, bố hợp với con gái bố, cho nên từ nay trở đi phải thờ bố đấy nhé, bố hợp với gái bố, bố ở với gái bố…
Nói đến đây Anh Hải đổ vật ra. Chân, tay, người ngợm nó lạnh ngắt, môi tím tái, tôi đặt Anh Hải nằm đắp chăn cho nó rồi lay nó tỉnh lại…Cả nhà tôi được một mẻ hồn bay… phách lạc…. Lúc này tôi mới bình tâm lại. Đúng là sợ quá, sợ hết cả hồn lẫn vía, cái tai trái của tôi nhức buốt vì Hải khóc hét vào bên đó. Tôi ngồi thở dốc như con hết hơi nghĩ lại mà hãi mà kinh, cũng may tôi đã trải qua nhiều năm tháng làm việc. Tôi đã chứng kiến rất nhiều những hiện tượng tương tự như thế này, chứ nếu như tôi và người thân của tôi chứng kiến lần đầu thì có lẽ sợ quá mà phát loạn lên mất, không thì cũng vỡ tim mà chết.
Còn Hải lần đầu tiên bị hồn nhập. Ngày hôm sau con bé nằm li bì như người bệnh nặng, nhiều ngày sau đó nó cứ như người mất hồn, tôi lên trạm y tế xã nhờ người khám và tiếp đạm, nước cho nó.
Thế là sau chuyện xảy ra, cả nhà tôi chẳng ai bảo ai, tôi cũng khỏi phải tìm cách nói chuyện với gia đình. Cả nhà tôi vui hẳn lên vì từ nay gia đình tôi có thêm một ông ngoại nữa. Các con tôi luôn mồm nói chuyện về “ông ngoại liệt sĩ nhà mình” vì bây giờ tôi có tới ba người bố, nên gia đình tôi quyết định đặt danh như sau cho dễ hiểu. Người bố sinh ra tôi nhưng không một ngày nuôi nấng gọi là ông ngoại sinh. Người bố cả một đời nuôi dưỡng tôi gọi là ông ngoại nuôi và gia đình tôi tự hào có thêm một ông ngoại liệt sĩ.

Nguồn sống bất tận

Sau lần đó mỗi lần tôi gặp được bố, tôi thấy bố tôi vui lắm. Bố dạy bảo, trò chuyện, căn dặn tôi rất đủ điều. Tôi sung sướng và hạnh phúc lẫn tự hào được làm con gái bố. Mỗi bước tôi đi dù khó khăn đến đâu bố cũng bên tôi động viên kịp thời. Bố kể cho tôi nghe về cuộc đời của bố.
Chuyện rằng: Thời gian trôi đi từ nửa thế kỉ trước, câu chuyện này chỉ còn những người già họa chăng mới nhớ. Ở một làng quê thuộc tỉnh Thái Bình có hai gia đình rất thân nhau. Họ thân nhau tới mức củ khoai bẻ nửa, đấu thóc chia hai. Và một ngày cả hai bà vợ đều mang thai. Họ hẹn với nhau rằng nếu cả hai cùng sinh trai hoặc gái thì khi hai đứa bé sinh ra sẽ làm lễ cho chúng kết nghĩa làm chị làm em như anh em một nhà. Còn nếu như hai bà, người sinh con trai kẻ sinh con gái thì họ sẽ làm lễ gả con cho nhau ngay sau khi cả hai đứa trẻ ra đời.
Đến ngày khai hoa, hai đứa trẻ một trai mộ gái ra đời trong sự vui mừng khôn xiết của hai họ, giao ước được thực hiện.
Ngày qua tháng lại, hai trẻ lớn lên và trở thành đôi trai tài gái sắc. Họ yêu nhau giống như ông tơ bà nguyệt sắp đặt xe duyên cho họ từ kiếp nào. Nhưng thương thay cho mối tình mặn nồng tưởng không gì có thể chia cắt được lại bị vướng vào chuyện vẫn thường xảy ra trong cuộc đời này. Gia đình người con trai vướng vào chuyện mang ơn một gia đình khác. Người con trai buộc phải lựa chọn giữa “ bên tình bên nghĩa bên nào nặng hơn” ?
Người con trai phải lấy một người con gái không yêu để trả món nợ đời của gia đình. Vậy là mối giao ước keo sơn đành để lại. Gia đình nhà cô gái càng thêm thương cho gia đình người bạn, xót xa cảnh hai con trẻ phải đôi đường đôi ngả.
Người con gái sống âm thầm, lặng lẽ vắng hẳn tiếng cười tiếng nói. Mỗi lần nhìn thấy bóng dáng người yêu lại thảng thốt nhớ lại mối tình xưa.
Người con trai dù đã lấy vợ song chàng chẳng thể nào quên nổi người con gái mình yêu.
Chuyện từ ngàn xưa ở trên đời cho tới tận bây giờ có mấy ai sống hạnh phúc bên người mình không yêu, người con trai cũng không là ngoại lệ.
Sau đám cưới chẳng được bao ngày, đôi vợ chồng trẻ cơm chẳng lành canh không ngọt, ông chằng bà chuộc bắt đầu ruồng rẫy lẫn nhau.
Người vợ cắp nón về nhà đẻ trong lúc bụng đang mang thai đứa con đầu lòng. Sinh con xong, người vợ mang trả cháu cho gia đình bên nội. Rồi cả đôi vợ chồng ấy thoát li khỏi quê hương theo một cách riêng.
Chuyện vợ chồng đứt ngang đường, người con trai càng nhớ tới mối tình đầu nồng thắm, nghĩ tới người yêu bao nhiêu thì chàng trai càng thương đứa con của mình bấy nhiêu.
Một lần về thăm quê, lấy hết can đảm của người đi xa về, trái tim người con trai vẫn thổn thức tiếng gọi tha thiết của tình yêu. Người con trai dẫn con đến gặp người yêu, tuy nhiên chuyện cũ qua rồi dù có đau đớn bao nhiêu thì cả hai cũng chẳng dám nhắc tới, dù cho bên ngoài vẫn nói nói, cười cười nhưng trong sâu thẳm con tim cả hai đều đau như thắt chẳng thể vỡ òa tiếng yêu thương.
Dằn lòng gửi lại những yêu thương, thổn thức chia tay người con gái, người con trai chỉ dám dặn một câu ý tứ xa vời:
- Thôi, hay cậu đừng đi lấy chồng nữa, ở nhà nuôi con giúp tớ.
Tay trong tay, người con gái lặng im mắt ngấn lệ sầu.
- Chờ anh về… chờ anh về…
Người con trai lí nhí trong họng mấy lời hẹn ước.
Chỉ bấy nhiêu thôi lời người yêu nói, cô gái như hiểu được tất cả nỗi giằng xé trong lòng của người yêu mình, chẳng biết nói làm sao? Biết hẹn ước thế nào cho đúng nghĩa?
Bây giờ người con trai còn đi chiến đấu, biết hẹn ngày nào về…

Bước trong hàng quân, lòng người nơi chiến trận mong đất nước hòa bình, quê hương sạch bóng quân thù. Người con trai trở về trong vòng tình yêu của người con gái. Người con trai sẽ bù đắp cho người con gái tất cả. Họ và con sẽ sống một cuộc đời viên mãn. Các thành viên trong gia đình phải nhất mực yêu thương nhau, những đứa con sau của họ phải hết lòng yêu thương anh trai chúng nó, bởi chúng đều cùng một bố sinh ra, nhưng anh chúng nó thiệt thòi lớn lắm, không có tình yêu thương của mẹ lại thiếu vắng cha, những thứ đó không gì bù đắp được ngòai tình yêu thương to lớn của tổ ấm gia đình.
Niềm khát khao nhỏ nhoi nhưng cháy bỏng của người con trai không thành hiện thực. Như bao chàng trai Việt Nam khác người con trai đã ngã xuống nơi chiến trận. Người con trai hi sinh cho ngày mai, cho nền độc lập tự do và khi ấy người con trai còn mang theo cả nỗi niềm của mình sang thế giới bên kia…
Còn người con gái đẹp người đẹp nét ấy thề với lòng quyết chờ ngày tái hợp lên duyên với người con trai. Lời dặn, cô gái vẫn nhớ như in nhưng không thể mang con người yêu về nuôi được vì cô chẳng phải vợ cũng chẳng phải họ hàng. Cô gái chỉ biết âm thầm chăm con của người yêu bằng cả tấm lòng của người mẹ.
Năm này qua năm khác cô gái mong bóng nhạn trở về.
Nhưng rồi một ngày, cô gái là một trong những người chính thức dự lễ truy điệu chàng trai mình yêu ở ủy ban xã, đất dưới chân cô như sụp đổ… Cô tôn thờ mối tình trong trắng….
Nghe truyện mà tái tim tôi như vỡ ra, tan nát. Tôi mất hết cảm giác của con người thực tại, đau khổ trào dâng trong lòng, thương xót không vô cớ… tôi đã ngồi khóc như mưa như gió, tôi xót xa…
Người ta thường có câu “ chết là hết”. Nhưng không, người ta đã quá nhầm. Chết chưa phải là hết, chết chỉ là sự chấm dứt một cuộc đời hiện tại để tiếp tục sống một cuộc đời khác.
Tôi đã hiểu hơn những gì bố tôi muốn nói với tôi, và tôi càng thấm thía một điều trên đời này, mỗi con người đều có một khoảng riêng tư sâu lắng. Không phải gặp ai cũng nói ra chuyện của mình, cái gì cũng có thể chia sẻ, bố tôi cũng vậy. Tôi hiểu giờ đây bố đã gửi gắm tình cảm yêu thương nhất mực dành cho tôi người con gái nuôi của bố.
Tôi nhớ lại lần thứ hai bố về nhập vào Hải đó là vào một ngày giáp tết nguyên đán. Vợ chồng anh Mạnh lên văn phòng chia tay gia đình tôi trước khi chúng tôi về quê ăn tết. Bố đã về nhập vào Anh Hải như lời dặn lần trước, nhưng hôm đó bố không khóc. Bố ngồi nói chuyện với chúng tôi, những đứa con trai, con gái, con dâu, con rể của bố, bố căn dặn chúng tôi sống với nhau cho cho có tình có nghĩa.
Bố nói rằng:
- Các con hãy hiểu rằng bố đang tồn tại, đừng bao giờ nghĩ bố đã chết. Bố vẫn còn sống trong trái tim các con từng giờ từng phút, thân xác của bố tuy không còn nhưng linh hồn bố luôn gần gũi các con. Bố nói thế này cho các con của bố hiểu ý bố dạy. Ví như bố đã hi sinh cách đây mấy chục năm nhưng trong lòng con Mạnh chưa khi nào quên bố, còn bố dù không còn thân xác như các con nhưng ở nơi đây bố vẫn đau đáu nghĩ về con, bố trông con trưởng thành từng ngày… như vậy bố không phải là người đã chết. Tuy không nhìn thấy bố nhưng trong thâm tâm các con lúc nào cũng thấy sự hiện diện của bố như vậy chứng tỏ rằng bố vẫn đang còn tồn tại cùng người thân. Chỉ có những người còn đang sống mà họ không cần biết đến cha mẹ ông bà của họ là ai, người thân ruột thịt của họ con cháu họ là ai, ở đâu, họ chỉ sống cho riêng họ, họ cố tình quên đi cái cái đạo lí con người, cái tâm của họ bị mất đi, họ không hiểu thế nào là sống cho có đạo làm người, đạo gia tiên. Họ sẵn sàng bỏ đi tất cả để theo đuổi mục đích riêng phục vụ cho chính họ, họ chà đạp lên cả luân thường đạo lí, không biết yêu thương đồng loại, không coi đồng loại như máu mủ ruột thịt của mình, những người như thế mới thật sự đã chết, họ đã chết trong lòng người thân và trong xã hội nơi họ đang tồn tại…Khi nghe bố nói các con sẽ hiểu hơn có quan niệm mới hơn về chữ “sống” và “chết” của con người. Khái niệm về sự sống chết sẽ được hiểu rộng hơn… Bố cảm ơn các con đã giành cho bố hạnh phúc này. Hôm nay bố gọi con giai bố, con dâu bố lên đây là để gia đình ta đoàn viên, các con trai, gái, dâu, rể của bố hãy nhớ mốc ngày hôm nay, để rồi mỗi ngày qua đi…ta đã sống tốt rồi thì ta sẽ sống cho tốt hơn nữa…sống sao cho “tốt đời đẹp đạo” Con người sống phải lấy chữ lương tâm đạo đức làm đầu các con ạ…
Và rồi bố nhận xét điểm ưu, nhược của mỗi đứa con của bố, cần phải thay đổi thế nào cho con người toàn diện hơn.
Bố bảo lẽ ra những điều này các con đã được bố mẹ dạy từ khi nhỏ nhưng nay vì chúng tôi những đứa con của bố lớn đến bằng này tuổi mà vẫn chịu một nỗi thiệt thòi không lấy gì bù đắp được. Chúng tôi chưa được nghe một lời dạy bảo nào từ bố, thì lần này âu cũng là một kỉ niệm đáng ghi nhớ trong cuộc đời của mỗi chúng tôi, và đây cũng là niềm an ủi, một hạnh phúc nho nhỏ theo lẽ thường của người làm cha làm mẹ.
Chúng tôi, những người con của bố đã khóc trong hạnh phúc thiêng liêng mà tôi biết không phải bất cứ ai cũng có hạnh phúc này.
Rất nhiều ngày sau này tôi vẫn nhớ những điều dạy bảo của bố, qua bố tôi hiểu hơn về thế giới tôi đang tiếp cận trong đó có những người ruột thịt của tôi. Trước đây tôi tự hào về mình lắm, tôi tự cho mình là người đặc biệt, là kì tài, và hiểu biết về thế giới tâm linh hơn hẳn những người khác, nhưng giờ đây tôi mới hiểu thêm rằng người ta nói con người luôn luôn vướng phải cái chữ “tôi” quả là không sai chút nào.
Nhớ lại cả một quá trình gặp bố đúng là bố đã dẫn dắt tôi hiểu nhiều về cuộc đời của bố, tôi sẽ hiểu về những con người nơi ấy nhiều hơn và đây cũng là những bài học cho tôi cố gắng tự hoàn thiện mình.
Khi trước chính tôi không hiểu gì về cuộc đời bố để mà chia sẻ, để mà thông cảm để mà yêu thương, đã thế tôi chụp mũ đánh giá bố tôi là người ích kỉ, không biết thông cảm cho người vợ trẻ của bố.
Hoặc cả những điều bố nhắc nhở dặn dò khi bố trở về có cờ dong trống rước thì tôi lại cho rằng bố nói vậy mà bố chẳng hiểu gì, nhưng thực ra tôi mới là người không hiểu gì cả, tôi bảo thủ chỉ cố tình hiểu theo cái lí của mình mà không chịu lắng nghe người khác nói.
Bố nhận tôi làm con là vì bố quá thương tôi và bố cũng muốn bù đắp cho anh tôi. Bố nhận tôi làm con gái bố là để cho chúng tôi những người đang sống. Nhớ hôm bố về gặp các con, anh Mạnh hỏi bố.
- Bố ơi! Bố cứ nói thật với con đi, thế bao nhiêu năm ở bên Lào bố có “dì” nào sinh cho con một đứa em không hả bố.
Nghe anh nói bố nghiêm mặt quát:
- Con nghĩ thế nào về bố mà hỏi bố câu ấy? Phẩm chất đạo đức của người lính cụ Hồ là phải như thế nào? Con nghĩ gì mà hỏi bố thế, các con coi thường bố đấy phải không?”
Thấy bố quát tôi sợ xin lỗi thay anh rồi thắc mắc:
- Dạ thưa bố con có nói sai bố tha thứ cho con gái bố, thế sao trước khi đi tìm mộ bố chúng con mời bố về bố lại bảo bố đi bản chơi bị phỉ nó bắn chết có phải không ạ?
Bố cười bảo tôi:
- Con gái nghe bố dạy, con làm việc này là việc tâm việc đức khi tiếp xúc với người âm, con phải biết lắng nghe người ta nói, khi người ta nói cái gì không biết phải tìm hiểu rồi hãy nói không nên nói bừa nói ẩu, bố rất không vừa lòng với con, khi con hỏi trường hợp bố hi sinh, bố đã nói bố hi sinh ở Cánh đồng Chum rồi con còn cãi bố, tức quá thì bố nói như vậy. Bố hi sinh trong trường hợp đang chiến đấu bố bị thương rất nặng ở đùi và bụng bên phải máu ra nhiều nên hi sinh.
Tôi tò mò hỏi:
- Bố ơi, con rất muốn biết, trước lúc chết bố có biết mình sẽ chết không ạ, lúc đó bố có nghĩ gì không hả bố.
Dừng một lúc bố rầu rầu nói:
- Bố bị thương nặng lắm. Trước lúc chết bố vẫn tỉnh táo. Bố nghĩ về cuộc chiến tranh này và tin vào ngày chiến thắng…rồi bố nghĩ về quê hương, bố nghĩ về con trai bố, bố thương anh của con thắt ruột…, rồi bố… ngóp ngép bố… chết…
Nghe bố nói, họng tôi nghẹt đắng không thể nào hỏi thêm bố được câu nào, tôi hình dung ra cảnh đó mà trong lòng cồn cào xót xa.
Tôi hiểu tại sao bố lại thương lại xót anh Mạnh đến như thế. Cái lần tôi gặp mẹ anh Mạnh. Khi nói chuyện, tôi thấy bà xưng mợ với vợ chồng anh Mạnh nhưng người em cùng mẹ của anh Mạnh thì bà lại xưng bằng mẹ. Tôi hỏi anh Mạnh, anh bảo, anh cũng chẳng biết từ hồi bé tí mẹ đã dạy anh gọi mẹ là mợ mỗi khi anh tìm đến thăm bà, và cái từ mợ ấy anh cũng chỉ được gọi năm thì mười họa chứ có được gặp bà đâu mà gọi.
Ôi trời ơi! Tôi chẳng biết nói thế nào chỉ biết nhớ như in câu chuyện bố kể “… Những đứa con sau của chàng và nàng phải hết lòng yêu thương anh trai chúng nó, bởi chúng đều cùng một bố sinh ra, nhưng anh chúng nó thiệt thòi lớn lắm, không có tình yêu thương của mẹ lại thiếu vắng cha, những thứ đó không gì bù đắp được ngoài tình yêu thương to lớn của tổ ấm gia đình…
Có lẽ bố giận mẹ anh Mạnh nhất là việc mẹ anh bỏ đứa con mà chính mình dứt ruột đẻ ra. Thương bố bao nhiêu thì tôi chỉ biết cố sống tốt hơn, cố hoàn thiện mình nhiều hơn để có thể bù đắp cho tất cả những gì mà khi xưa bố đã mất mát. Tôi hiểu bố đã rất cố gắng tiếp tiếp xúc với tôi bằng mọi cách, bằng cử chỉ hành động bằng lời nói, có nghĩa bằng tất cả tình thương yêu bố dành cho tôi là bố muốn truyền sang cho tôi sức mạnh của tình yêu thương bao la, và tôi cố gắng cảm nhận nó một cách chính xác nhất, tôi thật cố gắng hết mình để đón nhận tình cảm thiêng liêng, quí báu này của con người từ hai cõi giới.
Bố tôi thường bảo chuyện của bố tôi đã được biết, bố mong tôi hiểu, sự hiểu biết của tôi về bố phải được liên hệ rộng hơn trong cuộc đời này. Điều này thật quan trọng bằng công việc của tôi đang làm, nó đòi hỏi phải trải qua nhiều sự việc, hiện tượng và tôi biết còn nhiều gian nan vất vả đang nằm phía trước.
Bố tôi là người rất nóng nóng tính, nhưng bố tôi là người rất đỗi thương yêu tôi. Bố bảo bố chỉ hợp nhất với mỗi con gái bố cho nên tôi mới được bố cho biết về cuộc đời bố nhiều hơn bất cứ ai.
Qua bố tôi tự tích lũy thêm được nhiều hiểu biết, việc nhận thức này như một sự thẩm thấu trong tôi, bố vẫn thường dạy tôi rằng nếu như con người ta không chịu trải mình và trau dồi, để gột bỏ bớt cái “ Tôi” trong mỗi người thì khó lắm, điều bố mong muốn nhất là chính tôi phải hiểu rằng công việc của tôi còn rất dài. Tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người âm, tôi đã được trải nghiệm trong thế giới nhiệm màu, qua đây sẽ là một sự minh chứng, chứng minh sự tồn tại của con người trong thế giới bên kia, sự nhận thức ấy chính là một sự khai sáng tâm linh của con người
Và bố nhấn mạnh với tôi rằng nếu như tôi không phải người am hiểu về bản chất của tâm linh thì rồi tất cả đều sẽ trở thành nửa vời..
Bố muốn tôi hiểu được điều bố nói.
Nghe bố dạy tôi giật mình, quả thật tôi chưa nghĩ đến điều này, việc bố nói tôi còn phải nghĩ xem nên bắt đầu từ những việc như thế nào? vấn đề này đòi hỏi tôi phải có nhiều trải nghiệm mới có thể hiểu để mà tự giải thích được phần nào.

Một đời trăn trở.

Tôi đã bắt tay vào viết từ rất lâu câu chuyện có thật này. Tôi viết từ thủa câu chuyện được khai sinh, từ những ngày đầu tiên tôi lọt vào khoảng trời đất của thế giới thứ hai. Cơ thể tôi phát tác ra khả năng nghe, nhìn về một thế giới khác đang tồn tại song hành với chúng ta và tôi đã tiếp xúc với biết bao nhiêu tầng lớp người của thế giới đó. Tôi đã tìm ra biết bao câu chuyện và cả những bí mật trong chính cuộc đời tôi và những người khác nữa. Cứ thế con đường khám phá tâm linh huyền bí cứ dẫn dắt tôi đi ngày một dài thêm và tôi, từ những câu chuyện rất đỗi đời thường của con người cho đến những lần tìm mộ, những thông tin tôi nhận được về thân thế liệt sĩ. Từ những chuyến đi tìm mộ đã để lại cho trong tâm tôi rất nhiều câu chuyện cảm động về tình anh em, tình cha con, tình đồng đội. Điều này càng thôi thúc tôi làm việc hết mình và nghiên cứu về những lĩnh vực liên quan đến tìm mộ bằng phương pháp ngoại cảm của con người.
Cũng trong những lần sử dụng khả năng của mình trong việc tìm mộ, tôi cũng cố gắng tìm hiểu những luận cứ mang tính khoa học để phần nào lý giải những thắc mắc mà chính tôi cũng muốn tìm lời giải đáp. Những người có khả năng tiếp cận được với người đã khuất là rất ít, có thể như anh Khanh nói “ 99% là nhà ngoại cảm rởm” và khả năng ngoại cảm là khả năng hoàn toàn tự nhiên của con người, không ai có thể học hoặc được truyền nghề mà trở thành nhà ngoại cảm được.
Những lần tìm mộ nơi rừng sâu núi thẳm trong lòng đất lạnh, những phần xương cốt mục nát vụn tơi chỉ thành vệt trắng bột hình người nằm theo nhiều tư thế chất khác nhau. Từ những thông tin của liệt sĩ mà sau đó tìm ra được những hố chôn tập thể, bao nhiêu hài cốt chồng chất lên nhau, hoặc khi tìm thấy di vật bé tí ti của liệt sĩ phải tẩn mẩn mò tìm, nhưng chiếc răng viền vàng, răng giả, chiếc cúc áo, đôi dép liệt sĩ đi… những di vật nằm cùng hài cốt và cả những ngôi mộ trong rừng mà khi khai quật thì cả đoàn tá hỏa vì sau bốn mươi năm lòng trong lòng đất lạnh thân thể người liệt sĩ không hề tiêu, tất cả còn y nguyên.
Và tôi cũng biết có rất nhiều trường hợp không thể tìm được hài cốt, chính điều này làm tôi phân vân nhất. Vậy thì có nhất thiết phải tìm bằng được hài cốt hay không? Người ta sẽ phải tìm như thế nào khi mà hài cốt không còn nữa? Chính vấn đề này mới gây nhiều bức xúc, tranh luận trong nhiều người, vấn đề này tôi cần phải được nghiên cứu thêm trước khi kết luận. Nhưng bằng trải nghiệm thực tế thì rõ ràng tôi phải hiểu con người khi sống gồm có hai phần đó là linh hồn và thân xác. Khi người ta chết linh hồn và thân xác tách dời nhau, cho dù hài cốt có trở về với cát bụi thì linh hồn vẫn còn tồn tại chính vì thế khi chúng ta đi tìm hài cốt phần linh hồn buộc phải tìm cách xuất hiện để hỗ trợ chúng ta tìm kiếm phần hài cốt.
Hoặc giả linh hồn cho chúng ta những thông tin để chúng ta nhận biết hài cốt có còn hay không? Nhưng tôi vẫn biết rất nhiều trường hợp vì quá thương quá tiếc người đã khuất cho nên khi có thông tin từ linh hồn hài cốt không còn người thân vẫn không chịu tin.
Tôi nghĩ điều quan trọng nhất trong cuộc đời này là con người ta không bao giờ lãng quên nhau. Là cái tình con người, là sự nối kết của hai cõi âm dương, là sự hiểu nhau, chắc người chết không bao giờ sợ bị mất hài cốt, bởi rằng những thứ đó sẽ dần trở về với cát bụi, người chết chỉ sợ người sống lãng quên họ.
Tôi đã tiếp cận với bao nhiêu câu chuyện có thực của các linh hồn. Nhờ vào sự tiếp cận này người thân mới tìm lại được nhau, con người tồn tại ở hai cõi giới dạy bảo lẫn nhau, họ cùng nhau soi vào những cái gương của người đi trước để rồi lấy đó làm bài học cho người người đi sau sẽ tự hoàn thiện chính mình hơn nữa…
Vẫn biết rằng thế giới tâm linh là một thế giới có thật tồn tại song song với thế giới của chúng ta đang sống, nhưng nhận thức điều đó như thế nào mới là cả một vấn đề lớn cho chúng ta phải suy nghĩ. Tôi tự ý thức rằng khả năng ngoại cảm chỉ là sự ứng dụng, là sự tiếp cận với con người cả hai thế giới duy vật và duy linh của tôi, để từ đó tôi có thể vận dụng vào làm một số việc hữu ích cho cả hai thế giới này.
Tuy nhiên khả năng tiếp cận với thế giới bên kia của tôi không phải lúc nào cũng thực hiện được, và cũng không phải khi tôi là nhà ngoại cảm thì có nghĩa tôi là người cái gì tôi cũng biết cũng hiểu, nhất là cái hiểu biết ở thế giới bên kia, hoặc giả cái gì tôi cũng làm được, vì nhà ngoại cảm chỉ là một con người hoàn toàn bằng xương bằng thịt.
Sự trải nghiệm này cho tôi những kinh nghiệm rút ra từ chính trong công việc tôi đang làm, nó tích cóp thêm những hiểu biết, những thật và những giả trong thế giới hư ảo này.
Tôi chắc một điều rằng tâm linh không phải là mục đích trong cuộc đời mỗi người, mà thông qua đó mỗi người tự cố gắng hoàn thiện mình theo từng cách riêng.
Phải chăng tâm linh là cả một kho tàng tri thức.
Mỗi cá nhân đều phải có nhận thức đúng đắn về lĩnh vực “tâm linh”
Bởi chữ Tâm là cái tâm của con người, cái suy nghĩ của con người, cái tính cách của con người, ý diễn đạt cái tâm là góc nhìn hiểu biết về một góc độ nào đó.
Và chữ Linh, là một cái nhìn về linh hồn, linh hồn thì theo thế giới vật chất người ta khẳng định không tồn tại.
Tôi đã và đang hàng ngày tiếp cận cùng những con người tồn tại thế giới bên kia. Tôi cần phải hiểu phải biết nhiều hơn để chứng minh sự tồn tại của con người trong thế giới tâm linh, những con người đó họ cũng đang tồn tại và cũng sống phần nào như chúng ta mà chỉ có tôi hoặc một số người khác biết được họ qua những khả năng ngoại cảm của chính mình.
Có thể khả năng này của tôi kéo dài cả một đời của cá nhân tôi, cùng với nhiều đời, nhiều người có những phần nào về khả năng đặc dị như thế này.
Khả năng ngoại cảm của nhà ngoại cảm là chứng minh một sự thật có tồn tại một thế giới duy linh, quá trình chứng minh này không phải một lần mà phải nhiều lần, nhất định tâm linh phải được chứng minh cho dù nó có phải trải qua một quá trình dài dằng dặc để được mọi người cảm thấy xác đáng và sự thật.
Để rồi một thế giới vô hư được tỏ trong tâm mỗi người.
Tôi nhận thấy trách nhiệm dành cho tôi và các nhà ngoại cảm lớn lao lắm. Có thể tôi chưa tin vào những điều kỳ diệu một cách tuyệt đối, tôi luôn luôn đòi hỏi sự kiểm chứng có thể bằng cách này hay cách khác, song tôi tin thế giới tâm linh đã và đang diễn ra mọi lúc mọi nơi, ở những thời khắc bất chợt nào đó trong cuộc sống trần tục này.
Có thể tôi chưa hiểu về Chúa, về phật, và các đấng siêu nhiên cũng như những thiên thần hộ mệnh. Về người âm, về linh hồn…
Tôi chưa hiểu chính cả tôi, trong khi tôi vẫn đau đớn vì tình yêu thương con người với con người mất đi, và cả những người thân thiết của tôi ra đi mai mãi không bao giờ gặp lại, tôi sợ sự chết chóc, tôi sợ cả sự đau thương, những tai nạn, cả những căn bệnh hiểm nghèo hoành hành con người.…Nhưng tôi tin con người là một sinh vật mầu nhiệm nhất và trực giác chúng ta có một sức mạnh vô địch.
Điều này được chứng minh qua cá nhân tôi và rất nhiều người khác nữa, qua rất nhiều câu chuyện có thật đang diễn ra hàng ngày.
Những người có khả năng thấu thị họăc có giác quan thứ sáu để “nhận thức” được những đấng vô hình trong khỏanh khắc…
Những tiếng nói vọng về từ cõi xa xăm, những hình ảnh, hoặc một hiện tượng nào đó xảy đến trong những giây phút thóang qua trong đời mỗi người, Tôi luôn luôn tin tưởng và lắng nghe, tìm kiếm những điều kỳ diệu trong cuộc sống.
Những trải nghiệm kỳ bí nhưng rất thật này sẽ giúp tôi tin rằng cuộc sống này cuộc đời này là sức mạnh của tình yêu thương bao la.
Qua thực hành tâm linh tôi thấy mình là người hạnh phúc nhất thế gian, tôi đã được trải nghiệm với con người của hai thế giới, tôi hiểu được nhiều điều, và tôi hiểu ra rằng trong cuộc đời này người hạnh phúc nhất là người là biết cho và biết nhận, sự chia sẻ không phải chờ chời điểm.
Sự cống hiến phải là cả cuộc đời. Sống cuộc đời này là để yêu thương và tha thứ. Sức mạnh của tình yêu thương sẽ xóa tan hận thù.
Trải nghiệm tâm linh giúp tôi nhìn nhận vào cuộc sống thực tế nhiều hơn, và từ cuộc sống của mỗi người quanh tôi để tôi đúc rút thêm ra kinh nghiệm trong cuộc sống của cuộc đời này.
Xã hội Việt nam hiện nay số đông đã nhận thức khá rõ vấn đề nhạy cảm, nhà ngoại cảm là những người sở hữu tự nhiên những cảm quan không bằng các giác quan bình thường, tìm mộ bằng ngoại cảm là một bộ môn khoa khọc, người tìm hiểu khai thác lĩnh vực này phải có nhận thức, hiểu biết đúng đắn, các nhà ngoại cảm giỏi là những người ngoài việc người đó có khả năng xuất chúng kì tài, họ còn phải là một người có học thức hiểu biết sâu rộng.
Tôi nghĩ rằng những hiện tượng ngoại cảm cũng là một nét văn hóa trong nền văn hóa tâm linh. Từ những trải nghiệm tâm linh đã cho tôi biết, không ai làm việc này một mình, ai ai cũng có những khả năng cảm nhận, có điều khả năng có nhiều hay ít của chúng ta phụ thuộc vào mỗi cá nhân, chúng ta sẽ ứng dụng được vào được trong cuộc sống thực tế của mỗi chúng ta.
Tôi biết rằng khả năng ngoại cảm của tôi chỉ là phương tiện cho tôi tự hoàn thiện chính mình. Từ đây tôi rút ra được những bài học hữu ích trong cuộc đời và sự trưởng thành của tôi, tôi tin rằng suy nghĩ, nhận thức của tôi cũng sẽ phần nào giống như rất nhiều người. Cả đời này tôi chỉ mong được cùng tất cả mọi người cùng chia sẻ cái biết, cái thấy, cái hiểu, những mắc mớ những băn khoăn về thế giới vô hư, và rồi tất chúng ta cùng hành trình, cùng khám phá, cùng phân tích những phải trái những đúng sai, để chúng ta tích lũy nhiều hơn vào vốn hiểu biết của chính chúng ta về cuộc sống thứ hai của mỗi chúng ta trong thế giới tâm linh huyền bí lung linh luôn tỏa sáng.
Để rồi trong mỗi chúng ta khi nhắc đến điều này đều thật sự trân trọng cái giá trị đích thực của nó.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10/2010.
Nguyễn Ngọc Hoài.
Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Giải oan cho "bảo tàng văn hóa" lên đồng    Mon Apr 04, 2011 9:23 pm


Giải oan cho "bảo tàng văn hóa" lên đồng



Cập nhật lúc 24/02/2011 09:37:54 AM (GMT+7)

- Lần đầu tiên, có một cuộc "giải oan" cho lên đồng - “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc.




Chương trình hội thảo và biểu diễn “Lên đồng – Bảo tàng sống của người Việt” tối 23/2 đã khiến Trung tâm Văn hóa Pháp - L’Espace (24 Tràng Tiền, Hà Nội) lần đầu tiên rơi vào tình trạng quá tải. TS Nguyễn Xuân Diện (Viện nghiên cứu Hán Nôm) chắc sẽ không còn rơi nước mắt khi biết được rằng có hàng trăm bạn trẻ đứng theo dõi chương trình của ông qua màn ảnh lớn bên ngoài trung tâm. Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa – GS.TS Ngô Đức Thịnh thẳng thắn trả lời mọi câu hỏi khi bị nghi ngờ về việc nghiên cứu lên đồng để “tiến căn trình đồng mở phủ”…





Không nặng nề và khô cứng, cuộc nói chuyện đầy lí thú của GS Ngô Đức Thịnh và TS Nguyễn Xuân Diện đã xóa tan khoảng cách giữa khán giả trẻ tuổi và những người am hiểu về lên đồng.

GS Thịnh đưa một ví dụ sinh động về thái độ với hoạt động Lên đồng hiện nay: “Lên đồng chỉ giống một đứa trẻ mới sinh ra, những kẻ "đồng đú - đồng đua" khiến đứa trẻ đó bị bẩn. Bỏ rơi đứa bé là điều không nên, hãy gột rửa cho nó như người Việt ta có câu gạn đục khơi trong mới là hành động đúng đắn”.

Lên đồng là một bảo tàng sống

TS Nguyễn Xuân Diện thu hút sự chú ý bằng lời trích dẫn của một học giả nước ngoài trước khi đưa ra lí giải: “Lên đồng có đầy đủ âm sắc của âm nhạc Việt qua hát chầu văn và dàn nhạc chầu, các điệu múa và trang phục thiêng của các vùng miền cũng được thể hiện. Rồi mỹ nghệ chế tác tinh xảo cùng nghệ thuật điêu khắc, hội họa qua các đồ dâng cúng, tranh thờ, tượng Phật… Đặc biệt hơn cả, do không phải kiêng nên lên đồng còn tôn vinh văn hóa ẩm thực Việt Nam qua các sản vật của ba miền đất nước khi dâng hầu”

GS Đức Thịnh cho rằng: “Lên đồng là bảo tàng sống vì ba lí do. Các nhân vật lịch sử được sống lại và nhập hồn vào thanh đồng qua quần áo, điệu múa chứ không phải là bức tượng trong tủ kính. Tính đa văn hóa và bình đẳng giữa các dân tộc Việt Nam thông qua điệu nhạc nhảy múa của những giá chầu là lí do thứ hai. Và cuối cùng việc thờ đạo Mẫu như câu nói tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ là biểu hiện của nét văn hóa gia đình đặc trưng của người Việt”.




Giá hầu Đức Trần Triều mang tính “saman” nặng hơn khi thanh đồng dùng thanh sắt nhọn đâm xuyên qua má và xuyên qua quả cau lúc “nhập hồn”




Cấm người có “căn” tức là cấm họ trở lại cộng đồng !

Với những điều tra của mình, GS Ngô Đức Thịnh đã khẳng định: “Gần 100% những người có “cơ đầy” mắc các bệnh tật sau khi trình đồng đều thoát bệnh”. Ông nhấn mạnh rằng: “Đây không phải mê tín dị đoan mà nhân tố quan trọng nhất đó chính là niềm tin vào những thứ mang tính chất siêu nhiên, những cái con người không giải thích được”.

Đặt ngược vấn đề vị GS cũng thẳng thắn nói: “Nếu như chúng ta cấm những người có “căn” và có nhu cầu hầu đồng để giải tỏa niềm tin tôn giáo thì liệu có giống chúng ta đã đẩy họ ra khỏi cộng đồng? Tôi thấy câu trả lời đã có khi chúng ta nhìn vào số lượng và sự quan tâm tới buổi hội thảo ngày hôm nay”.

Ông cũng nói thêm rằng, hiện nay có nhiều người có khả năng tìm mộ như bà Trần Ngọc Ánh (có công tìm ra phần một của cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập đã được nhà nước công nhận) đang được tổ chức của ông kêu gọi tập hợp để nghiên cứu và giải thích một cách khoa học.

Chính chúng ta tự làm hỏng đạo Mẫu

Không thể phủ nhận, một trong những nguyên nhân khiến hoạt động lên đồng “có tính chất mê tín dị đoan” bị cấm theo Nghị định 75 là từ chính những người đã lợi dụng nó cho những động cơ không lành mạnh. GS. Ngô Đức Thịnh trong buổi đăng đàn cũng đã phải thừa nhận: “Chính chúng đã làm hỏng đạo Mẫu. Không có một tôn giáo nào trên thế giới dạy con người ta làm điều xấu, chỉ có con người lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng đó làm điều xấu mà thôi.”

Khép lại buổi nói chuyện, GS Thịnh một lần nữa đã kêu gọi ngay chính những “ông đồng bà cốt” hãy tự chấn chính lại “ngôi nhà thánh Mẫu” để mọi người nhìn vào đó và công nhận đạo Mẫu, ghi nhận lên đồng là một hoạt động văn hóa tốt đẹp mà ông cha đã để lại.



Thanh đồng Trần Đức Hạnh biểu diễn các giá Mẫu, giá Đệ Nhị, Ông Bảy, Bà chúa Thượng ngàn, Cô Bơ


Buổi biểu diễn lên đồng công khai lần đầu tiên tại trung tâm Hà Nội đã được tổ chức một cách bài bản, khoa học và nghiêm túc đã “giải oan” cho một “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc vốn bị mang tiếng lâu nay.
Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Cần đánh giá khoa học về loại hình “lên đồng”10:46:00 25/02/2011   Mon Apr 04, 2011 9:27 pm


Cần đánh giá khoa học về loại hình “lên đồng”10:46:00 25/02/2011


Thay vì phải "lén lút" diễn ra tại các điện thờ tư nhân hay những đền miếu tự phát, lần đầu tiên, các "thanh đồng" đã đường hoàng trình diện giữa trung tâm Thủ đô, trong khuôn khổ Hội thảo "Lên đồng, bảo tàng sống của văn hóa Việt" do Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam phối hợp với L'Espace tổ chức vào tối 23/2 vừa qua.


Có minh họa diễn xướng hầu đồng với các giá tiêu biểu (trong tổng thể 36 giá đồng): Ba giá Mẫu, Trần Triều, Quan Đệ Tam, Quan lớn Tuần Tranh, Chầu Đệ Nhị, Chầu Bát, Chầu Bé, Chầu Thác Bờ, Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười, Cô Cam Đường, Cô Bơ Thoải, Cô Bé…, nên Hội thảo đã thu hút được số lượng khán thính giả đông ngoài dự đoán của nhà tổ chức.

"Bảo tàng sống của văn hóa Việt" hồi sinh mạnh mẽ




GS Ngô Đức Thịnh, người đã bỏ nhiều năm để nghiên cứu về Đạo Mẫu, diễn giả chính tại Hội thảo, khẳng định "Lên đồng là nghi lễ tiêu biểu, điển hình nhất trong tục thờ Mẫu, một hành trình của thần linh và số phận", ẩn chứa đặc trưng nội tâm rõ rệt của người Việt. Bản chất tôn giáo của lên đồng chính là "sự nhập hồn nhiều lần của thần linh Tứ phủ vào thân xác ông đồng, bà đồng, nhằm trị bệnh, cầu sức khỏe, tài lộc, may mắn".

Theo biến thiên lịch sử, lên đồng từng bị coi như điều cấm kỵ, một ví dụ hùng hồn của hủ tục mê tín dị đoan cần loại bỏ khỏi đời sống xã hội. Dù vậy, mặc những dè bỉu và lên án trong tư duy một thời, lên đồng vẫn tồn tại, là hình thức diễn xướng dân gian, một nghi lễ không thể thiếu trong Đạo Mẫu, tín ngưỡng riêng của người Việt, tôn thờ nữ thần, người Mẹ, như đấng tối cao có "quyền năng sáng tạo, che chở cho con người, đáp ứng khát vọng của con người về Phúc, Lộc, Thọ".

Từng trực tiếp tham dự nhiều buổi "hầu đồng", GS Ngô Đức Thịnh cũng phải công nhận, diễn tiến của mỗi lần trình diễn lên đồng cực kỳ phong phú, đa dạng, và có tính khu biệt, độc đáo nhất định ở mỗi vùng, miền khác nhau. Đó cũng là kết tinh của đời sống tinh thần vốn mang đậm bản sắc nền văn minh lúa nước, được nhân dân Việt Nam truyền lại tự bao đời.

Trong hầu đồng, văn học truyền miệng, âm nhạc mà điển hình nhất là thể loại chầu văn, cùng với nhảy múa, điêu khắc, hội họa… được tích hợp, làm nên trò diễn xướng dân gian mê đắm, có một không hai.

GS Thịnh nhấn mạnh: "Lên đồng lắng đọng tinh túy, là bảo tàng sống của văn hóa Việt bởi: Các nhân vật lịch sử sống lại và nhập hồn vào thanh đồng (trong mỗi buổi lên đồng, người đứng giá hầu được gọi là "thanh đồng", nam xưng "cậu", nữ xưng "cô, bà") qua quần áo, điệu múa chứ không phải những bức tượng.

Đồng thời, từ âm nhạc và các động tác nhảy múa của mỗi giá chầu, tính đa văn hóa, sự bình đẳng giữa các dân tộc được biểu hiện mạnh mẽ. Hơn nữa, tín ngưỡng thờ Mẫu là minh chứng tiêu biểu của truyền thống đề cao giá trị gia đình, như vốn quý ngàn đời của người Việt chúng ta".




Lên đồng chưa thành di sản nhân loại, vì thiếu kiểm soát

Hơn bất kỳ một quyển sách khô cứng, một bức tranh hay một bức tượng nào, lên đồng là một bảo tàng sống động. Người Việt đã triển lãm nền văn hóa Việt Nam cho người Việt và người nước ngoài. Những người tham gia hầu đồng chính là những người quản lý nhà bảo tàng, những người bảo vệ cho văn hóa Việt Nam.

Việc làm của họ đảm bảo cho các thế hệ tương lai vẫn sẽ tiếp tục có cơ hội được chiêm ngưỡng những khía cạnh khác nhau của văn hóa Việt Nam, mà chúng đang dần bị nhạt nhòa đi trong đời sống xã hội hằng ngày, chỉ còn hiện diện trong điện thần của Đạo Mẫu", TS. Frank Proschan - Chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể của Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) nhận định.

Tụng ca lên đồng bằng những lời lẽ biểu cảm, sự đam mê cộng với nhiều năm dồn công sức tìm tòi, khám phá, nhưng GS Ngô Đức Thịnh lại khăng khăng bảo lưu ý kiến, chưa nên đề xuất UNESCO phong tặng lên đồng là "di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại". Dẫu đau lòng, GS Thịnh vẫn phải bày tỏ thái độ, hiện lên đồng chưa được nhìn nhận thực sự đúng mức ngay ở trong nước. Các nhà quản lý văn hóa, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, đồng thuận về lên đồng.

Cốt yếu hơn, GS Ngô Đức Thịnh tha thiết, lên đồng nhiều lúc bị gán cho "tội danh" mê tín dị đoan, cũng khởi nguồn từ chuyện, còn nhiều người lợi dụng nghi lễ tôn giáo này để làm những việc xấu. Hoạt động của một số thanh đồng thiên về bói toán, phán truyền, nhắm vào sự cả tin, nhẹ dạ của các "con nhang đệ tử" khiến cho lên đồng nhuốm màu sắc tiêu cực.

GS Ngô Đức Thịnh đúc kết, chỉ khi nào hình thức hầu đồng được chấn chỉnh theo nguyên bản như nó vốn có bao đời nay, và cả xã hội cùng đồng tình, nhìn nhận ra bản chất tốt đẹp của lên đồng, thì khi ấy, tự thân lên đồng sẽ thành di sản nhân loại

xxxx

Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Lên đồng - văn hóa hay dị đoan? Cập nhật lúc :8:28 AM, 23/02/2011   Mon Apr 04, 2011 9:33 pm



Lên đồng - văn hóa hay dị đoan?
Cập nhật lúc :8:28 AM, 23/02/2011


Cứ vào dịp lễ hội, hình thức lên đồng hay còn gọi là hầu đồng lại diễn ra một cách rôm rả. Tuy nhiên, theo GS.TS Ngô Đức Thịnh, cần phải phổ biến rộng rãi vấn đề lên đồng tới công chúng để mọi người hiểu rõ hơn để tránh tình trạng lợi dụng để thu lợi bất chính.

Lên đồng là hình thức tín ngưỡng dân gian, rất phổ biến ở Việt Nam, châu Á và nhiều nước trên thế giới. Một số nước đã ghi nhận giá trị của hình thức tín ngưỡng dân gian này là di sản văn hóa phi vật thể như Kut ở Hàn Quốc, Shaman ở Indonesia và Shaman ở Mông Cổ. Lên đồng của Việt Nam chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật và lịch sử, đã được nhiều chuyên gia trong nước, quốc tế nghiên cứu, giới thiệu và bảo tồn.

Bảo tàng sống của văn hóa Việt

“Hơn bất kỳ một quyển sách khô cứng, một bức tranh hay một bức tượng nào, lên đồng là một bảo tàng sống động. Những người tham gia hầu đồng chính là những người quản lý nhà bảo tàng, những người bảo vệ cho văn hóa Việt Nam. Việc làm của họ đảm bảo cho các thế hệ tương lai vẫn sẽ tiếp tục có cơ hội được chiêm ngưỡng những khía cạnh khác nhau của văn hóa Việt Nam, mà chúng đang dần bị nhạt nhòa đi trong đời sống xã hội hàng ngày, chỉ còn hiện diện trong điện thần của đạo Mẫu”, TS Frank Proschan, nói.

Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn tín ngưỡng dân gian, Ủy viên Hội đồng di sản quốc gia và là nhà nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này, thì việc lên đồng hiện nay rất phổ biến ở Việt Nam và ngày càng phát triển mạnh. Lên đồng là bảo tàng sống của văn hóa Việt. Hình thức diễn xướng của lên đồng tích hợp những giá trị văn hóa rất lớn. Đây không phải là một tín ngưỡng độc lập mà là một nghi lễ của Đạo Mẫu của Việt Nam”.


Một buổi lên đồng.
Cũng theo vị GS này, lên đồng còn được xem là thứ hiện sinh. Đạo Mẫu và lên đồng thể hiện quan điểm về nhân sinh quan gắn với dân tộc. Đây là thứ tín ngưỡng thể hiện chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Tất cả các vị thần trong đạo Mẫu đều được lịch sử hóa. Đặc biệt, lên đồng còn có giá trị tri thức và là một hình thức chữa bệnh.

Có thể khẳng định, lên đồng ở Việt Nam là một di sản văn hóa phi vật thể rất đặc biệt. Theo GS Thịnh, trước đây đã có nhiều bạn bè quốc tế khuyên ông đưa lên đồng trình UNESCO và chắc chắn sẽ được công nhận, vì sự lôi cuốn của nó không kém những cái được công nhận thậm chí còn hơn. “Mặc dù vậy, tôi cho rằng chưa nên đưa lên đồng trình UNESCO, vì sự đồng thuận trong xã hội chưa nhiều. Mọi người hiểu về hầu đồng chưa rõ và còn bị lợi dụng nhiều và làm biến dạng. Phải khi nào người dân đồng thuận, quốc tế đồng thuận mới tốt được”, GS Thịnh cho biết.

Lên đồng có thể chữa được bệnh?

Hiện nay, bên cạnh hình thức lên theo đúng truyền thống, vẫn còn không ít những người lợi dụng hình thức này để thu lời bất chính. Không những thế, nhiều người khẳng định lên đồng có thể chữa được bệnh. Về vấn đề này, GS Thịnh khẳng định là đúng. Bởi chính ông đã có những nghiên cứu và thống kê. “Những trường hợp tôi đã thống kê, những người có căn số thường điên loạn, ốm đau không có chỗ nào chữa khỏi và sau khi lên đồng 100% đã khỏi. Tôi đã viết hẳn một chương trong cuốn sách Lên đồng để chứng minh điều đó hoàn toàn đúng, không có gì mê tín dị đoan. Tôi gọi lên đồng là cách họ tái hòa nhập với cộng đồng như một con người trong cộng đồng. Cấm lên đồng là một sai lầm”, GS Thịnh, cho biết.

Tuy nhiên, theo GS Thịnh, trong nghi lễ lên đồng, có người tốn rất nhiều tiền nhưng cũng có người tốn rất ít. Có những người lên đồng một buổi chỉ mất vài triệu đồng thôi nhưng có những người mất hàng trăm triệu đồng. Đó là quyền của mỗi người. Cái quan trọng là vận động sao cho người tham gia lên đồng có ý thức để không phung phí.

“Còn trong chuyện lợi dụng lên đồng để làm giàu, chúng ta cần uốn nắn, hạn chế. Chẳng hạn, có một bà đi buôn, đến hầu đồng có thể sẵn sàng bỏ ra 10 triệu để phát lộc, nhưng ngày mai tới mua hàng bà ấy lại tính toán từng xu, đó là tính cách của mỗi người”, ông Thịnh cho biết thêm.

xxxxxxxxx

Lên đồng 'tái sinh' 50 vị thánh thần
Cập nhật lúc :6:53 AM, 27/02/2011

“Trong lên đồng, các vị anh hùng lịch sử nhập vào thân xác của những ông đồng, bà đồng và họ được sống lại bằng xương bằng thịt…”.



Lên đồng - bảo tàng sống của Văn hóa Việt là tiêu đề của một buổi hội thảo vừa diễn tại Trung tâm văn hóa Pháp (Hà Nội) chiều tối ngày 23/2. Tại hội thảo, giáo sư Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam đã diễn giải những góc nhìn mới lạ về bản chất của lên đồng với tư cách là một loại hình nghi thức tín ngưỡng đang gây nhiều tranh cãi ở Việt Nam.

Hiểu thế nào về về lên đồng?

Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng, muốn hiểu về lên đồng thì trước tiên phải hiểu về đạo Mẫu của người Việt. Bản thân đạo Mẫu lại là một vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp.

Hiểu một cách khái lược, đạo Mẫu là sự tôn thờ Thánh Mẫu theo quan niệm đây là người cai quản các miền khác nhau của vũ trụ và có thể che chở cũng như ban phát cho con người sức khỏe, tài lộc. Đạo Mẫu khác với nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác ở Việt Nam ở chỗ, đạo này không hướng con người về một thế giới sau khi chết, mà hướng đến đời sống trần tục ở nhân gian.

Bên cạnh đó, đạo Mẫu là một tín ngưỡng đa thần, với trên dưới 50 vị thần được phân thành các hang bậc từ cao xuống thấp. Vị thần cao nhất là Thánh Mẫu, dưới Thánh Mẫu có hàng Quan, hàng Ông Chầu, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu… Các vị thần cũng được phân theo 4 phủ, được biểu tượng bằng 4 màu khác nhau: Thiên phủ màu đỏ, Địa phủ màu vàng, Thượng ngàn màu xanh...



Lên đồng chính là nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị thần này vào thân xác của các ông đồng, bà đồng. Lúc đó họ không còn là mình nữa mà trở thành hiện thân của các vị thần linh trong một màn diễn xướng vô cùng đặc sắc với sự kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật như hát, múa và cả điêu khắc, hội họa…

Trên khía cạnh tôn giáo, lên đồng được coi là một trong những hình thức Shaman (xuất nhập hồn) giáo trên thế giới. Shaman giáo là hiện tượng tâm linh phổ quát của rất nhiều dân tộc trên thế giới, điển hình là ở vùng Siberi Mông Cổ. Tại Hàn Quốc, Trung Quốc…cũng có hình thức tín ngưỡng tương tự lên đồng nhưng có nhiều khác biệt so với lên đồng của Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước trong lên đồng

Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, đạo Mẫu và lên đồng ẩn chứa nhiều giá trị đối với đời sống tinh thần người Việt ngày nay. Trong đó, có một giá trị rất đặc biệt được giáo sư nhấn mạnh, đó là sự thể hiện chủ nghĩa yêu nước trong diễn xướng lên đồng.

Điều này thể hiện trước hết ở chỗ, khoảng 50 vị thần trong đạo Mẫu phần lớn đều đã được lịch sử hóa, trở thành những nhân vật có công với nước. Đó là những nhân vật lịch sử có thật như Phạm Ngũ Lão, Đức Thánh Trần, Yết Kiêu, Dã Tượng, bà Bát Nàn và nhiều vị khác. Nói một cách khác, những nhân vật lịch sử đó đã được thần thánh hóa.


Diễn xướng lên đồng là sự tái hiện các nhân vật lịch sử.

Trong diễn xướng lên đồng, sự tái hiện của các vị thần linh cũng chính là sự tái hiện các nhân vật lịch sử kể trên. Trong màn diễn xướng này, các vị anh hùng lịch sử nhập vào thân xác của những ông đồng, bà đồng và được sống lại bằng xương bằng thịt với những hành động, bằng những trang phục đặc trưng.

Bởi vậy, có thể nói, đạo Mẫu chính và diễn xướng lên đồng là biểu hiện của một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được tâm linh hóa và trở thành tín ngưỡng. Việc tôn thờ những vị thần trong đạo Mẫu chính là tôn thờ chủ nghĩa yêu nước của người Việt. Một chủ nghĩa yêu nước như vậy là rất sâu sắc.

Lên đồng và tinh thần hòa hợp dân tộc

Bên cạnh chủ nghĩa yêu nước, một giá trị khác không kém phần quan trọng của diễn xướng lên đồng là tinh thần hòa hợp dân tộc.

Tinh thần này thể hiện ở sự tích hợp văn hóa, với sự xuất hiện dấu ấn văn hóa của các dân tộc thiểu số trong lên đồng. Đó là các vị thần có nguồn gốc từ các dân tộc miền núi như những vị hàng Chầu, hàng Quan… Đặc biệt thú vị là khi các vị đó giáng đồng vào các ông đồng bà đồng thì từ ăn mặc đến âm nhạc, đến nhảy múa là sự tái hiện lại văn hóa của dân tộc đó. Vì vậy, khi xem lên đồng chúng ta không chỉ thấy được văn nhóa của người Kinh mà còn cả văn hóa của các dân tộc khác.

Có thể khẳng định rằng không có một tín ngưỡng nào của người Việt lại tôn thờ các vị thần thuộc nhiều dân tộc khác nhau như đạo Mẫu. Điều này cho thấy sự bình đẳng trong quan niệm tín ngưỡng, không có sự phân biệt dân tộc lớn, dân tộc nhỏ trong đạo Mẫu.

Đây là sự phản ánh tinh thần cố kết, gắn bó của các dân tộc trong lãnh thổ Việt Nam trước kia trên bình diện tâm linh, một vốn quý mà người Việt Nam ngày nay cần vun đắp để góp phần phát huy tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc.

Giáo sư Ngô Đức Thịnh kết luận: “Bản chất của lên đồng là tốt đẹp và không phải là một hoạt động mê tín dị đoan. Vấn đề là một số người đã lợi dụng lên đồng để mưu cầu một số điều không tốt. Không một tôn giáo hay tín ngưỡng nào dạy con người làm điều xấu cả, chỉ có con người lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để làm điều xấu mà thôi… Việc chúng ta cần làm là gạn đục khơi trong, thanh lọc để lên đồng luôn là một hiện tượng lành mạnh như cha ông, tổ tiên của chúng ta đã làm”.

xxxxxxxx

“Vỡ sân” xem lên đồng tại L’Espace “



(TT&VH) - Chiều 23/2/2011, rất đông những người quan tâm đã đổ xô về Trung tâm văn hóa Pháp L’Espace (24 Tràng Tiền - Hà Nội) trước thông tin có biểu diễn hầu đồng trong cuộc tọa đàm khoa học về đề tài này.

Theo lịch của Ban tổ chức, buổi tọa đàm có tên: Lên đồng - Bảo tàng sống của văn hóa Việt khai mạc vào 17h. Nhưng từ rất sớm, bãi để xe đối diện L’Espace đã chật cứng. Rất đông những người chậm chân phải tới các bãi xe dù trên phố Nguyễn Khắc Cần, thậm chí là gửi nhờ tầng hầm của khách sạn cạnh đó với giá 10.000 đồng/xe máy.



30 phút trước khi bắt đầu, cửa vào hội trường L’Espace phải đóng chặt vì lý do an toàn. Trước tấm biển “Hội trường đã kín chỗ”, rất đông người tới dự chương trình phải dồn đống lại trong phòng chờ của L’Espace, thậm chí là chen chúc kín các bậc cầu thang. Trong số này có một số gương mặt quen thuộc của giới nghiên cứu văn hóa như GS Chu Hảo, PGS-TS Nguyễn Thị Minh Thái, PGS-TS Nguyễn Đỗ Bảo (Chủ tịch Hội Mỹ thuật HN), nhiếp ảnh gia Xuân Bình... cùng nhiều phóng viên báo chí.


Dòng người chen chúc trước cầu thang lên hội trường

16h50, cảnh lời qua tiếng lại diễn ra khá căng thẳng trước hai cánh cửa đóng kín của hội trường. Kiên nhẫn giải thích, rồi cũng tới lúc nhân viên an ninh của L’Espace phải to tiếng trước những đám đông đang nổi nóng. “Tây hay ta cũng ở ngoài, đây là lệnh của giám đốc”. Vừa nói, anh vừa hì hục hé cửa cho diễn giả GS Ngô Đức Thịnh lách vào rồi hớt hải ập cửa. Dưới cầu thang, những người nhanh chân đã lập tức xí chỗ, ngồi bệt trước màn hình lớn được nối trực tiếp vào hội trường.

17h, buổi tọa đàm bắt đầu. 2 diễn giả, GS Ngô Đức Thịnh và TS Nguyễn Xuân Diện, cùng bắt đầu điểm lại lịch sử phát triển và những nét đặc sắc của văn hóa Đạo Mẫu tại Việt Nam. Dưới phòng chờ, một đám đông người đứng kẻ ngồi cùng chen vai một cách... rất có trật tự trước màn hình lớn đang truyền hình trực tiếp buổi tọa đàm. Lác đác có mặt một vài du khách người Pháp rất háo hức chứng kiến sự nghiêm túc và cầu thị của những người đang căng tai dán mắt vào màn hình.

17h30, trước câu hỏi của TS Nguyễn Xuân Diện về ý tưởng đề cử hầu đồng vào danh sách xét duyệt di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, GS Ngô Đức Thịnh lắc đầu: “Chưa nên, nếu không tự ổn định ngay ở môi trường VN trước đã. Khác với bản chất nguyên sơ là một hành vi tín ngưỡng giàu tính văn hóa, hầu đồng bây giờ lai tạp, biến tướng và bị lợi dụng vào mục đích kiếm tiền quá nhiều”. Trước đó, trong lúc chờ tới màn biểu diễn hầu đồng, một số người trong hội trường có nhu cầu ra ngoài phòng chờ để giải lao nhưng cũng đành quay vào trước hai cánh cửa đóng kín.

Rồi theo nhịp thời gian, cũng tới lúc chương trình biểu diễn về hầu đồng được bắt đầu trước sự háo hức của người xem. Hội trường vẫn đóng kín, một số khán giả đứng ngoài mỏi chân đã bỏ về. Nhưng trước màn hình tại phòng chờ vẫn còn rất đông những người chăm chú ngồi thưởng thức nghệ thuật hầu đồng. Máy ảnh và điện thoại được tận dụng tối đã để quay lại những khuôn hình đang hiện ra trên màn ảnh lớn.

Cần hiểu rõ, trước những quan điểm khá trái chiều, đây là một lần hiếm hoi mà những giá đồng tiêu biểu được mang ra trình diễn trong một trung tâm văn hóa tại Hà Nội - chứ không phải là trong những buổi lên đồng theo hình thức bán công khai. Háo hức trước một sự tò mò có thật, việc một chương trình miễn phí tại L’Espace trở nên quá tải là điều dễ hiểu...








Về Đầu Trang Go down
kiss
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tác phẩm “THỜ CÚNG VÀ Lễ BÁI”    Mon Apr 04, 2011 9:44 pm

Thờ Cúng và Lễ Bái



Con người sanh ra ở đời, ắt phải có tôn ti trật tự, có trước có sau, có trên có dưới, có lớn có nhỏ, có thứ lớp giai tầng, đó là một qui luật tự nhiên, không ai có thể chối cãi, phủ nhận hay từ bỏ. Đó là một đạo lý tuyệt đối là căn bản đạo đức, là cương kỷ, nề nếp mà các Ngài Giáo Chủ đứng lên lập đạo phải lấy nó làm nền tảng, chủ đích để dạy tập con người bảo giữ nguồn gốc tôn ti trật tự, để qui định cho sự hòa hiệp sống chung, thái bình an lạc trong cõi đời. Từ đó mà vấn đề “THỜ CÚNG và LỄ BÁI” được đặt ra.

Con người sanh ra ở đời, ắt phải có tôn ti trật tự, có trước có sau, có trên có dưới, có lớn có nhỏ, có thứ lớp giai tầng, đó là một qui luật tự nhiên, không ai có thể chối cãi, phủ nhận hay từ bỏ. Đó là một đạo lý tuyệt đối là căn bản đạo đức, là cương kỷ, nề nếp mà các Ngài Giáo Chủ đứng lên lập đạo phải lấy nó làm nền tảng, chủ đích để dạy tập con người bảo giữ nguồn gốc tôn ti trật tự, để qui định cho sự hòa hiệp sống chung, thái bình an lạc trong cõi đời. Từ đó mà vấn đề “THỜ CÚNG và LỄ BÁI” được đặt ra.

Đây là phương pháp hay phong cách giáo hóa rất quan trọng của đời sống nhân loại; cũng lại là một giáo lý tốt đẹp làm nền tảng cho sự thương yêu, thân thiện, cung kính, lễ phép với nhau trong cuộc sống. Một cung cách xử sự liên quan truyền kiếp và nối tiếp đời đời đối với loài người nói riêng và vạn vật chúng sanh nói chung. Nhất là sự liên quan truyền nối giữa kẻ còn người mất của nhân loại. Lại nữa, truyền thống và tập tục của người Á đông càng thâm thiết hệ trọng hơn, từ trong guồng máy gia đình giòng tộc đến các tổ chức Tôn giáo Tín ngư­ỡng tâm Linh như Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo v.v... Tác phẩm “Thờ Cúng và Lễ Bái” này do Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, một nhà Duy Thức Học, một vị Giáo Phẩm lãnh đạo cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đã dày công nghiên cứu và biên soạn, làm tài liệu căn bản cho mọi giới đồng bào Phật tử Việt Nam, nhất là đồng hương tị nạn nơi đất khách quê người có quá nhiều phức tạp nhiều khê.

Đây là một Pháp Bảo cung ứng nhu cầu thiết thực cho đại đa số quần chúng Việt Nam. Là kim chỉ nam cho người Phật tử từ hạng bậc sơ cơ cho chí đến những người trí thức mà chưa hề quan tâm đến vấn đề “Thờ Cúng và Lễ Bái”, nó có một tác dụng hữu ích như thế nào cho cuộc sống mà các Ngài khai đạo đã mở đường giáo hóa nhân sanh bằng qui cũ trong sự Thờ Cúng và Lễ Bái nầy vậy.

Tác phẩm “THỜ CÚNG VÀ Lễ BÁI” đã dẫn giải, phân bày rất là khúc chiết, mạch lạc và cụ thể, sẽ giúp cho độc giả hiểu biết rõ ràng hơn tầm quan trọng của sự Thờ Cúng và Lễ Bái. Nhà Xuất Bản Nguồn Sống chúng tôi xin đ­ược hân hạnh Giới thiệu đến quí đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước; Quí đồng hương Phật tử ở rải rác khắp Năm Châu Thế giới với tác phẩm “Thờ Cúng Và Lễ Bái” nầy.


Thượng Tọa Thích Giác Lượng.

xxxxxxxx

LỜI MỞ ĐẦU



Thờ Cúng Và Lễ Bái là một trong những Gia Bảo tinh thần đáng quý của Tổ Tiên để lại cho con cháu kế thừa. Gia Bảo này đã được hấp thụ tinh hoa lâu đời do các Tôn Giáo bồi đắp và xây dựng. Gia đình Việt Nam có Truyền Thống, đều coi trọng và thiết lập Hương án trong nhà để chuyên trách về việc Thờ Cúng Và Lễ Bái.

Người Thờ Cúng Và Lễ Bái thì nhiều nhưng người hiểu rõ ý nghĩa và giá trị vấn đề thì lại quá hiếm. Nhất là những người Việt Nam tỵ nạn ra nước ngoài ít ai thông hiểu về ý nghĩa và giá trị của sự Thờ Cúng Và Lễ Bái. Họ cũng thiết lập bàn thờ và tổ chức nghi lễ trong nhà có tính cách giả chiến, hời hợt tạm bợ cho có lệ theo tập tục cổ truyền, nhưng việc làm của họ thiếu sự tôn kính thiêng liêng. Thành thử vấn đề Thờ Cúng Và Lễ Bái không tạo đ­ược niềm tin vững chắc cho thế hệ con cháu trẻ tuổi tân học.

Ngoài ra, lại có một số người lợi dụng niềm tin và sự hiểu biết nông cạn của đa số quần chúng trong việc Thờ Cúng Và Lễ Bái, nên họ đã manh nha khai thác tận cùng vấn đề mê tín dị đoan nhằm mục đích buôn bán làm ăn. Họ bày vẽ thêm nhiều nghi cách mơ hồ vô nghĩa, khiến cho việc Thờ Cúng Và Lễ Bái trở nên phức tạp để độc quyền tín ngưỡng. Họ vô tình làm giảm giá trị Truyền Thống Văn Hóa lâu đời của Dân Tộc về ý nghĩa Thờ Cúng Và Lễ Bái. Đã vậy lại thêm một số người Trí Thức có thành kiến, họ bôi bác và kết án, cho việc Thờ Cúng Và Lễ Bái là một hình thức hoang đường.

Những lý do trên thúc đẩy chúng tôi cho ra quyển sách: “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái”. Tác phẩm này không có cao vọng lột trần được toàn diện chiều sâu ý nghĩa và giá trị của vấn đề. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày một vài quan điểm có tính cách biện minh lý giải ý nghĩa và giá trị của sự “Thờ Cúng Và Lễ Bái” qua lăng kính Phật Giáo.

Hơn nữa, sự ra đời của quyển sách “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái” nhằm đóng góp một phần nào trong phong trào phục hưng nền Văn Hóa Dân Tộc và tạo cơ hội phục vụ cho Cộng Đồng Việt Nam ở hải ngoại về mặt Tín Ngưỡng. Nền Văn Hóa Dân Tộc cần phải được phát huy rộng lớn và làm sáng tỏ quan điểm Truyền Thống lâu đời qua nhiều khía cạnh trong mọi lãnh vực, để làm khuôn vàng thước ngọc cho người Việt ly hương nương tựa sống còn. Quyển sách nhỏ này được gói ghém bằng một tâm nguyện khiêm tốn hầu đóng góp vào kho tàng Văn Hóa Phật Giáo và Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam, xem như một công tác hiếm hoi, hướng trở về Nguồn, phụng sự Chánh Pháp. Tác phẩm “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái” nhất định còn thiếu sót nhiều về mặt hình thức cũng như nội dung. Chúng tôi kính mong các bậc cao minh chỉ bảo góp ý thêm để cho tác phẩm có giá trị và đầy đủ hơn khi tái bản.
xxxxxx

VẤN ĐỀ THỜ CÚNG VÀ LỄ BÁI



Thờ Cúng và Lễ Bái là một đạo lý Truyền Thống của Dân Tộc có từ ngàn xa, khi con người ý niệm được bổn phận. Ở thời kỳ Quân Chủ, các triều đại Vua Chúa cho Thờ Cúng và Lễ Bái là biểu tượng cao quí nhất đối với các bậc Tiền Nhân, nên đặc trách riêng một Bộ gọi là Bộ Lễ để trông coi việc này.

Còn riêng về Phật Giáo, vấn đề Thờ Cúng và Lễ Bái lại càng hàm xúc bao ý nghĩa và giá trị, thể hiện được tinh thần thiêng liêng trọng đại đối với các bậc Thánh Hiền. Thế mà cho đến hôm nay ý nghĩa và giá trị vấn đề Thờ Cúng và Lễ Bái đã được bao nhiêu người thông suốt? Vì không thông suốt, đa số quần chúng thiếu sót Lễ Nghi cung cách, gây nhiều tội lỗi với các bậc bề trên. Họ không phải không muốn, nhưng không được ai chú dẫn tư­ờng tận để có đức tin.

Nhằm mục đích giúp người con Phật thông suốt giá trị vấn đề trên, tôi xin trình bày ý nghĩa Thờ Cúng và Lễ Bái qua những nhận định như sau:



I. VẤN ĐỀ THỜ:

Trước hết là vấn đề Thờ. Thờ nghĩa là thể hiện, tỏ bày sự Tôn Kính của mình lên các Tiền Nhân, các Thánh Đức mà mình đã dâng trọn niềm tin, như thờ Phật, thờ Chúa, thờ Tổ Quốc, thờ Tổ Tiên, Ông-Bà v.v... Người con đã có Giòng Họ Tông Môn thì phải có bàn thờ Tổ Tiên. Con người có giống nòi chủng tộc thì phải có bàn thờ Tổ Quốc. Tín Đồ có Tín Ngưỡng Tôn Giáo thì phải có bàn thờ đức Giáo Chủ của mình. Ngược lại, con cái mà không có bàn thờ Tổ Tiên, Ông Bà là con bất Hiếu. Một công dân mà không có bàn thờ Tổ Quốc là kẻ bất Trung. Một tín đồ mà không có bàn thờ đức Giáo Chủ của mình là người bất Tín.

Nhưng hiện nay có một số người không hiểu bảo rằng Thờ Cúng là hành động mê tín dị đoan, kém văn minh, thiếu khoa học, bởi vì những hình tượng được thờ đều bằng xi măng, hoặc bằng giấy và hương đèn đều bằng cây, bằng mạt cưa làm nên v.v... rồi tin tưởng đặt lên thờ và cho là thiêng liêng. Những hành động ấy đã không lợi ích chi, lại còn nhơ bẩn đến nhà cửa và tốn hao tiền bạc.

Lời này mới nghe qua như có lý, nhưng kỳ thực xét cho kỹ thì hoàn toàn sai lầm. Sự sai lầm này được nhận định như sau:

a. Hình Tượng mặc dù được xây dựng bằng giấy hay bằng xi măng hoặc hương đèn được làm nên bằng mạt cưa hay bằng gỗ đi chăng nữa, những vật thể ấy đã trở thành thiêng liêng cao quí, nhất là đã tượng trưng (Symbolizes) cho dòng họ, Tổ Tiên, Ông Bà, cho Thánh Hiền, cho chư Phật mà mình đã Tôn Thờ. Cũng như Lá Cờ của một Quốc Gia, mặc dù nó được kết bằng vải tầm thường không giá trị, nhưng nó đã được tiêu biểu cho Tổ Quốc, cho Quốc Hồn Quốc Túy của một Dân Tộc mà ngời Công Dân hay Chiến Sĩ đều phải Tôn Thờ. Một Công Dân hay Chiến Sĩ mỗi khi chào cờ không phải chào miếng vải ấy, hoặc hy sinh dưới cờ không phải chết cho miếng vải mà ở đây họ chào và chết vì Tổ Quốc, vì Hồn Thiêng đất nước đã được biểu hiện qua lá cờ. Nước Mỹ ai cũng cho là một nước Văn Minh đứng đầu trên Thế Giới về phương diện khoa học cơ giới. Thế mà họ vẫn tôn trọng ngày Hollyvine nh là một Quốc Lễ và đến ngày đó dân chúng cả nước đều được phép nghỉ để tổ chức lễ theo phong tục của họ. Chúng ta đối với ngày lễ này cho là hành động mê tín dị đoan, nhưng đối với người Mỹ, ngày lễ này là một ý nghĩa trọng đại nhất và mỗi năm cần phải đợc tổ chức linh đình không cho mất gốc. Còn ngày Lễ Tổ Tiên Ông Bà của chúng ta chính là ngày cao cả không kém của Giòng Họ Tông Môn, nhưng một số người khinh thường cho việc làm đó là hành động mê tín dị đoan thiếu Văn Minh tiến bộ rồi cho nó đi vào quên lãng. Thật là một tội lỗi nặng nề. Mỗi quốc gia đều có nền Văn Hóa riêng của họ và Văn Hóa đó được họ tìm mọi cách đề cao tuyệt đối tột đỉnh. Chúng ta cũng có nền Văn Hóa riêng của Dân Tộc ta. Chúng ta cũng phải có bổn phận phát huy nền Văn Hóa của Tổ Tiên đợc sáng tỏ thêm hơn là đi bôi bác và chà đạp lên nó để đắc tội với Tiền Nhân.

b. Chúng ta thờ Tổ Tiên là để tri ân và báo ân các bậc Cha Ông đã dày công sanh trưởng cuộc đời mình. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc kiến tạo xã hội và giòng họ. Chúng ta thờ Tổ Quốc là để ghi ân và noi gương các bậc anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho sự sống còn của giống nòi. Chúng ta thờ Phật là để quy ngưỡng hướng về các bậc đã giác ngộ và giải thoát, nhờ các Ngài dẫn dắt chúng ta và chúng sanh vững vàng đi trên con đường Thánh Thiện. Bàn thờ Ông Bà không được thiết lập làm biểu tượng thì con cháu không biết nương vào đâu để thể hiện lòng hiếu thảo đối với Tổ Tiên và bàn thờ Phật không được an vị trang nghiêm thì đệ tử cũng chẳng biết nương tựa vào nơi nào để bộc lộ lòng tôn kính đối với bậc Thầy chứng ngộ. Khác nào trên mộ không có đặt vòng hoa tưởng niệm thì những người còn sống làm sao tỏ bày được lòng tri ân đến những kẻ đã hy sinh vì đại nghĩa. Con ngời cần phải có điểm tựa để an tâm, mặc dù điểm tựa đó bằng bất cứ hình thức nào.

Chúng ta chưa phải là Thánh Nhân thì nghi lễ, cung cách Thờ Cúng và Lễ Bái rất cần thiết cho việc tu thân, giáo dục gia đình và hướng dẫn con người làm tròn bổn phận trong xã hội loài người, nhất là con người ở vào thời đại văn minh. Như vậy Thờ thế nào cho đúng nghĩa?



A. Ý NGHĨA THỜ:

Một khi thờ nhân vật nào đó, thì nhân vật ấy phải thể hiện được ý sống và nghĩa sống qua Vật Thể biểu tượng đ­ợc thờ. Một Vật Thể biểu tượng cho Nhân Vật được tôn thờ phải thể hiện giá trị tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm. Một Vật Thể biểu tượng tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm sẽ trở thành Vật Linh, làm môi trường giao cảm giữa người thờ và Nhân Vật được tôn thờ. Thế nào là Tâm ân Sắc và Sắc ấn Tâm;



a. TÂM ẤN SẮC:

1. Tâm: tiếng Phạn là Citta nghĩa là Tâm linh của mỗi con người. Tâm linh này vẫn hiện hữu trong con người khi xa lìa tất cả đối tượng và có khả năng xét nghiệm tư duy để quyết định mọi việc. Nói một cách khác, Tâm con người vẫn sinh hoạt suy tư trong khi tất cả đối tượng không còn hiện hữu. Trước mặt, Tâm là danh từ chung gồm Tâm Vương và Tâm Sở, là những Tâm Pháp quan hệ tương đối với Sắc Pháp. Tâm ở đây tương đương với bốn Uẩn là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Tâm này là chỉ cho Tâm Vương một trong năm Vị (Năm Vị là: Tâm Pháp, Sắc Pháp, Tâm Sở Pháp, Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp, Vô Vi Pháp).

Theo Đại Thừa Duy Thức Tông, Tâm đây chính là Tâm Thức Alaya. Tâm Thức Alaya là thể căn bản có khả năng sanh ra vạn pháp. Tâm Thức Alaya ngoài việc sanh ra vạn pháp, còn có khả năng sanh khởi Tâm Ý (Thức Mạt Na) để chấp trì vạn pháp và sanh khởi Tâm Thức Phân Ly (Ý Thức) để phân biệt vạn pháp. Tâm đây còn có nghĩa là Tinh yếu.

2. Ấn: là in vào, chứng nhận, tức là tiêu biểu hiển bày cái Đức chỗ chứng đắc nội Tâm của chư Phật. ấn còn có nghĩa là quyết định. Nhưng Ấn ở đây nghĩa là dùng Tâm in sâu vào vật nào đó và khiến cho vật đó trở thành Vật Linh (đồ vật được thể hiện sự linh cảm) biểu hiện được Phật Tâm linh cảm.

3. Tâm Ấn: theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 3 và Đại Nhật Kinh Sớ Diễn Áo Sao quyển 2 giải thích rằng: “Tâm Ấn là nơi tự thân thực hiện được tất cả Phật Tâm tác dụng”, nghĩa là khiến cho tất cả Phật Tâm sinh hoạt. Theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 5, Mục Bất Động Minh Vương giải thích: “Tâm Ấn là biểu thị vạn Đức ở trong Tâm”.

Như vậy Tâm Ấn nghĩa là Tâm biểu thị vạn Đức và khiến cho Phật Tâm tác dụng chứng đắc cho Hành giả khải thỉnh.

4. Sắc: là sắc chất, tức là chỉ cho một vật nào đó hoàn toàn thuộc về vật thể được dùng làm biểu tượng để tôn thờ, như là Hình Giấy, Tượng Cốt, Ấn Dấu, Pháp Khí, Đồ Hình, lá Bùa, khăn Ấn v.v... đều là Sắc Chất. ẤN: là in sâu, tức là dùng Tâm in sâu vào vật nào đó và khiến cho nó trở thành Vật linh (đồ vật được linh cảm).

5. Tâm Ấn Sắc: nghĩa là Tâm Linh của con người in sâu vào một vật nào và khiến cho vật đó trở thành có giá trị đợc gọi là Tâm Ấn Sắc. Vật đó được Tâm Linh con người ấn vào gọi là Vật Thể, vì nó là một Vật Linh. Vật Linh là một Vật Thể biểu tượng có tánh cách linh cảm đối với con ngời.

Thí dụ: Một em bé đem Tâm ấn vào cái gối nằm (Pillow) của em thì cái gối nằm đó trở thành vật linh đối với em. Em quí gối nằm nói trên như quí thân mạng của em. Gối nằm nói trên nếu như mất đi thì em đòi cha mẹ phải tìm cho được, mặc dù em đã trưởng thành và cái gối nằm kia đã rách nát. Một lá thơ của bà con ở Việt Nam gởi là một Vật Linh, nguyên vì bà con đã Ấn Tâm vào đó. Một Danh Thiếp (Card) chúc tết là một Vật Linh, nguyên vì người chúc tụng đã Ấn Tâm vào đấy.



b. SẮC ẤN TÂM:

Sắc Ấn Tâm: nghĩa là một Vật Thể nào được in sâu vào trong Tâm Linh của con người và hình bóng Vật Thể đó làm khởi điểm trợ duyên cho Tâm Linh con người tác dụng giao cảm bằng cách nhớ nhung, hồi tưởng, tưởng niệm gọi là Sắc Ấn Tâm.

Thí dụ: Anh A nhớ quê hương, nhớ Ông Bà nhà cửa, nhớ bà con thân thuộc, nhớ bạn bè làng xóm, nhớ những hình ảnh kỷ niệm của tuổi học trò, nhớ những quá trình kinh nghiệm sống của mình v.v... Những hình ảnh nhớ nhung nói trên được gọi là Sắc Ấn Tâm.

Cũng từ tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm vừa trình bày, người có tín ngưỡng phát tâm thờ Phật hoặc thờ Ông Bà trong nhà thường rước Thầy đến làm lễ an vị hầu giúp cho bàn thờ Phật hay bàn thờ Ông Bà trở thành Vật Linh để làm biểu tượng (Symbolizes) cho sự cầu nguyện. Bàn thờ Phật hay bàn thờ Ông Bà sau khi làm lễ an vị thì đã thể hiện được ý sống và nghĩa sống giữa chư Phật, chư Bồ Tát cùng với Tín Đồ, cũng như giữa Tổ Tiên Ông Bà cùng với con cháu. Tâm Linh của chư Phật, chư Bồ Tát liền cảm ứng với Tâm Linh của Tín Đồ, cũng như Tâm Linh của Tổ Tiên ông Bà liền giao tình với Tâm Linh của con cháu qua tầng số từ trường (Magnetic-field) ý sống và nghĩa sống được phát xuất từ Vật Thể biểu tượng nơi bàn thờ qua sự nguyện cầu.

Trường hợp này cũng giống như Tấm Thiệp chúc Tết là một Vật Thể biểu tượng ý sống và nghĩa sống tình cảm của Tâm Linh người chúc tụng với Tâm Linh người được chúc tụng. Tấm Thiệp chúc Tết sau khi mua về được ng­ười chúc tụng Ấn Tâm vào đấy bằng cách thành tâm viết vài chữ cầu chúc trong đó hến trở thành Vật Linh, nghĩa là tấm Thiệp chúc tết này đã có chứa đựng ý sống của người chúc tụng. Người được chúc tụng sau khi tiếp nhận tấm Thiệp chúc Tết nói trên của bạn gởi, liền phát khởi Tâm Linh giao cảm nghĩa sống truyền đến ng­ười bạn chúc tụng qua từ trường (Magnetic-field) ý sống của Vật Thể (Tấm Thiệp). Tấm Thiệp chúc Tết trợ duyên này đóng vai trò vật đới chất (vật dùng làm chỗ nương tựa) cho Tâm Linh của hai người giao cảm ý sống và nghĩa sống với nhau. Duy Thức Học có dạy: “Dĩ Tâm Duyên Tâm Chân Đới Chất” là ý nghĩa của đoạn văn nói trên. Câu “Dĩ Tâm Duyên Tâm Chân Đới Chất” nghĩa là đem tâm mình duyên với tâm người qua sự nương tựa nơi Vật Thể làm khởi điểm giao cảm một cách chân thành. Bàn thờ Ông Bà nếu như không có để làm chỗ trợ duyên đới chất thì nhất định Tâm Linh của Tổ Tiên không thể giao cảm với Tâm Linh của con cháu, cũng như Tấm Thiệp chúc Tết nếu như không có đại diện thì Tâm Linh người chúc tụng không thể giao cảm đến với ngời được chúc tụng. Bàn thờ Phật cũng thế. Người Tín Đồ cầu nguyện, nếu không có bàn thờ Phật để làm biểu tượng trợ duyên thì sự linh thiêng của chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền trong mười phương khó có thể cảm ứng đến với người cầu nguyện.

Nhưng ở đây, một cành hoa giấy và một cành hoa sống thì cành hoa giấy chỉ có giá trị trang trí bàn thờ cho thêm sắc sảo so với một cành hoa sống. Một cành hoa sống, ngoài nhiệm vụ tô điểm làm đẹp bàn thờ lại còn có giá trị thể hiện được ý sống và nghĩa sống một cách trọn vẹn so với bông hoa giấy. Nguyên vì cành hoa tươi tự nó có từ trường (Magnetic-field) sức sống tỏa ra, trong lúc đó cành hoa giấy chỉ là một loại hoa chết. Một đôi đèn nến có giá trị hơn đôi đèn điện. Đôi đến nến, ngoài sự tiêu biểu cho ánh sáng, còn nói lên được ý sống và nghĩa sống của một Vật Thể. Đôi đèn nến biểu tượng được ý sống và nghĩa sống của một Vật Thể qua sự biến thuyên liên tục không ngừng. Nhờ sự biến thuyên liên tục không ngừng mà Vật Thể mới sống còn tồn tại. Nhưng cũng vì sự biến thuyên liên tục không ngừng này mà Vật Thể nói trên phải chết đi để chuyển sang một Vật Thể khác qua ý sống và nghĩa sống của nó kết hợp nối liền. Một Vật Thể nếu như không có ý sống và nghĩa sống tức là Vật Thể đó đã chết. Dòng nước chảy là dòng nước sống và dòng nước không chảy chính là dòng nước đã chết. Dòng nước đã chết thì không thể hiện được ý sống và nghĩa sống của dòng nước.

Như vậy trên bàn thờ, chúng ta không thể không đốt hương, đốt đèn, cắm hoa tươi v.v... là những Vật Thể biểu tượng được ý sống và nghĩa sống, làm tăng thêm sự uy nghiêm, tôn kính, linh động đối với chư Phật, chư Tổ, Thánh Hiền hoặc đối với Tổ Tiên Ông Bà qua sự linh ứng biểu trưng này. Trên bàn thờ, những Hình Tượng, những nén hương, những đôi nến, những cành hoa tươi v.v... đều là những gạch nối giao cảm quan trọng giữa Tâm Linh của Ôg Bà Tổ Tiên, của chư Phật mười phương cùng với Tâm Linh của Môn Đồ Đệ Tử và của con cháu họ hàng. Nh vậy, Thờ thế nào cho phải cách?



B. CÁCH THỜ:

Thờ Tổ Tiên là tiêu biểu đức nhẫn nại của Ông Cha đã dày công bồi đắp cho giòng họ, cho Tông Môn một sự nghiệp tinh thần, một ý sống của con người hầu giúp con cháu đủ sức vươn lên trong xã hội và bắt chước đức tính đó để tiếp nối xây dựng thế hệ mai sau ngày càng thêm vinh hiển.

Thờ Tổ Quốc là tiêu biểu gương cao quý của các bậc Tiền Nhân đã hy sinh xương máu để tài bồi Giang Sơn Cẩm Tú của chúng ta trường tồn và noi theo gương sáng đó để bảo vệ giống nòi, phồn vinh đất nước và xây dựng một cuộc sống thanh bình an lạc thật sự cho Dân Tộc, dĩ nhiên trong đó có con cháu của mình.

Thờ Phật là tiêu biểu cho Trí Tuệ Giác Ngộ, cho Đức Hạnh Từ Bi, cho ý chí Dũng Mãnh của chư Phật mà chúng ta nương theo những gương cao quý này để đào luyện cho mình đầy đủ sáng suốt, đầy đủ tình thương và đầy đủ nghị lực giống như các đức Như Lai, ngõ hầu đả thông trước mọi vấn đề mê ngộ, chân giả, để khỏi bị lầm lạc và nhận thức được chân giá trị của cuộc đời, giải thoát mọi khổ đau sanh tử luân hồi. Đó là chân nghĩa của cách thờ tự mà chúng ta đã và đang theo đuổi thực hiện.



C. CHỖ THỜ:

Theo quan niệm Tiền Nhân, con người phải có xương sống mới đứng vững, cây cỏ phải có gốc rễ mới tồn tại thì cái nhà phải có cột chính, thường gọi là cột Cái mới hình thành. Cột chính bao giờ cũng ở giữa gọi là “Trung” để gánh vác hai mái nhà và cột hai bên gọi là cột Con, cũng gọi là cột Biên chỉ đóng vai trò phụ đỡ hai mái nhà yên đứng. Đây là nói về phương diện hình thức tổ chức. Còn về phương diện tiêu biểu, cột chính gọi là cột Trụ của cái nhà, cũng như Tổ Tiên Ông Bà cha mẹ là cột Trụ của gia đình giòng họ, có nhiệm vụ gánh vác cả sự nghiệp của Tiền Nhân và bảo tồn sự sống còn của con cháu từ khi sanh ra cho đến khi thành nhân. Thế nên người xưa, trong ba căn nhà, họ chọn căn giữa là căn Chính của cái nhà để thờ Tổ Tiên Ông Bà. Lớn hơn nữa, mỗi giòng họ như họ Trần, họ Nguyễn, họ Lê v.v... phải có nhà thờ Họ, được thiết lập riêng trong làng Họ của mình để cùng nhau thờ tự. Giả sử một gia đình nghèo khó đến mấy đi chăng nữa, dù chỉ có túp lều tranh, họ cũng chọn chỗ nào chính giữa của túp lều ấy để trang trí bàn thờ Tổ Tiên.

Ngày nay theo quan niệm Tây phương, họ cho chỗ chính của cái nhà là phòng khách, vì họ không chủ trương thờ Ông Bà. Họ sống theo chủ nghĩa cá nhân, chỉ biết lấy mình mà thôi, ngoài ra không cần thiết đến ai cả, nhất là những người thân thuộc về quá khứ, cho đến tông môn của họ cũng thế.

Chúng ta là người Á Châu, ý thức được huyết thống giống nòi, nhận chân được sự liên quan chặt chẽ hệ thống Tâm Linh trong quá trình chuyển hóa luân lưu, nhất định phải có bàn thờ Ông Bà trong nhà để làm điểm tựa tinh thần, mặc dù bàn thờ đó lớn hay nhỏ tùy theo hoàn cảnh của mỗi người. Ở nước ngoài, khi nhu cầu đời sống còn thiếu thốn, chúng ta khó chọn chỗ thờ tự đúng theo ý mình muốn. Đạo Phật chú trọng tinh thần hơn hình thức. Chúng ta thờ tự như thế nào cũng được miễn sao chỗ thờ đó thể hiện được lòng thành của mình đối với các Đấng Thiêng Liêng và những Bậc trên trước.

D. GIÁ TRỊ NƠI THỜ:

Chúng ta thờ tự đức Phật hay Tổ Tiên Ông Bà bằng cách nào đi chăng nữa cũng phải nói lên được giá trị thiêng liêng nơi thờ. Theo Phật Giáo chúng ta có thể đặt bàn thờ bất cứ nơi nào trong nhà, nhưng với điều kiện vị trí chỗ thờ phải được thanh tịnh và bàn thờ phải được thiết trí trang nghiêm, có thể gợi lên cho con cháu một ấn t­ượng Tôn Kính mỗi khi chiêm ngưỡng. Chúng ta đừng quan niệm rằng, bàn thờ như kệ đựng sách, như bàn đựng r­ượu v.v... bỏ lên trên đó đủ thứ tạp nhạp để phải đắc tội với các bậc Thiêng Liêng. Chúng ta có một bàn thờ rất sang trọng lộng lẫy, nhưng cứ để hương tàn khói lạnh thì càng thêm có tội với Người Trên. Chi bằng chúng ta chỉ có một bàn thờ đơn giản, nhưng được thiết trí trang nghiêm thanh tịnh và được con cháu tới lui thăm viếng mỗi ngày cũng đủ nói lên bổn phận làm người và giá trị nơi thờ. Chúng ta hằng ngày phải có nhiệm vụ chăm sóc bàn thờ cũng như chăm sóc phòng khách, và coi trọng bàn thờ như trọng bản thân, đừng tỏ thái độ khinh thường nơi thờ tự và mỗi khi chiêm bái.

Để xác định một lần nữa, thờ tự không phải là một hành động mê tín dị đoan mà là Truyền Thống Văn Hóa và Tín Ngưỡng của Dân Tộc, chúng ta không thể quên được sự nghiệp của nguồn gốc Văn Hóa Đông Phương. Đó chính là một trong những biểu tượng văn minh của người Á Đông mà các nước Tây phương khó có thể tìm được giá trị Tâm Linh ấy trong cuộc sống xã hội con người.

Người Phật Tử chúng ta đã hiểu được ý nghĩa, giá trị và phương cách thờ tự theo quan niệm Phật Giáo, hãy cố gắng giữ gìn Truyền Thống và thực hiện cho kỳ được việc Thờ Tự tại gia cho chu đáo, vừa lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân, cải thiện hoàn cảnh và giáo dục con em sau này trờ nên Thiện Mỹ để xứng đáng là người Phật Tử trong hoàn cảnh hiện tại giữa thời đại hiện kim này.
Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: . VẤN ĐỀ CÚNG:   Mon Apr 04, 2011 9:46 pm


II. VẤN ĐỀ CÚNG:

Vấn đề Cúng là một nghi vấn không ít trong quảng đại quần chúng và cũng có lắm người hành động sai lệch, thành thử vô tình làm mất giá trị của sự Cúng Bái. Không gia đình Á Châu nào mà không có Cúng kỵ Tổ Tiên và cũng không Quốc Gia nào mà không có Quốc Lễ, nhưng không được bao nhiêu người hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của sự Cúng Bái. Theo Phật Giáo, Cúng Bái có những ý nghĩa và giá trị như sau:

A. Ý NGHĨA CỦA SỰ CÚNG:

Cúng gọi đủ là “Cúng Dường”, đó là danh từ của Phật Giáo. Danh từ này được chuyển ngữ từ hai chữ “Cung D­ưỡng” của tiếng Trung Hoa. Trước hết chúng ta cần hiểu hai danh từ: Cung Dưỡng và Cúng Dường.

a. Cung Dưỡng: nghĩa là cung cấp và phụng dưỡng, tức là cung ứng theo sự nhu cầu về vật chất của những kẻ thiếu thốn và nuôi dưỡng khi họ đói cơm rách áo v.v... Sự Cung Dưỡng ở đây có tánh cách bố thí với tình th­ương được mở rộng, giúp đỡ những phương tiện cần thiết về đời sống cho những kẻ đang cần sự hỗ trợ qua tinh thần vị tha của những người dư thừa.

b. Cúng Dường: (Tiếng Phạm là: Pùjana) nghĩa là hiến cúng và dâng lễ, tức là dâng hiến những lễ vật lên các bậc tôn kính, mong cầu ơn trên chứng minh. Cúng Dường ở đây có tánh cách chí thành, quy ngưỡng, tưởng niệm đến các Tiền Nhân, các bậc Thánh Đức thâm ân mà kẻ dưới có bổn phận tri ân và báo ân.

B. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CUNG DƯỠNG Và CÚNG DƯỜNG:

a. Cung Dưỡng: nghĩa là phụng dưỡng, chăm sóc những người hiện đang sống trên đời với tình thương sẵn có mà bổn phận làm người cần phải trang trải trong sự quan hệ sanh tồn lẫn nhau, như phụng dưỡng cha mẹ, anh chị em, phụng dưỡng đồng bào ruột thịt v.v...

Còn đối với những kẻ đã quá cố, tức là những người đã chết mất, chúng ta không dùng hai chữ “Cung Dưỡng” trong sự tế lễ để khiến mất đi lòng Tôn Kính ở đây chúng ta dùng hai chữ “CÚNG TẾ” nhằm để thể hiện lòng thành đến với họ trong sự Lễ Nghi cung cách. Cúng Tế nghĩa là đem lễ vật hiến cúng theo lễ nghi tế tự, như cúng tế tổ tiên ông bà, cúng tế Thần Thánh v.v...

b. Cúng Dường: nghĩa là tưởng niệm đến những bậc thâm ân, những Thầy chỉ đạo mà mình đã tri ân, đã quy ng­ưỡng với hành động Tôn Kính. Chúng ta không chỉ “Cúng Dường” cho những người hiện đang còn sống mà còn “Cúng Dường” đến cho những bậc đã quá vãng, đã qua đời. Hơn nữa, trong Phật Giáo còn gọi là Cúng Dường Tam Bảo (Cúng dường Phật, Pháp, Tăng), cúng dường Thầy Tổ, cúng dường Trai Tăng v.v...

C. GIÁ TRỊ VÀ QUAN NIỆM SỰ CÚNG:

Người Việt Nam phần đông ít ai thông suốt ý nghĩa và giá trị của sự Cúng Bái. Họ chỉ biết hành động theo tập tục cổ truyền của Ông Bà để lại mà bổn phận con cháu phải giữ gìn Gia Bảo tinh thần ấy. Đó là một điều rất tốt nhưng cũng rất tai hại cho những con cháu thiếu đức tin. Vì không hiểu ý nghĩa Cúng Bái, người kế thừa Gia Bảo Tổ Tiên không giải thích được cụ thể cho con cháu lãnh hội và còn làm lệch lạc giá trị cao quý của Truyền Thống Văn Hóa. Hơn nữa, một khi gặp phải kẻ khác xuyên tạc, họ lại xem thường và thiếu tâm thành trong sự Cúng Bái là hành động mê tín dị đoan.

Con người mỗi khi làm điều gì bị bắt buộc nếu như không hiểu ý nghĩa về việc mình đang làm thì xem như bị một hình phạt đau khổ rất lớn. Nhất là đối với những kẻ có học thức, có trình độ Văn Hóa cao, họ đòi hỏi phải hiểu tư­ờng tận và cụ thể những sự việc mà họ phải làm. Không ai có thể bắt buộc họ làm những việc mà họ không hiểu. Đúng ra, họ rất muốn học hỏi và tìm hiểu tất cả những gì có tánh cách Tín Ngưỡng và Văn Hóa, nhưng không đư­ợc ai giải thích vấn đề cho rõ ràng và thực tế. Nguyên do kẻ trên trước đã không hiểu Văn Hóa và Tín Ngưỡng thì đâu thể nào giải thích cho hậu lai được thông suốt. Cũng từ đấy, một số người lầm lạc khinh thường sự Cúng Bái và tỏ thái độ thiếu Lễ Nghi cung cách với bề Trên mà thật ra họ rất cần đến sự giao cảm giữa Tâm Linh của họ với Tâm Linh của các bậc Tiền Nhân qua sự nguyện cầu. Vì lẽ không hiểu, đôi khi họ mượn duyên cớ Cúng Bái làm bình phong nhằm mục đích họp bạn ăn uống vui chơi hơn là tưởng niệm để tri ân và báo ân. Họ không thể nào tin được có Ông Bà hay Thần Thánh đến hưởng đồ Cúng Bái. Giả sử trong khi Cúng Bái, con cháu nhìn thấy được Ông Bà hay Thần Thánh hiện nguyên hình đến ăn uống giống như người sống thì lúc đó họ sẽ đau khổ cực độ vì quá hoảng sợ mà con cháu lại tưởng ma quỷ hiện và sẽ đốt nhà bỏ đi nơi khác. Nguyên do Ông Bà hay Thần Thánh không còn hình tướng giống như người sống bình thường nữa.

Trên thực tế, có những hiện tượng mà chúng ta bất lực trên lãnh vực quan sát. Chúng ta chỉ hiểu biết những hiện tượng đó trên bình diện giả thuyết để tìm đáp số cho đức tin. Chúng ta không thể nào nhìn thấy điện thể trong không gian bằng sự quan sát. Chúng ta chỉ nhìn thấy điện trên lãnh vực tác dụng. Nhưng điện tác dụng không phải là điện thể mặc dù điện tác dụng được phát sanh từ điện thể trong không gian. Hơn nữa chúng ta chỉ nhìn thấy sự vật bên ngoài bằng Ảnh Tử (Cause’s Images of Illusions) ảo giác méo mó và không thể nào nhìn thấy mọi vật đúng với giá trị và ý nghĩa của nó, nếu như không đặt quan niệm thương ghét vào. Giả như chúng ta nhìn sự vật trên quan niệm thương ghét thì thấy vạn pháp càng méo mó hơn. Chúng ta làm sao cụ thể hóa được toàn diện về phần vật lý những thế giới siêu hình theo sự mong muốn. Khác nào chúng ta nếu như có thể thì cũng chỉ hiểu biết được những chúng sanh hiện hữu trong phạm vi Thái Dương Hệ (Solar- Systems) này mà thôi và ngược lại không thể nào biết được những chúng sanh hiện hữu trong các Thái Dương Hệ khác ngoài Thế Giới chúng ta đang sống. Tại sao thế? Nguyên do chúng ta là con người hiện đang sống trong Thế Giới gọi là Ngoại Giới có hiện tướng (Thế Giới hiện hình tướng ra bên ngoài) hoàn toàn lệ thuộc vật chất thì không thể nào thấy được chúng sanh đã và đang sinh hoạt trong những Thế Giới có tánh cách Nội Giới không hiện tướng. Chúng sanh trong những Thế Giới Nội Giới không hiện tướng đều được xây dựng nên bởi Tâm Thức và chúng nó thì không bao giờ bị lệ thuộc chút nào về vật chất cả, mặc dù những Thế Giới Nội Giới vô hình này và những Thế Giới Ngoại Giới hữu hình kia rất tương quan chặt chẽ với nhau trong sự duyên sanh. Những Thế Giới Nội Giới vô hình kia nếu như không có thực chất để làm Nhân thì những Thế Giới Ngoại Giới hữu hình này nhất định không thể thành lập để làm Quả. Trường hợp đây cũng giống như Điện Thể không gian ở trạng thái không hình tướng (Trạng thái không có hiện tướng) nếu như không thật chất để làm Nhân thì Điện Dụng (Điện đã tác dụng) sấm chớp ở trạng thái có hình tướng (Trạng thái có hiện tướng) nhất định không thể phát sanh để làm Quả. Thể và Dụng, Nhân và Quả là hai trạng thái rất quan hệ với nhau một cách chặt chẽ không thể tách rời trong chiều h­ướng duyên sanh để thành hình vạn pháp. Chúng ta chỉ biết được vạn pháp từ nơi thành Quả, từ nơi tác dụng hiện tướng và ngược lại chúng ta không thể nào quan sát được vạn pháp ở trạng thái Nguyên Nhân cũng như ở trạng thái Thể Tĩnh không hiện tượng. Hơn nữa, con người nhìn thấy vạn pháp qua Nhãn Quang (Lenz-lights) chiếu soi. Nhãn Quang nếu như không chiếu soi thì con người không thể nhìn thấy vạn pháp. Nhưng Nhãn Quang lại bị ảnh hưởng nơi Nhãn Căn (Giác quan con mắt) cho nên chiếu soi không được tinh nhuệ. Trường hợp này cũng giống như dòng điện bị ảnh hưởng bóng đèn nên phát ra ánh sáng không được đúng độ. Vã lại, Nhãn Quang bị ràng buộc quá nhiều bởi ánh sáng mặt trời. Do đó con người không thể nhìn thấy rõ sự vật về đêm. Ngược lại, một số loài động vật như con mèo, con chó v.v... cũng nhìn thấy vạn pháp qua Nhãn Quang của chúng. Nhưng Nhãn Quang của những loài động vật nói trên không lệ thuộc bởi ánh sáng mặt trời và cũng như không bị ngăn cách bởi bóng đêm. Cho nên chúng nó có thể nhìn thấy những hiện tượng vô hình cả ngày lẫn đêm mà loài người không thể nào biết được. Nguyên do Nhãn Quang của loài người không phải là Nhãn Quang của các loài vật kia. Khác nào ánh sáng của mặt trời không phải là ánh sáng của mặt trăng. Như ánh sáng mặt trời soi vào nhà, chúng ta mới thấy được vô số vi trần bay khắp nhà xuyên qua ánh sáng. Trái lại, chúng ta nếu như không có ánh sáng mặt trời chiếu soi thì không thể nào thấy được những vi trần nói trên hiện đang bay lượn trong không gian. Như vậy, chúng ta mặc dù không nhìn thấy các chúng sanh của những Thế Giới Nội Giới ở trạng thái vô hình, nhưng đừng vội cho là chúng nó không có mặt trong vũ trụ bao la.

Vũ trụ bao la có nhiều Thế Giới thì tất nhiên cũng có nhiều loại không sanh hiện đang sinh hoạt trong đó. Các nhà Khoa Học chưa khám phá được chúng, nhất là chưa biết được chút nào về lãnh vực siêu hình. Các nhà Khoa Học chỉ biết lẩn quẩn trong Thái Dương Hệ (Solar-system) có vật chất này mà thôi và cũng chưa biết rõ tất cả Hành Tinh hiện có mặt trong không gian. Trong không gian bao la, Thế Giới này được kết hợp bởi những nguyên liệu không giống nhau như những Thế Giới khác, thành thử chúng sanh ớ Thế Giới này không thể sinh hoạt nơi những Thế Giới khác và hình tướg của họ cũng không giống nhau với các Thế Giới khác. Tương tợ như khối nước chính là Thế Giới của loài cá và không khí chính là Thế Giới loài ngời. Khối nước và không khí khác nhau cho nên loài người không phải là loài cá. Vì thế loài cá không thể sống trong Thế Giới của loài người và ngược lại, loài ng­ười cũng không thể sống được dưới nước giống như loài cá sinh hoạt.

Theo Phật Giáo, vũ trụ bao la có hằng hà sa số Thế Giới, nghĩa là Thế Giới nhiều như hạt cát của sông Hằng (sông Gange), trong đó chúng rất quan hệ từng loại với nhau, đức Phật phân chia chúng thành ra ba nhóm khác nhau theo sự quan hệ nói trên. Ba nhóm Thế giới gồm có: Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới.

1 Dục Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó đều do ái dục cực thịnh tạo thành. Những Thế Giới này gồm có: Thế Giới loài người, Thế Giới Địa Ngục, Thế Giới Ngạ Quỷ và Thế Giới Bàng Sanh (Súc Sanh).

2. Sắc Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó cũng do ái dục và dục tưởng kết hợp sắc chất tạo thành. sắc Chất ở đây thuộc thanh khí của Sắc Ấm một trong năm ấm tạo thành Thân Thể và Thế Giới của Sắc Giới. Sắc Chất này không phải Trược Khí của Sắc Uẩn, một trong Năm Uẩn tạo thành Thân Thể vâ Thế Giới của Dục Giới. Sắc Uẩn thì nhơ nhớp tanh hôi. Còn Sắc Ấm thì trong suốt giống như chất pha lê.

3. Vô Sắc Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó chỉ do Nghiệp Thức kết thành Thân Thể và Thế Giới. Những Thế Giới này muốn thấy được phải nhờ đến Phật Nhãn mới quán thông. Mắt thịt của chúng ta không thể nào biết được họ sinh hoạt trong những Thế Giới này.

Loài người còn không thể thấy được sự sinh hoạt, cách ăn uống của các chúng sanh trong những Thế Giới Địa Ngục, Ngạ Quỷ và A Tu La v.v. . . thuộc về cõi Dục thì làm sao biết được những chúng sanh trong các cõi Vô Sắc.

Hiện tượng trong thế gian cho chúng ta nhận thức rằng, con người sinh hoạt thường lệ thuộc quá nhiều nơi ánh sáng mặt trời cũng như ánh sáng đèn cho nên không thể biết được những gì thuộc về bóng đêm, nghĩa là con người muốn nhìn thấy được sự vật phải nhờ đến ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn chiếu soi. Ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn nếu như không soi sáng thì con ngời không thể nhìn thấy được những sự vật của bóng đêm mặc dù những sự vật của bóng đêm vẫn hiện có mặt trong thế gian. Ngược lại, những chúng sanh bị lệ thuộc bóng đêm thì không thể biết được những gì của ánh sáng ban ngày, nghĩa là chúng nó chỉ nhìn thấy được những sự vật thuộc về ban đêm. Như con chim vạc, con rắn lục, con chim quốc v. v... chỉ nhìn thấy được những sự vật của bóng tối thuộc về ban đêm và chúng nó không thể nhìn thấy được những sự vật của ánh sáng thuộc về ban ngày giống như con người. Còn những chúng sanh không bị lệ thuộc bởi ánh sáng mặt trời cũng như không bị lệ thuộc bởi bóng tối thì có thể nhìn thấy những sự vật của ban ngày và những sự vật của ban đêm. Như con mèo, con chó v.v... có thể nhìn thấy những sự vật cả ngày lẫn đêm không bị ngăn cách, nghĩa là bóng tối và ánh sáng mặt trời không trở ngại cho sự sinh hoạt của chúng. Trường hợp này cũng tương tợ như loài cá sống trên đất liền thì bị chết khô và loài người sống dưới nớc thì bị chết ngạt. Ngược lại loài rùa thì sống trên bờ hay sống dưới nước đều không bị trở ngại. Sự ăn uống của những chúng sanh trong các cõi khác cũng thế.

Chúng sanh đã có sự sống thì nhất định phải có sự hưởng thụ, nghĩa là họ phải có sự ăn uống và sinh hoạt để tồn tại. Nhưng sự ăn uống của họ không giống như sự ăn uống của loài người. Sự ăn uống của họ tùy theo nghiệp quyết định.

Thí dụ: Cùng một loại Thủy Tộc chuyên sống dưới nước như nhau,có giống thích ăn thịt như là Cá Mập, có giống chuyên ăn nhớt như là Cá Nược và có giống chỉ biết ăn rong


xxxxxxxxxxx

D. VẤN ĐỀ ĂN:

Ăn, tiếng Trung Hoa gọi là Thực, tiếng phạn và tiếng Pali gọi chung là ÀHÀRA, nghĩa là duy trì và nuôi dưỡng Thân Thể xác thịt của chúng sanh hoặc Pháp Thân của các Thánh Nhân để hình thái được tồn tại, để tinh thần được nẩy nở và phát triển lâu bền. Trong ba cõi, những thực vật để nuôi lớn Thân Thể xác thịt thì gọi là món ăn của thế gian. Còn những thực vật dể nuôi lớn Pháp Thân Trí Tuệ Giác Ngộ thì gọi là món ăn của xuất thế gian. Thế Gian ăn có bốn cách và Xuất Thế Gian ăn có năm cách. Bốn cách ăn của Thế Gian cộng với năm cách ăn của Xuất Thế Gian gọi chung là chín cách ăn. Trước hết chúng ta tìm hiểu bốn cách ăn của Thế Gian. Bốn cách ăn này được Kinh Tăng Nhứt A Hàm quyển 41 giải thích như sau:

Tứ Thực: (Nghĩa là bốn cách ăn của thế gian tiếng Phạn là Catvàra-àhàràh, hoặc Ahàracatuska. Tiếng Pali là Cattàro- àhàra). Bốn cách ăn này nhằm mục đích nuôi lớn Sắc Thân sanh tử trong thế gian. Bốn cách ăn của Thế Gian gồm có: Đoạn Thực, Xúc Thực, Tư Thực và Thức Thực. Hình thức bốn cách ăn được giải thích như sau:

1. ĐOẠN THỰC: (Tiếng Phạn là: Kavadim=Kàràhàra, Kavlì-kàràhàra. Tiếng Pali là: Kabalinkàràhàra). Đoạn Thực còn có tên là Đoàn Thực, Kiến Thủ Thực và còn có tên nữa là Tuy Thực. Ý nghĩa của những tên này được giải thích nh sau:

a. Đoạn Thực: nghĩa là chia lương thực ra từng đoạn, từng phần để ăn nên gọi là Đoạn Thực.

b. Đoàn Thực: nghĩa là nắm đồ ăn vo tròn đưa vào miệng để ăn nên gọi là Đoàn Thực. Đây cách ăn của người An Độ thời xưa dùng tay nắm vắt đồ ăn bóc đưa vào miệng.

c. Tuy Thực: nghĩa là vò nát đồ ăn hoặc bẻ ra từng mảnh để ăn nên gọi là Tuy Thực.

d. Kiến Thủ Thực: nghĩa là cầm lấy đồ ăn đưa vào miệng nên gọi là Kiến Thủ Thực. Bốn hình thức ăn vừa giải thích đều nằm trong ý nghĩa của Đoạn Thực được nêu ở trên. Theo Phật Học Đại Từ Điển quyển 4, Trang 3997-3998 Đoạn Thực được giải thích như sau:

ĐOẠN THỰC: nghĩa là ăn uống bằng cách lấy mùi hương, chất vị và tinh thể của xúc trần nơi sắc pháp để tươi nhuận và bổ ích cho các Căn trong thân thể nên gọi là Đoạn Thực. Đoạn Thực có hai phần: Phần Thô và Phần Tế.

a. Phần Thô: (Tiếng Phạm là Odàrika. Tiếng Pali là Olària), nghĩa là thể chất của thực vật phổ thông để ăn được nằm trong cơm, trong miến, trong cá, trong thịt.

b. Phần Tế: (Tiếng Phạm là Sùksma. Tiếng Pali là Sukhuma), nghĩa là các thứ để uống và các mùi thơm như là h­ương, dầu, sinh tô v.v... Nói tóm lại Đoạn Thực nghĩa là ăn bằng cách dùng tay đem đồ ăn đưa vào miệng để nuôi dưỡng Thân Thể, như loài người ăn v.v...

2. XÚC THỰC: (Tiếng Phạm là Spar-sàkàràhàra. Tiếng Pali là phassà- Kàràhàra), cũng gọi là Lạc Thực và Ôn Thực.

a. Xúc Thực: nghĩa là Khí quản cảm giác xuyên qua tinh thần làm chủ thể tức là Tâm tác dụng tiếp xúc ngoại cảnh liền sanh ra cảm giác và ý chí để bồi dưỡng và nuôi lớn Nhục Thân nên gọi là Xúc Thực. Nói cách khác, Xúc Thực nghĩa là ăn bằng cách dùng miệng thay thế tay chân tiếp xúc thẳng lương thực không qua trung gian đưa vào, như cách ăn theo kiểu heo, gà, chó v.v...

b. Lạc Thực: nghĩa là Tâm Sở xúc khi tiếp xúc trực tiếp với cảnh vật đối tượng liền phát sanh hỷ lạc ưa thích để nuôi lớn Nhục Thân nên gọi là Lạc Thực. Như người mê xem hát suốt ngày mà không cảm thấy đói.

c. Ôn Thực: nghĩa là như chim Khổng Tước, chim Anh Vũ v.v... khi sanh Trứng xong, liền đích thân trực tiếp ấp Trứng cho đến khi nào Trứng nở thành con mới thôi. Chúng ấp Trứng nhầm mục đích nuôi dưỡng sức ấm để sanh Lạc Xúc và Trứng nhờ đó mới nẩy nở thành con, nên gọi là Ôn Thực. Con người tắm rửa, mặc áo cũng gọi là Xúc Thực.

Nói tóm lại, căn cứ nơi nghiệp lực của chúng sanh mà nhận xét, Xúc Thực ở đây có nghĩa là ăn bằng cách dùng miệng tiếp xúc thẳng lương thực mà không dùng đến tay chân mang thức ăn vào miệng giống như cách ăn của loài ngời.

3. TƯ THỰC: (Tiếng Phạm là Manah-Samce=Tanàkàràhàra. Tiếng Pali là Mano-Sance=Tanàkàràhàra), cũng gọi là Tác ý Tư Thực (Ý Thực), Niệm Thực (Ý Niệm Thực), Ý Chí Thực, Nghiệp Thực, nghĩa là tác dụng của ý Chí (Tư) mong cầu cho mình được trạng thái tốt đẹp và tồn tại tức là trạng thái sanh tồn được kéo dài nên gọi là Tư Thực. Nói cách khác, Ý Thức thứ sáu đối với cảnh sở duyên liền phát khởi tư tưởng mong muốn và phát sanh Ý Niệm hy vọng các Căn (giác quan) được tiếp tục thêm lớn. Luận Thành Thật cho là “Tư nghiệp hoạt mạng”, nghĩa là do Nguyện Lực của tư tởng khiến cho Mạng Căn sinh hoạt. Còn Đại Thừa Nghĩa Chương, tiết mục Đại 44, trang 620 giải thích rằng: “Do Tư Nghiệp của quá khứ khiến Mạng Căn tiếp nối không dứt, nên gọi là Tư Thực. Như thế, tất cả chúng sanh có sanh mạng đều do tư tưởng ở quá khứ tạo nên, hoặc mang sống của họ đều do tư tưởng hiện tại tạo thành nên gọi là Tư Thực”.

4. THỨC THỰC: (Tiếng Phạm là Vi-jnànàkàràhàra. Tiếng Pali là Vinnànà- kàràhàra), nghĩa là Tâm Thức hữu lậu nư­ơng nhờ nơi Thức Alaya làm thể và ỷ lại vào thế lực của ba cách ăn ở trước để cồ thể tạo tác quả báo cho kiếp sau nhầm mục đích duy trì thân mạng của chúng sanh hữu tình không cho hư hoại, nên gọi là Thức Thực. Chúng sanh hữu tình trong các cõi Vô Sắc và Địa Ngục thường dùng cách ăn này nên gọi là Thức Thực.

Trong bốn cách ăn nói trên, Tâm Thức sinh hoạt một cách linh diệu để duy trì vạn pháp được tồn tại trong thế gian nên gọi là Thức Thực. Xúc Thực Tư Thực và Thức Thực đều thông cả ba cõi, nghĩa là chúng sanh hữu tình trong ba cõi phần nhiều sử dụng ba cách ăn này nên gọi là thông cả ba cõi. Riêng Đoạn Thực chỉ hạn cuộc trong cõi Dục, nghĩa cách ăn này chỉ dành riêng cho các chúng sanh hữu tình trong cõi Dục sử dụng nhiều hơn.

Có thể nói, Thức Thực là cách ăn bằng Tâm Thức và lương thực để cho Tâm Thức sử dụng chính là hương vị của các pháp. Riêng những người bị chết, sau khi bỏ Thân Thể xác thịt hôi tanh liền nương tựa nơi Thân Thể bằng Tâm Thức nên gọi là Thức Thân và cũng gọi là Thân Trung Ấm. Những người mang Thức Thân thì họ ăn bằng cách Thức Thực và lương thực của họ nuôi sống chính là hương vị của những đồ cúng tế mà phần đông những chúng sanh trong các cõi Đia Ngục, Ngạ Quỷ, A Tu La và cõi Trời thuộc Dục Giới đều thọ hưởng.

Như chúng ta đã biết sự ăn uống của chúng sanh hữu tình trong năm cõi (Cõi Trời, cõi Ngời, cõi Địa Ngục, cõi Ngạ Quỷ, cõi Súc Sanh) sở dĩ khác nhau chính là do bởi chúng có nhiều hình thái được sanh ra từ nơi bốn loại không giống nhau (loại sanh ra bằng trứng, loại sanh ra bằng bào thai, loại sanh ra bằng chỗ ẩm thấp và loại sanh ra bằng sự chuyển hóa từ hình tướng này sang hình tướng khác). Do đó so với các bậc Thánh Nhân, bốn loại chúng sanh nói trên đều thuộc hạng phàm phu và chúng ăn uống cũng khác với sự ăn uống của các bậc Siêu Đẳng. Bốn cách ăn này của bốn loại chúng sanh hữu tình trong năm cõi cũng gọi là Bất Tịnh Thực (Cách ăn không trong sạch).

Khác hơn bốn cách ăn của các hàng phàm phu, năm cách ăn của các bậc Thánh Nhân được gọi là Thanh Tịnh Thực (Năm cách ăn rất trong sạch) và cũng gọi là Xuất Thế Gian Thực (Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian). Đây là năm cách ăn của các đức Phật, của các vị Bồ Tát, các vị Duyên Giác và các bậc Thinh Văn th­ường sử dụng. Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian gồm có:

1. Thiển Duyệt Thực: nghĩa là Hành Giả dùng phương pháp Thiền để bố ích Tâm Thần, tức là những vị ấy hưởng đặng cái vui trong Thiền Định, nên gọi là Thiền Duyệt Thực.

2. Pháp Hỷ Thực: nghĩa là Hành Giả khi nghe pháp liền sanh tâm hoan hỷ, khiến tăng trưởng thiện căn và lợi ích huệ mạng, nên gọi là Pháp Hỷ Thực.

3. Nguyện Thực: nghĩa là Hành Giả vì muốn cứu độ chúng sanh đoạn trừ phiền não sớm chứng quả Bồ Đề nên phát nguyện rộng lớn duy trì bản thân để thường tu vạn hạnh, nên gọi là Nguyện.

4. Niệm Thực: nghĩa là Hành Giả sau khi an định được Tâm ý, thường ghi nhớ mãi những thiện pháp Xuất Thế mà mình đã chứng đắc không bao giờ quên, nên gọi là Niệm Thực.

5. Giải Thoát Thực: nghĩa là Hành Giả khi tu hạnh Thánh Đạo Xuất Thế của bậc Thánh Nhân đã đoạn được sự trói buộc của Nghiệp Phiền Não và không còn thọ nhận sự bức bách hay bị chi phối bởi khổ sanh tử nên gọi là Giải Thoát Thực.

Đây là danh xưng năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian. Năm cách ăn này được thiết lập là căn cứ nơi Pháp Hỷ của năng lực Thiền Định, của năng lực Chánh Nguyện, của năng lực Chánh Tư Duy làm nền tảng. Hành Giả nhờ năng lực Thiền Định, năng lực Chánh Nguyện và năng lực Chánh Tư Duy sau khi đoạn được phiền não và đ­ược học hỏi Phật Pháp liền sanh ra Pháp Hỷ. Pháp Hỷ thường nuôi dưỡng sanh mạng và bảo trì hạt giống Trí Tuệ, nên gọi là Thực.

Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian cộng chung với bốn cách ăn của Thế Gian nói trên trở thành chín cách ăn, gọi là Cửu Thực. (Hoa Nghiêm Kinh Sớ, quyển 28 và Kinh Tăng Nhứt A Hàm, quyển 41).

E. CÁCH ĂN CỦA TỔ TIÊN ÔNG BÀ:

Thế thì Tổ Tiên, Ông Bà ăn như thế nào?

Như đã trình bày ở trên, Tổ Tiên, Ông Bà có thể ăn uống thường gọi là Hưởng Thực nghĩa là ăn bằng cách Thức Thực những hương vị của món đồ mà con cháu dâng cúng và nếu như không có món đồ dâng cúng thì làm sao có hương vị để cho Tổ Tiên, Ông Bà hưởng thực.

Sở dĩ sự hưởng thực của Ông Bà không giống như sự ăn uống của loài người, nguyên vì các vị ấy không còn mang tấm thân xác thịt như loài người và cũng không còn sống trong thế giới loài người. Họ chết, nghĩa là họ bỏ lại tấm thân xác thịt bằng chất liệu máu huyết tanh hôi của cha mẹ. Họ chỉ còn lại thân thể bằng Tâm Thức, gọi là Thức Thân và cũng gọi là Trung Ấm Thân hay Danh Thân. Đã là Thức Thân sống trong thế giới nội Tâm không hiện tướng thì sự ăn uống của họ chỉ bằng Tâm Thức nên gọi là Thức Thực và lương thực của họ sống chính là Hương Vị của vạn pháp, thường gọi là Dưỡng Khí. Thức Thân là thân thể thuộc trạng thái vô hình không thể dung chứa những vật chất thuộc hữu tình, cho nên họ không thể hưởng đồ ăn bằng vật chất giống như sự tăn uống của loài người. Đến khi nào đi đầu thai thọ thân kiếp sau, họ kết hợp với sắc chất tức là tinh cha huyết mẹ để thể hiện Thức Thân nói trên trở thành Nhục Thân hiện tướng thì chừng đó họ có thể ăn uống những vật chất vào giống như sự ăn uống của loài người. Hoặc họ sanh vào những cõi khác, ngoài Thế Giới loài người thì sẽ ăn uống theo cách của chúng sanh ở những cõi đó.

Hơn nữa, Tổ Tiên Ông Bà đã đi đầu thai vào Thế Giói nào khác từ lâu, vậy chúng ta cúng kỵ có ý nghĩa gì? Trư­ờng hợp này chúng ta cúng kỵ có hai ý nghĩa:

a. Ý nghĩa thứ nhất, chúng ta cúng kỵ nhằm mục đích tri ân và báo ân những đấng sanh thành đã từng hy sinh tạo nên chúng ta cũng như gầy dựng nên giòng họ Tông Môn của Gia Phả mình. Đồng thời chúng ta giáo dục con cháu thiêng liêng hóa Tông Đường để tiếp nối sự nghiệp hiển vinh giòng họ Nội Ngoại hai bên. Không khác nào Dân Tộc Việt Nam mỗi năm thường làm lễ kỷ niệm Quốc Tổ Hùng Vương để nhắc nhở giống nòi đừng quên cội mất nguồn. Cũng như Tín Đồ làm lễ kỷ niệm Phật Tổ hay Thánh Chúa là để hình ảnh thiêng liêng đó ăn sâu vào tâm khảm của mỗi Tông Đồ.

b. Ý nghĩa thứ hai, chúng ta cúng kỵ với giá trị là sử dụng năng lực tâm linh thành kính của mình biến hương vị lương thực hiến cúng thành dưỡng khí và chuyển dưỡng khí đó thành chất liệu dưỡng sinh để mang đến cho ng­ười mình cúng qua hệ thống tâm linh. Người mình cúng ở cõi khác tự nhiên được nhiều sự may mắn không biết từ đâu đến mà người đời thường gọi là được phước đức ông bà. Trờng hợp này cũng tương tợ như bóng đèn điện đã bể, chúng ta thay vào đó một cái quạt máy. Hình thức quạt máy hoàn toàn không phải là hình thức một bóng đèn. Giờ đây chúng ta tăng sức dòng điện cho đường giây bóng đèn cũ thì trên thực tế quạt máy tự nhiên được ảnh hưởng ngay. Người mình cúng tuy không còn là hình thức ông Bà, nhưng Tâm Linh của họ vẫn cùng một dòng Tâm Linh với Tổ Tông không khác. Chúng ta tăng năng lực cầu nguyện trên đường giây Tâm Linh dòng họ thì người mình cúng sẽ được ảnh hưởng ngay. Giá trị này cũng giống như chúng ta đánh Fax hay gọi Điện-thoại viễn liên thay vì điện tử qua hệ thống Tâm Linh rất linh diệu vô cùng, ảnh hưởng đến người mình gọi.

Tóm lại, Tổ Tiên Ông Bà và Nghiệp Lực thọ sanh vào những Thế Giới vô hình thì sự sinh hoạt ăn uống của họ chỉ bằng Thức Thực không giống như sự ăn uống của loài người và con cháu cúng dường là đem hương vị của món đồ dâng lên thành kính tưởng niệm để tri ân và báo ân. Đó là cách ăn uống của Tổ Tiên Ông Bà theo quan niệm Phật Giáo.
xxxxnước như là Cá Cơm v.v...

Đức Phật nói: “Chúng sanh tùy nghiệp nhi thực” nghĩa là chúng sanh do bởi nghiệp sai biệt nên ăn uống không giống nhau. Theo Phật Giáo, chúng sanh trong các cõi Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới có nhiều cách ăn. Những cách ăn của chúng sanh trong ba cõi được chia thành chín loại khác nhau, gọi là Cửu Thực. Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa và giá trị chín cách ăn nói trên.

G. CÁCH CÚNG

Cúng phải có quy cách của cúng tế, nghĩa là cách thức cúng tế đã được quy định trong Nghi Lễ, như Nghi Lễ của Quốc Gia gọi là Quốc Cách, Nghi Lễ của Quân Đội gọi là Quân Cách, Nghi Lễ của Tôn Giáo gọi là Tôn Giáo Cách v.v...

Người kế thừa trong sự cúng bái nếu như thiếu Nghi Lễ quy cách chính là thiếu cung cách trong việc cúng tế, tức là người đó đã phạm lỗi với các bậc Thánh Hiền đáng tôn kính. Theo Kinh Di Giáo, người cúng dường trước hết sử dụng thân thể cũng như hành vi làm chủ yếu và sau đó họ sử dụng tinh thần để giao cảm. Cho nên họ phải thể hiện được hai đức tánh: Thân Cúng Dường và Tâm Cúng Dường.

a. Thân Cúng Dường: nghĩa là người cúng dường phải dâng cúng những lễ vật như đồ ẩm thực, y phục, thuốc thang v.v... lên cho Tam Bảo, cho Sư Trưởng, cho Cha Mẹ, cho Hương Linh v.v... một cách tâm thành, gọi là Thân Cúng Dường.

b. Tâm Cúng Dường: nghĩa là người cúng dường cảm thấy tâm không nhàm chán, không biết đủ, không hối tiếc và tự tại trong hành động, gọi là Tâm Cúng Dường.

Cũng từ ý nghĩa này, Quy Cách của Phật Giáo có hai phương thức cúng là Sự Cúng và Lý Cúng.

1. SỰ CÚNG:

Những lễ vật hiến cúng lên bàn thờ chính là hình thức biểu tƯợng lòng chí thành của một ngƯời con, của một Tín Đồ dâng trọn niềm tin lên Tổ Tiên Ông Bà, lên Thánh Hiền và lên Chư Phật. Họ dâng hiến lễ vật là mong nhờ Tổ Tiên Ông Bà và Thánh Hiền Chư Phật đoái tưởng ấn ký, gọi là chứng minh cho tất lòng chí thành biết ơn của kẻ dưới. Nếu như không có lễ vật biểu tượng thì không thể hiện được lòng chí thành của mình đối với những bậc thâm ân mà mình tôn kính. Cũng như nếu không có Thiệp (Card) chúc tết hoặc lời chúc tụng thì không thể nào tỏ bày được lòng thành của mình đối với người mình chúc tụng. Nhờ sự tướng (hình thức) hiển bày được nguyên lý, nhờ hình tướng hiển bày được thể tánh, nghĩa là sự tướng nếu như không có thì không thể hiện được lý tánh. Sự và Lý cũng như Tướng và Tánh đều dung thông với nhau không ngăn ngại. Kinh Hoa Nghiêm có câu: “Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới”, nghĩa là Lý Tánh nhờ Sự Tướng được hiển bày và Sự Tướng nhờ Lý Tánh được thành hình. Sự Lý không thể rời nhau được để thành lập. Vạn pháp tuy có tướng trạng khác nhau, nhưng đều cùng chung một bản thể.

Người có lòng chí thành thì dù hột muối cắn làm hai đem dâng cúng lên bề trên cũng có giá trị và ngược lại. Ngư­ời không có lòng chí thành thì mặc dù đem mâm cao cỗ đầy cũng không có ý nghĩa, đúng như câu: “Phật tức tâm, Phật chứng tại tấm lòng, tâm tức Phật lòng thành có Phật”.

2. LÝ CÚNG:

Lý Cúng Dường nghĩa là thể hiện được chân lý đã chứng nhập đem ra cúng dường, nên gọi là Lý Cúng. Kinh Phổ Hiền, Phẩm Hạnh Nguyện nói Cúng Dường có ba ý nghĩa:

a. Tài Cúng Dường: nghĩa là dùng những hoa quả, tiền của châu báu thường dùng trong thế gian đem ra cúng dư­ờng.

b. Pháp Cúng Dường: nghĩa là đem tâm Bồ Đề làm lợi ích cho mình và lợi ích cho mọi người để cúng dường.

c. Quán Hạnh Cúng Dường: nghĩa là thật hành pháp quán để nhận thấy vạn vật khắp trong ba cõi đều dung thông với nhau, tức là thật hành phương pháp quán chiếu về “Sự sự vô ngại pháp giới” của Kinh Hoa Nghiêm để cúng dường.

Kinh Thập Địa Luận, quyển 8 nói: Cúng dường có 3 cách:

a. Lợi Dưỡng Cúng Dường: nghĩa là chỉ dùng các thứ y phục, ngọa cụ v.v... để cúng dường.

b. Cung Kính Cúng Dường: nghĩa là tỏ lòng thành bằng cách dâng hương hoa, tràng phang bảo cái v.v...để cúng dường.

c Hạnh Cúng Dường: nghĩa là tiến tu đạo nghiệp về các hạnh, như Tín Hạnh, Giới Hạnh v.v... để cúng dường.

Pháp Hoa Văn Cú quyển 8 nói rằng: dùng Tam nghiệp cúng dường. Tam nghiệp cúng dường như là:

a. Thân Nghiệp Cúng Dường: nghĩa là dùng thân này chí thành lễ bái, kính ngưỡng các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng dường.

b. Khẩu Nghiệp Cúng Dường: nghĩa là dùng lời nói ca tụng khen ngợi công đức của các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng dường.

c. Ý Nghiệp Cúng Dường: nghĩa là dùng tâm ý đoan chánh tưởng niệm đến Tướng Hảo Trang Nghiêm của các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng dường.

Với tinh thần Lý Cúng vừa trình bày trên, chúng ta luôn luôn noi gương tốt của các bậc Tiền Nhân Thánh Đức, của Tổ Tiên Ông Bà, cố gắng ngăn ngừa các điều tội ác nguyện làm các việc phước lành, giữ gìn thân tâm cho trong sạch, trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm, để xứng đáng danh nghĩa con cháu yêu quý của dòng họ của Tông Môn, để làm gương mẫu tốt trong xã hội. Chúng ta thể hiện được tinh thần cao đẹp vừa nói trên để cúng dường lên Tổ Tiên Hiền Thánh, ngưỡng mong các bậc tôn vinh trên chứng minh vâ gia hộ, đó là ý nghĩa của Lý Cúng.

Theo quy cách của Phật Giáo, con cháu mỗi khi cúng kỵ Ông Bà hay Thánh Hiền phải hội đủ những điều kiện sau đây:

a. Phải có lòng thành kính đối với bậc trên trước mà mình cúng bái, nghĩa la không phải cúng bái với mục đích họp bạn ăn uống vui chơi.

b. Phải trang nghiêm thanh tịnh trong lúc cúng tế, nghĩa là trong lúc cúng tế không được tổ chức ca múa hát xư­ớng như một hí trường.

c. Phải có ba chén cơm, ba chung nước thanh khiết và ba đôi đũa hoặc ba muỗng nĩa cùng với hơng đèn hoa quả v.v... Đó là điều kiện cần thiết trong khi cúng. Còn các thức ăn khác thêm bớt là tùy theo hoàn cảnh của mỗi gia chủ.

d. Tất cả con cháu trong gia đình đều phải quỳ xuống, im lặng, chắp tay hướng về bàn thờ Tổ Tiên, Thánh Hiền v.v... bày tỏ lòng chí thành. Lúc đó gia chủ đại diện nguyện hương, vái tên họ, tuổi và ngày tháng, năm tạ thế của người quá vãng (người đã chết) mà mình cúng kỵ. Trong khi cha mẹ đang cúng Ông Bà, con cháu không đư­ợc đùa giỡn làm thiếu lễ nghi cung cách. Kế đến, tất cả con cháu đều chí thành đọc tụng Thần Chú Chuyển Lương Thực để Ông Bà thọ hưởng sự cúng dường. Sau cùng tất cả đều lạy ba lễ.

Đây là năm điều căn bản của con cháu mà bổn phận làm người cần phải nằm lòng trong việc kế thừa sự nghiệp gia bảo của tiền nhân. Chúng ta tại sao phải có bổn phận và lại còn hãnh diện mỗi khi tổ chức trọng đại lễ kỷ niệm Hùng Vương, Đức Thánh Trần, Tổng Thống v.v... và còn đọc tiểu sử ghi công các vị ấy một cách trang nghiêm. Ngược lại, chúng ta tại sao thiếu bổn phận và lơ là trong việc cúng bái Tổ Tiên là những bậc có công ơn lớn nhất của Tông Môn của dòng họ mình. Trong Phật Giáo, tội bất hiếu là một trong năm tội Ngũ Nghịch của Địa Ngục Vô Gián. Chúng ta mang danh là Phật Tử cần phải biết cung cách Hiếu Hạnh vừa trình bày ở trên đề ngăn ngừa đừng phạm phải.

H. PHỤ BẢN:

I.- KHI CÚNG ÔNG BÀ:

Khi cúng ông Bà, con cháu phải tập họp đầy đủ trước bàn thờ Tổ Tiên và ăn mặc chỉnh tề, im lặng. Gia Chủ đại diện lên đèn va đọc thầm bài Kệ Đốt Dèn:

KỆ ĐỐT ĐÈN:

Đốt sáng đèn Tâm,

Nguyện cho chúng sanh,

Chiếu tỏa mười phương,

Tẩy trừ mê ám.

Nam Mô Nhiên Đăng Vương Bồ Tát. (3 lần)

Tiếp theo Gia Chủ đốt ba cây hương và đọc thầm Thần Chú Đốt Hương:

CHÚ ĐỐT HƯƠNG:

Tinh Hương kết vần mây thể,

Thơm khắp ba cõi mười phương,

Năm Uẩn biến thành trong sạch,

Trần ai ba độc thanh lương.

Án Phóng Ba Tra Tá Ha. (3 lần)

Tới cả con cháu đều quỳ xuống và Gia Chủ đại diện nguyện hương.

KỆ NGUYỆN HƯƠNG:

Đem tất lòng thành kính,

Nguyện kết đài Mây-hương,

Dâng lên khắp mười phương,

Cúng dường ngôi Tam Bảo,

Cúng Cửu Huyền Thất Tổ,

Nội Ngoại cả hai bên,

Niệm ơn trên hiển linh,

Ứng lòng Từ chứng giám,

Gia hộ đàn con cháu,

Sớm lập Đức bồi Tâm,

Khiến tỏ rạng Tông Môn,

Lưu danh thơm kim cổ.

Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. (3 lần)

Kế đến cầu nguyện:

Hôm nay ngày lành tháng tốt, chính là ngày kỷ niệm (Kể tên họ, tuổi và năm, tháng, ngày, giờ tạ thế của ngời mình cúng kỵ). Để tỏ lòng tưởng niệm, nhớ nghĩa thâm ân, gia đình chúng con gồm có........... (liệt kê tên họ) thành tâm sắm sửa trai nghi, hương hoa, quả phẩm thanh khiết dâng lên, trước hết cúng dường Cửu Huyền Thất Tổ, Thất Thế Phụ Mẫu, đa sanh Phụ Mẫu, Lục Thân Quyến Thuộc, Nội Ngoại Hương Linh, trên đến Cao Tằng Tổ Khảo, dưới đến Tử Tôn Tằng Huyền, và tiếp theo cúng dường Hương Linh (Tên họ người mình cúng kỵ).

Duy nguyện, chư Hương Linh quang lâm án Tiền chứng minh công đức, gia hộ con cháu chúng con, tai chướng tiêu trừ, thân tâm hương thới, mạng vị bình an căn lành tăng trưởng, bốn mùa không còn chút tai ương, tám tiết phước lớn như đông hải. Gia đình hưng thịnh, quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, cầu chi đều nh ý, nguyện tất cả đợc tùng tâm.

Nam Mô Linh Tự Tại Bồ Tát. (3 lần)

TỤNG CHÚ CHUYỂN LƯƠNG THỰC:

Biến cơm, biến nước Chơn Ngôn thành tâm trì tụng:

1. Nam Mô Tát Phạ Đát Tha, Nga Đa Phạ Lồ Chỉ Đế, Án, Tam Bạt Ra, Tam Bạt Ra, Hồng. (3 lần)

2. Nam Mô Tố Rô Bà Da, Đát Tha Nga Đa Da, Đát Diệt Tha, Án, Tố Rô Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Ta Bà Ha. (3 lần)

3. Án, Nga Nga Nẳng Tam Bà, Phạ Phiệt Nhựt Ra, Hồng. (3 lần)

(Lạy ba lễ là xong)
Về Đầu Trang Go down
kizz
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: III.- VẤN ĐỀ LỄ BÁI:   Mon Apr 04, 2011 9:50 pm

II.- NGHI

THỈNH VONG:

Hương Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thỉnh, Hương Linh lắng nghe, Cuộc đời dâu bể, sớm còn tối mất tợ chiêm bao, Sống gởi thác về, mau quay đầu trở lại đường xa bến cũ, Hương Linh giờ đây tỉnh ngộ, Nghe lời triệu thỉnh quang lâm, An tọa trước bạn hương án trang nghiêm, Xin chứng giám lòng thành của Gia Chủ. U Minh Giáo Chủ, Bồ Tát hiện thân, Hóa độ khắp chốn cùng nơi, Tiếp dẫn ba đường sáu nẻo, Lòng từ thương xót, Chí nguyện kiên cường: “Địa Ngục chưa hết chúng sanh, Ngài thệ không thành Phật quả. Đến khi Địa Ngục không còn, Chừng đó lên ngôi Chánh Giác”. Đại Bi Đại Nguyện Đại Thánh Đại Từ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thương vì Gia Chủ.......... (Kể tên họ con cháu) Tiếp độ Hương Linh. (Đọc tên người quá vãng), Về nơi Đạo Tràng, Chứng minh công đức.

Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần)

Hương Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thỉnh, Hương Linh lắng nghe, Năm Uẩn giả hợp nên người, Bốn Đại duyên sanh thành vóc, Bản chất vô thường, Hình hài biến đổi, Chốn phù sinh mang thân gởi tạm, Đường tội lỗi mình lỡ tạo nên, Hôm nào còn đó, Bữa nay mất rồi, Thân cát bụi trả về cát bụi, Mượn Ấm Thân nhờ chuyển kiếp sau, Phiền não trầm luân khổ lụy, Sông mê lặn hụp triền miên, Hương Linh nên tỉnh ngộ, Thuyền Bát Nhã đợi chờ, Nơi bến Giác mau về cập bến, Nhờ Hào Quang dẫn lối soi đờng, An nhàn nơi đất Phật, Tĩnh tọa trên tòa Sen, Quan âm, Thế Chí hộ trì, Giáo chủ Di Đà thọ ký, Liền trở về đây nơi chốn dương trần, Sớm gia hộ cháu con, Quyến thuộc Tông Môn nam nữ, Thừa tư công đức, Tai chớng tiêu trừ, Thân tâm hương thới, Mạng vị bình an, Bốn mùa không còn chút tai ương, Tám tiết phước lớn như đông hải, Gia dình hng thịnh, Quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, Cầu chi đều như ý, Nguyện tất cả được tùng tâm.

Nam Mô Linh Tự Tại Bồ Tát. (3 lần)

Thiền Trà dâng cúng, Thiền Vị ba chung, Tang Chủ trà châm, Chí thành ba lễ.

Hương Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thành, Hương Linh lắng nghe, Nay riêng mình, Giờ đây bụi trần phủi sạch, Còn gia quyến, âm dương hai ngã cách đôi, Tỏ lòng đạo nghĩa thâm ân, Con cháu chí thành tưởng niệm, Trước tiên dâng hiến nước Cam Lồ, Chất liệu tươi nhuận khắp mười phương, Thiền trà Pháp Nhũ, Thiền vị ngát hương, Gia chủ mong nhờ Thiền Đức, Chuyển lời triệu thỉnh Hương Linh, Khởi hành từ chốn U Minh, Nương tòa Sen về dương thế, Tĩnh tọa trước Đạo Tràng Hương án, Nghe kinh và thọ lãnh cúng dường, Do Gia Quyến chí thành dâng hiến, Xin nguyện Hương Linh (kể tên) hết lòng gia hộ cháu con, Quyến thuộc Tông Môn nam nữ, Thừa tư công đức, Tai chướng tiêu trừ, Thân tâm hương thới, Mạng vị bình an, Bốn mùa không còn chút tai ương, Tám tiết phước lớn như đông hải, Gia đình hưng thịnh, Quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, Cầu chi đều như ý, Nguyện tất cả đư­ợc tùng tâm.

Nam Mô Cam Lồ Vương Bồ Tát. (3 lần)

Thiền Trà dâng cúng, Thiền Vị ba chung, Gia Chủ trà châm, Chí thành ba lễ.

Hương Hoa thỉnh Nhứt Tâm triệu thỉnh, Hương Linh lắng nghe, Nương Từ Bi vô lượng, Nhờ Phật Pháp nhiệm mầu, Bao nhiêu quả phẩm Cam Lồ, Lương thực thiết đầy Hương án, Pháp nhũ mỹ vị tịnh chay, Biến khắp hư không Pháp Giới, Con cháu chí thành, Hiến dâng cúng bái, Hương Linh nghe lời triệu thỉnh, Về đây thọ lãnh cúng dường, Đó là món ăn tinh thần, Thanh tịnh huơng thơm Pháp Vị, Xin nguyện Hương Linh........(kể tên) Sớm được ấm no đầy đủ, Hết lòng gia hộ cháu con, Quyến thuộc Tông Môn nam nữ, Thừa tư công đức Tai chướng tiêu trừ, Thân tâm hương thới, Mạng vị bình an, Bốn mùa không còn chút tai ương, Tám tiết phước lớn như đông hải, Gia đình hưng thịnh, Quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, Cầu chi đều như ý, Nguyện tất cả được tùng tâm.

Nam Mô Mỹ Hương Trai Bồ Tát. (3 lần)

Thiền Trà dâng cúng, Thiền Vị ba chung, Gia Chủ trà châm, Chí thành ba lễ.

TỤNG CHÚ CHUYỂN LƯƠNG THỰC: Biến cơm, biến nước Chơn Ngôn thành tâm trì tụng:

1. Nam Mô Tát Phạ Đát Tha, Nga Đa Phạ Lồ Chỉ Đế, Án, Tam Bạt Ra, Tam Bạt Ra, Hồng. (3 lần)

2. Nam Mô Tố Rô Bà Da, Đát Tha Nga Đa Da, Đát Diệt Tha, Án, Tố Rô Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Ta Bà Ha. (3 lần)

3. Án, Nga Nga Nẳng Tam Bà, Pha Phiệt Nhựt Ra, Hồng. (3 lần)

Hương Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thỉnh, Hương Linh lắng nghe, Tâm giác ngộ vốn thanh tịnh, Dứt si mê chứng quả ngay, Có thân có khổ, Có nghiệp chướng có luân hồi, Không sanh không tử, Không nghiệp chướng không đến đi, Sanh tử đến đi như giấc mộng, Cuộc đời dâu bể tợ chiêm bao. Hơng Linh đừng luyến tiếc kiếp phù sinh, Mau thoát khỏi bể khổ đau ái dục, âm Dương tuy hai đường ngăn cách, Nhưng Thể Tánh chỉ có một Pháp Thân, Mong Hương Linh được nhẹ nhàng, Sanh sang nước Cực Lạc, của đức Phật A Di Đà, Hiện đang làm Giáo Chủ, Thuyết Pháp độ chúng sanh, Hương Linh ngồi trên tòa Sen báu, Chí thành chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, Ngưỡng mong đức Phật Từ Bi, Duỗi lòng phóng quang tiếp độ , Hơng Linh siêu sanh Tịnh Độ, Chứng quả Niết Bàn Vô Dư.

Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát. (3 lần)

Tóm lại, vấn đề Cúng là một cung cách rất thiết yếu của người có Tín Ngỡng đối với Tổ Tiên, đối với Hiền Thánh mà bổn phận làm người không thể thiếu trong việc cải tiến bản thân, cũng như xây dựng xã hội an lạc thật sự về phương diện Tâm Linh. Cúng là một hành động tri ân và báo ân Tiền Nhân với mọi hình thức biểu tượng mà con người ý niệm đợc thâm ân không thể thiếu nghĩa vụ. Cúng cũng là một phương thức giáo dục con người ý thức Truyền Thống Tổ Tiên, lý tưởng Giống Nòi và Tín Ngưỡng để họ làm tròn bổn phận làm người. Nhất là ngời Phật Tử, chúng ta phải cúng, nhằm thể hiện tâm linh để bất cẩu giao cảm với chư Phật, mong nhờ Tam Bảo gia hộ cho mình được an lành trên con đường Giác Ngộ và Giải Thoát. Đây là ý nghĩa và giá trị của Cúng Dường. Ý nghĩa và giá trị Cúng Dường được trình bày qua Sự cũng như qua Lý để làm quy cách căn bản cho Phật Tử chánh tín hành trì, ngõ hầu giúp đỡ họ sớm kết duyên lành với chư Phật trong mười phương.



III.- VẤN ĐỀ LỄ BÁI:

Lễ Bái là một Đạo Nghĩa nhằm tiêu biểu ý chí tôn kính, tưởng niệm đến những ân đức sâu dày của Tổ Tiên Ông Bà, của chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng và tự thân Phát nguyện tu tâm luyện trí hầu trở thành ngời hữu ích trong xã hội để làm tròn bổn phận con cháu của Tông Môn và để xứng đáng là Đệ Tử của các bậc Thánh Đức. Lễ Bái còn là một Đạo Lý có tánh cách quy hướng Chánh Giác, với mục đích diệt trừ những phiền Não sanh tử, loại bỏ tánh cống cao ngã mạn trong mỗi con người, khiến được Nhứt Tâm để thể nhập được Phật Tánh và để trở thành một vị hoàn toàn giải thoát như đức Phật. Trước hết muốn thông suốt ý nghĩa và giá trị của sự Lễ Bái, chúng ta cần phải hiểu qua thế nào là Lễ Bái.

A.- ĐỊNH NGHĨA:

a. Lễ: là những quy tắc nhứt định của cung cách qua sự đi, đứng, nói năng trong những Quan Hôn Tang Tế nhằm thể hiện sù Tôn Kính.

b. Bái: nghĩa là quỳ lạy bằng cách hạ mình xuống đất tưrớc những bậc Hiền Đức mà mình Tôn Kính.

c. Lễ Bái: tiếng Phạn là Vandana, Tàu dịch âm là Ban Đàm, còn gọi là Hòa Nam, hoặc gọi là Na Mô Tất Yết La, nghĩa là lễ nghi cung cách với hình thức cúi đầu quỳ lạy trước những bậc Tiền Nhân Thánh Đức mà mình đã đặt trọn niềm tin quy ngưỡng hướng về, như lạy chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, như lạy Cha Mẹ, Thầy Tổ v.v... Chúng ta quỳ lạy các vị đó nhằm biểu lộ đức tánh khiêm tốn và để tỏ lòng tri ân, báo ân mà bổn phận kẻ dưới hằng tạc dạ ghi tâm, ân tiên công đức. Ngoài ý nghĩa thông thường trên, theo Phật Giáo, sự Lễ Bái còn tiêu biểu nhiều ý nghĩa khác nữa, như tiêu biểu: “Chánh Quán Lễ, Phát Trí Thanh Tịnh Lễ, Thật Tướng Bình Đẳng Lễ và Biến Nhập Pháp Giới Lễ”. Ý nghĩa của những phương cách Lễ Bái này sẽ đề cập ở sau.

B.- NGHI CÁCH VÀ Ý NGHĨA LỄ BÁI:

Muốn hiểu ý Nghĩa Lễ Bái, chúng ta trước hết nên hiểu qua cách thức Lễ Bái theo mỗi Tôn Giáo cũng như mỗi Tông Phái quy định. Tổng quát chúng ta nên hiểu cách thức Lễ Bái của những Tôn Giáo và của những Tông Phái hên hệ rất gần đối với chúng ta. Giờ đây chúng ta nên hiểu cách thức Lễ Bái của Khổng Giáo và Phật Giáo chủ trương:

C.- QUAN NIỆM LÊ BÁI:

Mỗi Tôn Giáo Lễ Bái mỗi cách và mang mỗi ý nghĩa khác nhau, theo sự quy định của các Giáo Chủ làm cách nào tổ bày được tâm thành của Tín Đồ đối với những bậc Thánh Đức mà họ quy ngưỡng.

Theo Truyền Thống Việt Nam, dân tộc ta phần đông chịu ảnh hưởng sâu đậm Văn Hóa của Khổng Giáo và Phật Giáo, là hai Tôn Giáo có công rất lớn qua quá trình lịch sử xây dựng đất nước. Mỗi người dân đều chịu ảnh hởng không ít cách Lễ Bái của hai Tôn Giáo này. Thời xa Vua Chúa đã quy định rõ ràng, mỗi người dân, khi Lễ Bái Vua, Quan, Hiền Thần, Đình Miếu thì phải áp dụng theo cung cách của Khổng Giáo và khi Lễ Bái Phật Trời, Hiền Thánh, Tổ Tiên, Ông Bà v.v... thì phải áp dụng theo cung cách của Phật Giáo.

Về sau người dân bị thất truyền, không được ai chú dạy ý nghĩa và cách thức Lễ Bái cho đúng pháp. Thành thử họ chỉ biết Lễ Bái theo thói quen, hành động không đúng nghĩa và cũng không đúng chỗ. Chúng ta muốn rõ Nghi Lễ của Khổng Giáo thì nên đọc “Văn Công Thọ Mai Gia Lễ" và muốn biết Nghi Lễ của Phật Giáo thì nên am tường “Nhân Thừa Phật Học”. Cả hai rất quan hệ cho cuộc sống làm người. Sự Lễ Bái mà người Việt Nam thường áp dụng, như trên đã trình bày, đều theo Nghi Cách của Khổng Giáo và của Phật Giáo. Nghi Cách Lễ Bái khác biệt giữa Khổng Giáo và Phật Giáo được giải thích dưới đây:

1. THEO QUAN NIỆM KHỔNG GIÁO:

Cách lạy của Khổng Giáo, trước hết con người phải đứng thẳng là tiêu biểu cho cái UY của kẻ sĩ. Hai tay Cung Thủ, nghĩa là hai tay nắm lại nhau là tiêu biểu cho cái Dũng của Thánh Nhân. Trước khi lạy, hai tay Cung Thủ đa lên trán, kế đưa sang phía phải, rồi đưa sang phía trái là tiêu biểu cho Tam Tài (Trời, Đất và Người). Khi lạy, hai tay Cung Thủ chống lên đầu gối chân mặt và quỳ chân trái xuống trước là tiêu biểu cho sự Tôn Kính mà không mất tư thế cái Uy Dũng của kẻ sĩ Cúi đầu xuống đất là tiêu biểu cho sự Cung Kính những bậc mà mình đảnh lễ. Đó là Cung Cách và Ý Nghĩa tổng quát mà Khổng Giáo quan niệm.

2. THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO: Sự Lễ Bái của Phật Giáo so với sự Lễ Bái của Khổng Giáo có phần khác biệt về cung cách cũng như về ý nghĩa. Riêng về Phật Giáo, ý nghĩa và giá trị Lễ Bái được rất nhiều kinh luận đề cập đến. Theo Phật Giáo quan niệm, sự lễ bái cũng là một trong những phương pháp tu tập để diệt phiền não mà bổn phận người con Phật phải hành trì thường xuyên trong hằng ngày để được giải thoát tất cả nghiệp chướng khổ đau sanh tử và sớm chứng quả Bồ Đề Niết Bàn Tịch Tịnh. Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện quyển 4 ghi rằng: "Phật chỉ dạy các Đệ Tử phải Lễ Bái Tam Bảo và Lễ Bái các bậc Đại Tỳ Kheo”. Kinh Phạm Võng quyển hạ giải thích rằng: “Nếu có bậc Hoà Thượng, Thượng Tọa, A Xà Lê, hoặc người bạn đồng học, người đồng kiến giải ng­ười đồng hành đều phải nghinh tiếp Lễ Bái và vấn an". Luật Ngũ Phần quyển 7 ghi rằng: “Một vị Tỳ Kheo Ni một trăm tuổi, đã thọ giới Cụ Túc từ lâu cũng phải Lễ Bái một vị Tỳ Kheo Tăng mới thọ giới Cụ Túc”. Đại Đường Tây Vực Ký quyển 2 ghi rằng: “Ấn Độ có chín cách Lễ Bái được gọi là Tây Trúc Cửu Nghi”. Chín cách lễ bái nói trên được ghi nhận như sau;

1. Phát Ngôn Úy Vấn Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách mở lời vấn an.

2 . Phủ Thủ Thi Kính Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách cúi đầu tôn kính.

3. Cử Thủ Cao Ấp Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách dơ tay cao vái chào.

4. Hiệp Chưởng Bình Cung Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách chấp tay ngang bằng vái chào.

5. Khuất Tất Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách quỳ gối.

6. Trường Quy Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách quỳ nầm dài ra.

7. Thủ Tất Cứ Địa Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách hai tay và hai đầu gối quỳ sát đất.

8. Ngũ Luân Cu Khuất Lễ: nghĩa là Lễ bái bằng cách năm vóc đều cúi xuống.

9. Ngũ Thể Đầu Địa Lễ: nghĩa là Lễ Bái bầng cách năm vóc gieo xuống đất.

Ngoài ra người ấn Độ còn có nhiều cách Lễ Bái khác nhau. Theo phong tục mỗi nơi, người Tín Đồ Lễ Bái trước T­ượng Phật hoặc trước Bảo Tháp có hơi khác về cung cách. Sự khác biệt về cung cách Lễ Bái được nêu cử như sau:

1. Tồn Cứ Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách đứng một chân quỳ lạy.

2. Khởi Cư Lễ: nghĩa là dùng nghi thức bước một bước Lễ một lạy.

3. Hữu Nhiễu Tam Thất Lễ: nghĩa là Lễ một lạy rồi đi nhiễu ba vòng về phía bên hữu của Phật hoặc của Bảo Tháp.

4. Tạ Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách ngồi xuống đất cúi đầu lạy, tức là lạy bằng cách ngồi v.v...

Phật Giáo Việt Nam hầu hết đều áp dụng phơng pháp “Ngũ Thể Đầu Địa Lễ” trong khi lễ bái. Đây là một phương pháp tiêu biểu ý chí Tôn Kính cao đẹp nhất trong các cung cách Lễ Bái. Khi Lễ Bái, người Phật Tử đầu tiên phải đứng ngay thẳng trước Tượng Phật cho nghiêm trang và khép hai chân sát vào nhau để lấy lại sự an tâm thanh tịnh, đồng thời kiềm thúc Tâm ý không cho chao động vọng tưởng. Ngay lúc đó, đôi mắt họ nhìn lên Tượng Phật và Tâm họ quán tưởng các tướng tốt, quán niệm những đức hạnh cao quý của đức Phật để tỏ bày nguyện vọng chân chánh của mình hầu mong Ngài chứng minh. Hai tay họ thay vì Cung Thủ (nắm lại nhau) mà ở đây phải HIỆP CHƯỞNG, nghĩa là hai tay chắp lại nhau cho khít là tiêu biểu Thức Tâm hiệp nhứt (Nhất Tâm) và để hai tay nơi ngực là tiêu biểu ý nghĩa Ấn Tâm. Khi lạy Phật, có người để hai tay nơi ngực lạy xuống, nhưng có người đưa hai tay lên trán rồi mới lạy xuống, cách nào cũng có ý nghĩa của nó. Cách lạy để hai tay nơi ngực là tiêu biểu ý nghĩa Ấn Tâm như đã giải thích ở trên. Còn cách lạy đa hai tay lên trán là tiêu biểu ý nghĩa tâm nguyện của mình dung thông đến chư Phật qua nhục đỉnh kế (qua Mỏ Ác, hay qua Đỉnh Đầu) và lạy theo nguyên tắc “Ngũ Thể Đầu Địa”, nghĩa là đầu, hai tay, hai đầu gối của người Lễ Bái phải đặt sát đất và họ lạy xuống với tư thế ngồi để khỏi thất lễ nơi người đứng sau. Tiếp theo họ chỏi tay phải lên mặt đất rồi quỳ hai đầu gối và ngửa hai bàn tay ra giống như đóa sen nở. Họ quán tưởng đức Phật hiện đang đứng trên đóa sen kết thành bởi hai bàn tay của họ và họ đặt trán mình vào lòng hai bàn tay như đặt đầu mình lên chân của Phật, đồng thời họ nằm mọp xuống đất để biểu hiện sự Tôn Kính với tâm thành quy ngưỡng nương tựa. Cách Lễ Bái này là tiêu biểu cho ý nghĩa “Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ” (nghĩa là đầu và mặt của mình để lên chân của Phật gọi là Quy Mạng Lễ).

Phật Giáo cho rằng, người Phật Tử ngoài sự Lễ Bái để tỏ lòng Tôn Kính các đức Phật, các vị Bồ Tát, các Hiền Thánh Tăng, còn phải tưởng niệm những ân đức cao dày của các Ngài và phát nguyện suốt đời hướng về các Ngài tiến tu đạo nghiệp để được trở thành đức Phật như quý Ngài. Người Phật Tử thật hành hạnh nguyện như trên được gọi là quy mạng lễ.

Nhân Thừa Phật Giáo có chia làm bảy cách lạy, trong đó có ba cách lạy của Thế Gian thường áp dụng và bốn cách lạy của Thánh Giáo thường hành trì về mặt sự (về mặt hình thức) cũng như về mặt lý (về mặt nội dung). Để cho Phật Tử nhận thức dễ dàng và chọn lựa tu tập cho đúng pháp, bảy cách lạy được phân tích như sau:

D. VỀ CÁCH LẠY CỦA THẾ GIAN:

Trong Thế Gian về mặt sự tướng, tức là về mặt hình thức, có ba cách lạy phổ thông mà người đời thường áp dụng. Trong ba cách lạy nói trên, có hai cách lạy mà người Phật Tử chân chánh cần phải để ý và tuyệt đối không nên áp dụng. Hai cách lạy đó là Ngã Mạn Lễ và Cầu Danh Lễ. Hai cách lạy này chính là những tật xấu không thể có nơi con người thánh thiện. Bảy cách lạy nói trên dựa theo tinh thần Kinh Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 20 được trình bày như sau:

1. Ngã Mạn Lễ: nghĩa là người lạy Phật hoặc lạy Ông, lạy Bà, lạy Tổ Tiên, vì hoàn cảnh bắt buộc phải hành lễ, nh­ưng thâm tâm của họ không muốn lạy, do dó họ lạy với cử chỉ ngạo nghễ, thái độ kiêu căng, không có chút nào lễ độ cung kính cả. Đầu họ lạy xuống không sát đất và họ đứng lên cúi xuống một cách cẩu thả cho qua việc. Họ vì sợ mất thể diện với bạn bè và sợ dơ bẩn quần áo quý giá của mình, nên buộc lòng phải lễ bái theo kiểu Ngã Mạn. Họ sợ bạn bè chê trách mình là kẻ bất hiếu, bất nghĩa, bất tín, bất trung, cũng như họ quý trọng quần áo và bạn bè hơn chư Phật, Ông Bà Tổ Tiên. Cách lạy đó gọi là Ngã Mạn Lễ.

2. Cầu Danh Lễ: nghĩa là người lạy vì mong cầu danh vọng, quyền tước qua sự chú ý và ngợi khen của cấp trên cũng như lấy lòng quần chúng ủng hộ. Khi có cấp trên cũng như khi có quần chúng, họ siêng năng lễ lạy để cho mọi người thấy rằng mình có đạo đức, thượng cấp nên nâng đỡ và quần chúng nên ủng hộ. Thật ra thâm tâm của họ không có chút gì tín thành cả và ngược lại, một khi không có ai, họ lại biếng nhác giải đãi trong việc lễ lạy. Như vậy họ lễ lạy vì mọi người chứ thật ra không phải lễ lạy cho chính họ. Cách lạy này gọi là Cầu Danh Lễ.

Hai cách lễ lạy vừa trình bày là hành động dối trá không thể có nơi người Đạo Đức chân chánh. Đức Phật sở dĩ nêu lên trong kinh điển nhằm mục đích chỉ dạy cho người con Phật sau này phải ngăn ngừa và người con Hiếu Hạnh phải tránh xa.

3. Thân Tâm Cung Kính Lễ: nghĩa là người lễ lạy phải thể hiện thân và tâm đều cung kính. Thân và Tâm người lễ lạy đều cung kính thì sự Lễ Bái mới có giá trị. Nói một cách khác, người lễ lạy phải chí thành cả Thân và Tâm, nghĩa là họ phải có đức tin trong sự lễ lạy thì sự cảm ứng rất dễ dàng với chư Phật, với các Thánh Hiền, với Ông Bà, Tổ Tiên. Ngược lại, Tâm người lễ lạy nếu như thiếu cung kính thì thân họ sẽ hiện ra phong cách thiếu lễ độ dễ nhìn thấy (Hữu ư trung xuất hình ư ngoại, nghĩa là Tâm ở trong như thế nào thì tướng hiện ra như thế đó). Người lễ lạy muốn cho Thân và Tâm đều cung kính thì phải theo cách lạy của Phật Giáo mà ở trên đã giải thích và phải lạy thường xuyên để cho cung cách được thuần thục. Người lễ lạy đã thuần thục thì mới có khả năng nhiếp phục Tâm loạn động của mình. Thân Tâm Cung Kính Lễ là cách lạy cơ bản của Phật Giáo về mặt sự tướng, tức là về mặt hình thức mà người xuất gia cũng như kẻ tại gia phải hành trì cho nghiêm túc. Nhờ đó họ sau này mới đủ khả năng bước vào lãnh vực Thánh Giáo Lễ của các bậc Thánh Chúng về mặt lý tánh không cảm thấy trở ngại.

E. VỀ CÁCH LẠY CỦA THÁNH GIÁO:

Cách lạy của Thánh Giáo là cách lạy thuộc về lý lễ của các bậc Đại Thừa Bồ Tát thường tu tập. Những cách lạy này nhằm mục đích thể nhập Pháp Giới Tánh của chư Phật, tức là thế giới thuộc về Pháp Tánh của chư Phật an trụ và thấy thẳng được Phật Thân, tức là thấy được Pháp Thân thanh tịnh của ch Phật. Bốn cách lễ lạy của Thánh Giáo xin liệt kê như sau:

1. Chánh Quán Lễ: Chánh Quán nghĩa là quán chiếu Pháp Thân chân chánh của chư Phật hiện ra trước mặt, tức là Bồ Tát tu tập bằng cách vận dụng Thiền Quán chiếu soi Phật Thân ảnh hiện ra trước mặt để lễ lạy. Người thực hiện được cách hành lễ này phải là người đạt đến mức độ cao thâm trong phương pháp Thiền Quán. Ph­ương pháp tu Thiền chia ra làm hai phần: CHỈ và QUÁN. Phần CHỈ tức là phần chận đứng các duyên bên ngoài lôi cuốn để được nhứt Tâm và nhờ đó dễ đi vào chánh niệm. Tâm một khi chuyên nhất và chánh niệm thì Trí Tuệ sẽ được phát sanh, thường gọi là Tâm Định.

Còn về phần QUÁN, người tu Thiền sau khi Huệ đã phát sanh liền sử dụng Huệ quán chiếu Phật Thân (tức là Pháp Thân thanh tịnh của chư Phật) và Phật Cảnh (tức là Pháp Giới của chư Phật an trụ) khiến cho tất cả đều hiện bày ra trước mặt để lễ lạy. Muốn áp dụng phương pháp CHỈ để khiến Trí Tuệ phát sanh, người tu Thiền phải thực hành ba phương pháp: Điều Thân, Điều Tức và Điều Tâm cho thuần thục. Điều Thân, Điều Tức và Điều Tâm đã thuần thục một cách tự tại thì ngay lúc đó Trí Tuệ liền phát sanh. Một khi Trí Tuệ đã được phát sanh, ngời tu tập Thiền Quán mới có thể bước sang giai đoạn hai là sử dụng Trí Tuệ để quán chiếu Phật Thân và Phật Cảnh. Đây là liệt kê tổng quát về phương pháp Thiền Quán.

2. Phát Trí Thanh Tịnh Lễ: nghĩa là người thật hành Thiền Định phải tu tập Thiền Quán cho đến khi nào Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm mà không phải Trí Tuệ phát sanh từ nơi Thức Tâm. Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm tức là Phật Trí trong bản Tâm thanh tịnh của mình đảnh lễ Pháp Thân chư Phật trong mười pháp Giới. Trí Tuệ phát sanh từ nơi Tâm Thức thuộc về Phàm Trí. Còn Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm thuộc về Thánh Trí. Phàm Trí còn bị lệ thuộc cũng như bị giới hạn bởi Căn và Trần. Trái lại Thánh Trí đã thoát ra ngoài vòng cương tỏa cả hai. Người tu tập Thiền Quán phải thấu triệt rằng: Pháp Thân ch­ư Phật trong mười Pháp Giới đều phát sanh từ nơi Bản Tâm thanh tịnh (tức là Pháp Thân thanh tịnh của chư Phật hiện bày từ nơi Chân Tâm) và Trí Tuệ thanh tịnh của mình cũng phát sanh từ nơi Bản Tâm Thanh tịnh chung của mười Pháp Giới. Lý do đó, người lễ bái lạy một đức Phật tức là lạy tất cả chư Phật trong mời phương không ngăn ngại.

3. Thật Tướng Bình Đẳng Lễ: nghĩa là cách lễ lạy này, người tu Thiền phải dùng Trí Tuệ quán chiếu thật tướng của vạn pháp đều thể hiện một cách bình đẳng không sai biệt, không có nhân ngã bỉ thử, tức là người lễ bái không thấy có mình lạy và người để cho mình lạy. Nói một cách khác, người thật hành Thật Tướng Bình Đẳng Lễ là dùng Trí Tuệ quán chiếu thật tướng vạn pháp để nhận thấy rằng: mình và người, thể và dụng, phàm và thánh thảy đều vắng lặng không hai (đều là nhứt như). Ngài Văn Thù Bồ Tát nói: “Năng lễ Sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là thể tánh của mình đang lạy và thể tánh của người để cho mình lạy thảy đều vắng lặng và bình đẳng.

4. Biến Nhập pháp Giới Lễ: nghĩa là người tu Thiền phải tận dụng Trí Tuệ Bát Nhã thanh tịnh của mình quán chiếu Thân và Tâm nơi chính minh biến nhập vào Pháp Giới Tánh của vạn pháp một cách dung thông, giống như Bác Sĩ sử dụng năng lượng Quang Tuyến X (X-ray) rất lớn chiếu soi vào thân thể con người và năng lượng Quang Tuyến X thấu suốt xuyên qua thân thể con người không chút ngăn ngại. Đó mới chính là lễ lạy thật sự theo ph­ương pháp Biến Nhập pháp Giới Lễ. Pháp Giới Tánh tức là Thể Tánh của vạn pháp biến giáp khắp thế giới và th­ường trụ bất diệt. Pháp Giới Tánh là nơi mà chư Phật thường an trụ để hiện thân hóa độ chúng sanh. Người thực hiện được pháp quán chiếu này một cách tự tại thì người đó mới thật sự hành lễ đúng pháp chân thật.

Qua những phương cách Lễ Bái đã được trình bày ở trên, Thân Tâm Cung Kính Lễ chính là pháp môn quan trọng là điều kiện tất yếu của người hiếu nghĩa tín tâm để tỏ bày lòng tri ân và báo ân. Cách lễ lạy này cũng là phương tiện cần thiết dùng làm gạch nối giữa chư Phật và tâm linh con người qua sự nguyện cầu gia hộ. Phương pháp lễ lạy này lại còn là nền tảng căn bản cho Phật Tử trên con đường tiến tu đạo nghiệp để được chứng ngộ qua bốn cách lễ bái của Thánh Giáo. Vậy ngời Phật Tử phải nên cố gắng hành trì cho đúng pháp.

G. LỢI ÍCH CỦA SỰ LỄ BÁI:

Như trước đã trình bày, Lễ Bái ngoài ý nghĩa tỏ lòng Tôn Kính và tưởng niệm ân đức sâu dày của các bậc Tiền Nhân Thánh-Đức của Tổ Tiên dòng họ, còn là phương pháp tu tập nhằm diệt phiền não, loại bỏ tánh cống cao ngã mạn của mỗi con người nhằm mục đích quy hướng Chánh Giác để được giải thoát và giác ngộ như đức Phật. Đặc tánh Cống Cao Ngã Mạn đã sẵn có nơi mỗi con ngời. Nó châm rễ ăn sâu trong Tâm Thức con người từ vô lư­ợng kiếp về trước. Nó gây nên nguyên nhân đau khổ sanh tử lưu chuyển trong ba cõi. Con dao bén Cống Cao Ngã Mạn chặt đứt tình thương, phá hoại tình đoàn kết và gây nên nhiều hận thù chia rẽ.

Quyển “Phật và Thánh Chúng” của Cao Hữu Đính, trang 110, Mục 18 về bi vận của thành Ca Tỳ La, do Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản ghi lại câu chuyện tại họa do tánh Cống Cao Ngã Mạn gây nên trong lịch sử ấn Độ như sau:

Nguyên từ trước khi vua Ba Tư Nặc chưa quy y Phật, nhà vua đã cho sứ giả qua Ca Tỳ La cầu hôn với giòng họ Thích Ca. Các Thân Vương của giòng họ nầy tự cao tự đại cho rằng giòng họ mình là cao quý nhất đời không nên hạ mình kết hôn với vua nước Kiều Tát La. Tuy nói huynh hoang như thế, nhng họ lại sợ uy thế của vua Ba Tư Nặc, vì Kiều Tát La bấy giờ là một cường quốc như Ma Kiệt Đà trong vùng châu thổ sông Hằng. Do đó, giòng họ Thích Ca mới dùng một Nữ Tỳ nô lệ hầu hạ trong cung tên là Mạt Lỵ (Malika), tráo thành Vương Nữ đem gả cho Ba Tư Nặc. Mạt Lỵ tuy là gái nô lệ, nhưng tư chất rất thông minh mà dáng mạo lại cực kỳ xinh đẹp, nên đ­ược vua Ba Tư Nặc sủng ái, phong làm Đệ Nhất Phu Nhân.

Mạt Lỵ phu nhân sanh con đầu lòng là Tỳ Lưu Ly (Virùdhaka) về sau mệnh danh là ác Sanh Vương. Năm Tỳ Lưu Ly lên tám, vua cha cho sang quê ngoại để luyện tập bắn cung, vì Ca Tỳ La vốn nổi tiếng về môn xạ thuật.

Bấy giờ, trong thành Ca Tỳ La mới kiến thiết xong một đại giảng đường nguy nga dành để đón tiếp Phật mỗi khi Phật về thuyết pháp. Giòng họ Thích Ca cho đây là một chốn thiêng liêng, cấm không cho kẻ ty tiện bước vào. Không dè Tỳ Lưu Ly nhân thả bộ rong chơi trong cung, lạc vào chơi cấm địa ấy, bị các Thân Vương bắt gặp, xỉ mạ không tiếc lời, bảo rằng con của gái nô lệ Mạt Lỵ đã làm ô uế Thánh Địa. Họ đuổi Tỳ Lưu Ly ra và lập tức truyền lệnh cho gia nhân cấp tốc đến bới đất cũ trong giảng đường lên rồi chở đất mới về thay thế.

Tỳ Lưu Ly nộ khí xung thiên, bèn phát lời thề độc rằng: “Khi nào lên ngôi vua, ta thề quyết tiêu diệt sạch giòng họ Thích Ca mới hả giận”.

Về sau, khi trở về Xá Vệ, Tỳ Lưu Ly ngày đêm mưu tính việc rửa hận. Một hôm, nhân vua Ba Tư Nặc cùng Mạt Lỵ xuất thành tuần thú, Tỳ ưLu Ly cùng nghịch thần Ca Lê Da Na tập hợp quân đội lại, chặt đầu thị vệ của vua cha, đoạt lấy vương miện và bảo kiếm. Nghe tin, Ba Tư Nặc hết sức kinh hoàng. Mạt Lỵ khuyên nhà vua nên tạm lánh nạn qua lưu vong bên Ca Tỳ La, chờ dịp khôi phục. Nhưng không bao lâu sau, ông chết tại bên ấy thọ 80 tuổi.

Tỳ Lưu Ly nghe tin vua cha băng hà, hạ lệnh cô lập thái tử Kỳ Đà, rồi tự tuyên bố thừa kế vương vị. Bi vận Ca Tỳ La bắt đầu.

Một hôm, nhân đại triều, Tỳ Lưu Ly truyền hỏi bá quan rằng:

Nếu có kẻ sỉ nhục Đấng Quốc Vương tôn quý của mình, khinh thị Đấng Quốc Vương ấy là con giòng hạ tiện, tội ấy các khanh nghĩ nên xử trị như thế nào?

Muôn miệng đáp trọng tội ấy đáng tru di.

Giòng họ Thích Ca tự cao tự đại, Tỳ Lưu Ly nói tiếp. Họ cho rằng ta là con của một gái nô lệ, vậy nay phải hung binh tru diệt họ.

Ba lần xuất quân, ba lần Tỳ Lưu Ly gặp Phật cản đường tìm cách ngăn trở. Nhưng đến lần thứ tư, biết rằng không ngăn đón được nữa vì nghiệp nhân quá khứ của giòng họ Thích Ca quá nặng. Phật xót xa báo trước cho A Nan hay ráng trong 7 ngày nữa thì giòng họ Thích Ca sẽ tuyệt diệt. Tự mình tạo nghiệp dữ, không cách gì cứu gỡ nỗi...

Tỳ Lưu Ly tiếp tục công hãm thành rất gấp và cuối cùng hạ được. Sau khi vào thành, y hạ lệnh bắt lính giữ thành gồm 500 người đem giết hết. Còn nhân dân trong thành ước chừng 3 vạn người kể cả già trẻ lớn bé, y bắt chôn chân xuống đất để cho voi dữ chạy qua mà chà nát. Ma Ha Na Ma nghe tin này lấy làm kinh hoàng đau xót, bèn xin với Tỳ Lưu Ly cho ông và nhân dân được chết toàn thây. Tỳ Lưu Ly mới cho đổi lệnh giết bằng voi chà ra lệnh giết bằng trầm nịch. Thế là cả thành bị lùa xuống sông cho chết đuối. Tỳ Lưu Ly lại hạ lệnh vớt xác Ma Ha Na Ma lên, bắt chặt đầu treo lên gốc cây.

Sau khi tiêu diệt giòng họ Thích Ca và sát nhập Ca Tỳ La vào lãnh thổ Kiều Tát La, Tỳ Lưu Ly cho thi hành một chính sách vô cùng bạo ngược và giết luôn anh là Thái Tử Kỳ Đà. Vì vậy đời mới gọi ông là Ác Sanh Vương. Không lâu sau, cung thành Xá Vệ bị một trận hỏa hoạn khủng khiếp, Tỳ Lưu Ly và tất cả vợ con dâu bị chết cháy trong trận hỏa hoạn nầy.

Nước Kiều Tát La dần dần suy yếu, khiến A Xà Thế sau khi quy y Phật cất quân sang đánh, chiếm được Kiều Tát La, rồi sát nhập Kiều Tát La và Ca Tỳ La vào bản đồ nước Ma Kiệt Đà.

Lịch sử ấn Độ ghi lại câu chuyện trên cho chúng ta thấy rằng tai họa khủng khiếp do nghiệp Cống Cao Ngã Mạn gây nên. Nghiệp Cống Cao Ngã Mạn có thể diệt vong cả một quốc gia, cả một chủng tộc. Một chủng tộc cao quý nhất là chủng tộc Sakya, chủng tộc sanh ra một vị Giáo Chủ tôn vinh nhất đương thời chính là Đức Phật Thích-ca cũng không thoát khỏi thảm họa diệt vong đó. Cống Cao Ngã Mạn là danh từ khác của tự cao tự đại, nghĩa là đặc tánh của một loại Nghiệp thích tự cho mình trên hết, cho giòng họ mình, chủng tộc mình là cao cả và lại khinh khi kẻ khác, ghép họ vào hạng thấp hèn. Nhà Duy Thức phân chia tánh Cống Cao Ngã Mạn thành hai trạng thái Tâm Lý khác nhau. Tánh Cống Cao với một danh từ là Kiêu. Tánh Ngã Mạn với một danh từ là Mạn. Theo nhà Duy Thức, tánh Cống Cao là loại tâm lý tự cao có thể hóa giải dễ dàng một khi con người giác ngộ đ­ược sự tai họa của nó. Cho nên nhà Duy Thức ghép nó thuộc về Tâm Sở Kiêu. Tâm Sở Kiêu là một trong mười Tiểu Tùy Phiền Não. Còn tánh Ngã Mạn là loại tâm lý tự đại khó có thể hóa giải, mặc dù con người đã giác ngộ đ­ược sự tai họa của nó. Cho nên nhà Duy Thức ghép nó thuộc về Tâm Sở Mạn. Tâm Sở Mạn là một trong sáu Căn Bản Phiền Não. Đặc tánh của Tâm Sở Kiêu và Tâm Sở Mạn được quyển Khảo Nghiệm Duy Thức Học cùng một Tác giả do Ban Văn Hóa Xã Hội chùa Phật Tổ Ấn Hành, trang 88-99 trình bày như sau:

1. Tâm Sở Kiêu: là kiêu căng ngạo mạn. Trạng thái Tâm Lý này thường xuất hiện mỗi khi thấy mình giàu sang, thấy mình có quyền tước, có tài năng, có sắc đẹp v.v... vợt trội hơn người khác. Những kẻ có bệnh Kiêu thích hành động kiêu cách, ngạo nghễ và nhìn mọi ngời dưới cặp mắt thấp hèn. Tất cả có sáu loại Kiêu được phân định như sau:

a. Không bệnh tật kiêu.

b. Trẻ tuổi hơn ngời kiêu.

c. Sắc đẹp kiêu.

d. Quý phái kiêu.

e. Giàu sang kiêu.

f. Học nhiều, biết nhiều kiêu.

Đặc tánh của Tâm Sở Kiêu thường thúc đẩy con người khinh khi kẻ khác, tự đề cao mình lên và cho mình là nhân vật quan trọng hơn cả. Đối xử với quần chúng, người kiêu cách hành động thiếu sự nhún nhường và thiếu sự khiêm cung lễ độ. Tâm Sở này chính là nguyên nhân sanh ra các tội lỗi. Tâm Sở này cũng làm chướng ngại và ngăn cản không cho tâm lý Không Kiêu Căng phát sanh.

Thí dụ: Ông A và ông B trước kia là bạn chí thân ở cùng quê. Lúc còn nhỏ, ông A nghèo hơn ông B và đến tá túc nhà của ông B tại Linh thành để đi học. Gia đình ông B đối xử với ông A rất đẹp. Đến khi tốt nghiệp, ông A khéo nịnh hót nên được cấp trên cân nhắc lên Sài Gòn làm quan to có nhà lầu, có xe hơi, có cổng kín tường cao. Một hôm ông B nhơn dịp lên Sài Gòn chơi, nghĩ đến tình xa bạn cũ, nên ghé thăm ông A. Ông A đã không tiếp và lại còn bảo người ở ra trả lời rằng, “Quan lớn không có quen biết với kẻ ăn xin, đừng thấy sang bắt quàng làm họ. Ông nên về đi”. Đây là giọng nói của kẻ kiêu cách, của kẻ thiếu lịch sự khiêm cung.

2. Tâm Sở Mạn: là khinh mạn, ngạo mạn. Trạng thái tâm lý này thích biểu lộ tánh khinh khi và tỏ bày cử chỉ hống hách với mọi người chung quanh. Con ngời khinh mạn thường đề cao cá nhân mình trên hết và cho mọi ngời chung quanh đều là hạng thấp hèn. Họ ỷ có tài đôi chút hoặc cậy thế lực hơn người nên xem ai không ra chi. Những thái độ của người khinh mạn thường thể hiện trong những trường hợp như:. có khi hành động bộc lộ ra ngoài và cũng có lúc dấu kín cử chỉ ngấm ngầm bên trong thân tâm. Về phía cử chỉ dấu kín ngấm ngầm bên trong thân tâm của người khinh mạn, chúng ta chỉ để ý đến thì mới nhận biết được sự ngạo mạn của họ qua cách đối xử. Tâm Sở này được phân làm sáu loại như sau:

a. Mạn: nghĩa là người có đôi chút tài năng hoặc có quyền thế nào đó liền tự hào, hãnh diện, lên mặt hiu hiu tự đắc với mọi người chung quanh, chỉ thấy mình trên hết, xem mình quan trọng hơn cả và coi ai không ra chi. Ngư­ời khinh mạn thờng biểu lộ cử chỉ cao ngạo hống hách và bắt buộc mọi người chung quanh phải quan tâm đến mình. Còn đối với những kẻ tài năng và quyền thế ngang hàng mình, người khinh mạn hay ỷ lại, tự phụ và xem mình có vai vế tương đương với họ, cho nên trước công chúng, người kinh mạn giao tiếp với họ thiếu phong cách và thiếu lễ dộ.

Thí dụ 1: Ông thầy T.Q. có đôi chút tài năng được tiếng là người du học ngoại quốc lại là người đương kim một chức vụ nào đó trong Giáo Hội, rồi lên mặt cao ngạo nhìn mọi người không ra chi. Nhưng thật ra, có tiếng mà không có miếng, nghĩa là ông không có khả năng tương xứng với địa vị đương kim mặc dù họ là người du học.

Thí dụ 2: Ông T và ông H là hai người bạn thân với nhau và tài năn của hai người đều tương đơng nhau. Ông T thì may mắn hơn được phong chức là Giám Đốc của một Xí Nghiệp P.B. Một hôm, ông H vì muốn thăm ông T, nên từ Cần Thơ cồn cả lên thành phố Sài Gòn. Ông T đã không tiếp và lại còn sai nhân viên ra tiếp. Trong khi tiếp chuyện, người nhân viên tỏ thái độ bất cần trước mặt ông H. Ông H bất mãn ra về.

b. Quá mạn: nghĩa là đối với những người có tài năng và địa vị ngang hàng mình, người Quá Mạn thường lên mặt kiêu cách, tự cho mình hơn họ. Còn đối với những người có tài năng và dịa vị hơn mình, người Quá Mạn lại lên mặt khoe khoang tự cho rằng mình bằng họ.

Thí dụ 1: Cùng một địa vị ngang nhau, trớc mặt công chúng, anh X có bệnh Quá Mạn thích ra mặt thầy đời, tỏ ra mình là người lãnh đạo, tự cho mình là kẻ chỉ huy, đi cắt đặt người này, sai bảo người kia và bắt mọi ngời phải theo sự điều khiển của mình mà thật ra anh X không có nhiệm vụ chi cả.

Thí dụ 2: Thấy người khác có địa vị cao sang hơn mình, người có bệnh Quá Mạn thích khoe khoang, ưa khoác lác với mọi người rằng; Tài năng ông đó dâu có hơn tôi ông ấy nhờ gặp thời nên mới được địa vị như thế. Tôi nếu như ra lãnh đạo thì đâu có thua ông ấy.

c. Mạn Quá Mạn: nghĩa là tranh lấy phần hơn. Theo nguyên tắc, người ta thật sự đã hơn mình về khả năng cũng như đức độ Thế mà mình lại ra mặt tranh lấy phần hơn với họ và quả quyết rằng mình nhất định không thua họ. Ai khuyên can mình cũng không chịu nghe.

Thí du: Anh A và anh B tranh tài với nhau. Kết cuộc Ban Giám Khảo chấm anh A thua anh B. Nhưng anh A không chịu thua. Anh viện đủ lý do phản đối cho rằng, Ban Giám Khảo bất công, thiên vị. Anh cương quyết đấu tranh đòi hỏi anh B phải thi lại. Lúc đó mọi người đều khuyên can, nhưng anh cũng không nghe.

d. Ngã Mạn: nghĩa là ỷ mình có đôi chút tài năng và quyền thế, người bệnh Ngã Mạn thường đề cao cá nhân, tự cho mình là kẻ đáng quý hơn hết và mỗi khi giao tiếp với bất cứ ai, họ thường ra mặt khinh khi và hành động lấn áp những người chung quanh.

Thí dụ: Anh K là một nhà chánh trị có tài năng và địa vị trong xã hội, đương kim là một Nghị Sĩ trong Quốc Hội. Anh K thường hách dịch cao ngạo, tự tôn vinh mình và tự cho mình là nhân vật quan trọng trong xã hội. Anh ta nhìn mọi người dưới cặp mắt thấp hèn và cho họ không xứng đáng để anh ta làm quen. Người nào nếu như có tài năng bằng anh ta hoặc vượt bực hơn anh ta thì người đó nhứt định bị anh ta tìm mọi cách chèn ếp, lấn áp và đè đầu họ xuống không cho ngước lên.

e. Tăng thượng Mạn: nghĩa là những kẻ chưa chứng ngộ đến chỗ chân lý tuyệt đối chưa đạt được chánh đạo mà lại đi quảng cáo, đi khoe khoang, lâm ra vẻ mình đã chứng đắc để mờ mắt mọi người.

Thí dụ: Một vị tu pháp môn nào đó có chuyên nghiệp dôi chút, rồi lập dị, làm tướng, khoe khoang, dùng mọi kỷ thuật quảng cáo cho mọi người biết mình đã chứng đắc, nhằm để mê hoặc chúng sanh. Đồng thời họ chê bai các pháp khác của Phật đều sai lầm, chỉ có pháp của họ mới đúng chân lý v.v...

g. Ty Liệt Mạn: nghĩa là biết mình kém tài kém đức hơn người ta, nhưng vẫn khoe khoang với mọi ngời rằng, mình có nhiều tài nhiều đức hơn họ và chuyên đi khích bác người này, chê bai người nọ, cho tất cả không ai bằng mình.

Thí dụ: Anh G thì học lem nhem không có bằng cấp chi cả. Nhưng anh ta vẫn khoe khoang và khoác lác với mọi ngời rằng, anh có chứng chỉ này, có bằng cấp nọ, rồi anh mượn áo Cử Nhân, mượn áo Tiến Sĩ chụp hình để lòe đời. Nhưng khi vào thực tế anh chẳng làm được trò chi, bởi lẽ anh không có khả năng và trình độ chút nào cả.

Đặc tánh của Tâm Sở Mạn là nguyên nhân để sanh ra các tội lỗi và ngăn chận không cho Tâm lý Khinh An phát sanh.

Bao nhiêu bệnh Kiêu Mạn vừa trình bày đã nói lên được sự nguy hiểm của chúng trong việc điều khiển con người sinh hoạt ở mọi lãnh vực. Chúng tạo nên những nguyên nhân Chấp Ngã và Chấp Pháp kiên cố. Người tu hành muốn diệt sự chấp ngã và chấp pháp, trước tiên phải diệt những con bệnh Kiêu Mạn. Nhưng muốn diệt con bệnh Kiêu Mạn, chúng ta hằng ngày phải áp dụng phương pháp Lễ Bái một cách thuần thục. Lễ Bái là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất cho việc hóa giải con bệnh Kiêu Mạn. Con người can đảm cúi đầu hạ mình trước kẻ khác chính là người khiêm cung nhất. Con người đó đã diệt được tánh kiêu mạn và họ không còn chấp ngã chấp pháp nữa. Theo quan niệm của Phật Giáo, mình cúi đầu đảnh lễ trước kẻ khác không phải hành động mất phẩm cách con người. Cử chỉ đó biểu lộ sự tương kính và tăng thêm sự cảm thông đối với mọi người chung quanh. Con người sợ mình không có tài năng, sợ mình không có căn bản đạo đức làm người và đừng sợ rằmg, mình cúi đầu lễ bái kẻ khác sẽ mất thể diện. Đức.Phật cho chúng ta biết: “Tất cả chúng sanh đều cồ Phật Tánh”, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Tâm Phật. Tất cả chúng sanh đã có Tâm Phật thì tất nhiên họ cũng có Thân Phật. Tâm Phật trong Tâm chúng sanh thì Thân Phật cũng ở trong Thân phàm phu của chúng sanh. Cho nên một vị Sa Môn đảnh lễ một vị Tỳ Kheo không phải đảnh lễ tấm thân ô trược (tấm thân xác thịt nhơ nhớp tanh hôi) của họ mà ở đây, vị Sa Môn phải quán tưởng rằng, đang định lễ Thân Phật thanh tịnh trong con người của vị Tỳ Kheo đó. Giá trị của sự Lễ Bái qua Tiểu Sử về vua A Dục (Asoka) được ghi lại trong giai thoại như sau: Theo sử liệu, vua A Dục (Asoka) là con của vua Tân Đầu Sa La (Bindusàra) thuộc Vương Triều Khổng Tước (Vương Triều Maurya). Vua lên ngôi khoảng sau đức Phật nhập diệt 218 năm. Vua phát tâm theo Phật Giáo khoảng sau đức Phật nhập diệt 234 năm. Vua có công lớn nhất trong việc Kiết Tập Kinh Điển Phật Giáo lần thứ III. Giai Thoại rằng, sau khi Quy Y theo Phật Giáo, vua gặp vị Sa Môn nào và bất cứ ở đâu đều cúi đầu đảnh lễ sát đất. Vị Cận Thần thấy vậy khuyên vua rằng:

- Bệ Hạ là một vị cao quý được vạn dân tôn vinh và đầu của Bệ Hạ là biểu tượng cho các bậc Thánh Đức. Bệ Hạ đừng đảnh lễ mấy Đạo Sĩ ăn xin hạ tiện làm mất thể diện của Đức Vua.

Vua A Dục không trả lời và ra lệnh vị Cận Thần đó đi bán đầu người, đồng thời sai vị Đại Thần khác đi bán đầu heo. Chiều đến vua triệu hai vị vào cung báo cáo kết quả. Trước hết vua hỏi vị Đại Thần bán đầu heo: Khanh bán đầu heo như thế nào? Vị Đại Thần bán đầu heo thưa:

- Tâu Bệ Hạ, đầu heo không đủ bán cho dân. Họ yêu cầu cung cấp thêm.

Tiếp theo vua hỏi vị Cận Thần bán đầu người.

- Còn Khanh, Khanh bán đầu ngời nh thế nào?

Vị Cận Thần bán đầu người lo sợ tái mặt, cúi đầu cúm núm thưa:

- Muôn tâu Bệ Hạ, Hạ Thần bán đầu người không được. Ai cũng đều chê không chịu mua.

Vua liền nói:

- Như vậy đầu của Trẫm đây cũng không có giá trị bằng đầu heo?

Các quần Thần đều im lặng, ngẩn người.

Vua nói tiếp:

- Các vị Sa Môn là những bậc tu hạnh ly trần thoát tục, đáng cao quý. Trẫm đây cúi đầu đảnh lễ các bậc đã thật hành những điều mà người đời không thể làm được để tỏ lòng tôn kính họ. Tại sao các Khanh cản trở Trẫm. Từ đây về sau ai cản trở không cho Trẫm đảnh lễ các vị Sa Môn sẽ bị chém đầu.

Câu tryện lịch sử ở trên nói lên ý nghĩa và giá trị của sự lễ bái trong Phật Giáo mà vua A Dục đã bày tỏ trước quần thần. Người đời thường chìm đắm trong bể ái dục khổ đau một cách đam mê không chút gì giác ngộ. Những tiền của, danh vọng, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ v.v... trói buộc họ quá nặng trong vòng lẫn quẩn và thúc đẩy họ tạo thêm nhiều tội ác của nghiệp sanh tử luân hồi trong ba cõi. Họ biết đó là những điều đau khổ trước mắt, nhưng họ vẫn sa ngã và hành động không chút từ nan.

Thế mà, bậc Sa Môn là những người đã cắt ái ly gia, thoát khỏi những sự ràng buộc của thế tình, dứt bỏ ngoài thân năm điều ái dục, an nhiên tự tại trên con đường giải thoát và giác ngộ. Họ đã thoát khỏi những điều mà thế nhân không thoát khỏi và họ đã thật hành những hạnh thanh tịnh mà thế nhân không thể làm. Họ là những bậc đáng cao quý cho chúng ta lễ bái. Thế nên vua A Dục sẵn sàng đảnh lễ họ bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu mỗi khi được diện kiến.

Lợi ích của sự Lễ Bái như đã trình bày ở trước, ngoài công dụng tiêu diệt dần đần những phiền não trong mỗi con người, còn tăng trưởng Đạo Lực trong nội Tâm của người tu tập. Mình lạy người khác tức là mình lạy mình. Mình tôn vinh người khác tức là mình tôn vinh mình. Trường hợp này cũng như chúng ta học Anh Văn. Chúng ta càng đọc lớn lên chừng nào thì chúng ta càng mau thuộc chừng đó. Chúng ta càng học nhiều chừng nào thì chúng ta càng thuộc lòng nhiều và nhớ lâu chừng đó. Chúng ta càng niệm Phật nhiều chừng nào thì Phật Tâm của chúng ta càng phát triển chừng đó. Chúng ta càng lạy Phật tụng Kinh thâm hậu chừng nào thì công đức Đạo Lực trong nội Tâm của chúng ta càng nẩy nở và tăng trưởng chừng đó. Chúng ta phát ra Đạo Tâm bao nhiêu thì lúc đó chúng ta thâu vô Đạo Lực bấy nhiêu không bao giờ mất. Những công đức càng bồi dưỡng bao nhiêu thì càng phát triển bấy nhiêu không chút sai trái.

Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển 24 có ghi lại những điều lợi ích của sự Lễ Bái. Kinh nói rằng: Cung kính lễ bái đức Như Lai sẽ hưởng được năm phần công đức như sau:

1. Đoan Chánh: nghĩa là ngời lễ bái thấy tướng hảo của Phật liền khởi niệm hoan hỷ và phát tâm ớc mơ mong cầu. Nhờ nhân duyên đó họ qua kiếp sau có thể hưởng được tướng mạo đoan trang tốt đẹp.

2. Hảo Thinh: nghĩa là người lễ bái xưng tụng danh hiệu đức Như Lai ba lần. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau có thể được tiếng nói lảnh lót trong trẻo tốt đẹp.

3. Đa Tài Bảo: nghĩa là người lễ bái thường dâng hoa, đốt đèn v.v... để bố thí cúng dường các đức Như Lai. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau hưởng được nhiều tiền của vật báu.

4. Sanh Trưởng Giả Gia: nghĩa là người lễ bái đem tâm không chấp trước, chấp tay quỳ gối, chí thành lễ Phật. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau được sanh vào nhà giàu sang quí tộc.

5. Sanh Thiện Xứ Thiên Thượng nghĩa là nhờ công đức cung kính lễ bái các đức Như Lai, hành giả (người lễ bái) đời sau sẽ được sanh vào các cõi lành hoặc các cõi trời.

Tóm lại, Lễ Bái không phải hành động thấp hèn làm mất phẩm cách con người. Trái lại Lễ Bái chính là một đạo nghĩa của con người tiến bộ và còn là một đạo lý của Tín Đồ chân chánh. Đối với Tổ Tiên, người Hiếu Hạnh cần phải lễ bái để tỏ lòng cung kính đối với Thánh Hiền, Tín Đồ chân chánh cần phải lễ bái để thể hiện đức tính khiêm cung trong sự tu tập đạo lý giác ngộ. Lễ Bái nhầm giao cảm với bề trên, kết sợi giây tương thân trong xã hội và tạo nên chất liệu để xóa bỏ mọi dị biệt ngăn cách chia rẽ trong đoàn thể. Người con Hiếu Hạnh không thể thiếu c­ung cách Lễ Bái. Người Tín Đồ trung kiên và đạo đức gương mẫu không thể thiếu nghĩa vụ với nghi cách Lễ Bái này.



IV.- KẾT LUẬN:

Vấn đề thờ, cúng và lễ bái là những biểu tượng tín ngưỡng có giá trị chẳng những về phương diện hình thức và còn hữu ích không nhỏ về phương diện tâm linh. Thờ, cúng và lễ bái là nhu cầu cần thiết cho con người không thể thiếu trong việc tu tập đào luyện đạo đức làm người. Vấn đề trên chẳng những cần thiết cho cá nhân mình, cho gia đình mình trong đời này, mà hơn nữa, đây cũng là một nhu cầu hữu ích cho thế hệ con cháu mai sau. Chẳng những thế vấn đề THỜ, CÚNG và LỄ BÁI còn là một yếu tố cần thiết trong việc tạo dựng nhân lành cho cuộc đời mình ở kiếp sau. Điều này rất quan trọng kể cả hình thức lẫn nội dung, kể cả sự tướng cho đến lý tánh, để chúng ta và tất cả chúng sanh sớm giải thoát phiền não khổ đau và được an vui tự tại trong sự giác ngộ.

Thờ ở đây nhằm thể hiện sự tưởng niệm, tỏ bày lòng Tôn Kính dâng lên các bậc Tổ Tiên và các vị Thánh Đức mà mình đã gởi trọn niềm tin. Người Thờ Cúng và Lễ Bái là tự tạo điều kiện giao cảm, thiết lập điểm tựa cho Tâm Linh giữa họ với Bề Trên mỗi khi cảm thấy tâm hồn lạc lỏng mà chính họ cần đến quyền năng hỗ trợ của Tiền Nhân. Thờ ở đây còn là một hình thức giáo dục gia đình, nhắc nhở con cháu ý niệm được bổn phận làm người đối với bề trên trong sự nghiệp kế thừa Truyền Thống. Hình Thức Thờ Tự cũng tạo phương tiện cho con cháu noi g­ương đức hạnh của Tiền Nhân để soi sáng cõi lòng tu tâm dưỡng tánh.

Cúng ở đây nhằm tri ân sâu dầy của Tổ Tiên, của Thánh Hiền đáng kính với sự dâng hiến lễ vật quý trọng và mong cầu ơn trên chứng minh gia hộ. Ngoài ra Cúng kỵ còn tăng trưởng phước Ông Bà cho dòng họ Cháu Con và tăng trưởng Đạo Lực giải thoát cho Tín Đồ qua hệ thống Tâm Linh làm gạch nối giữa người nguyện cầu với các bậc Tiền Nhân Thánh Đức. Có thể nói Cúng Kỵ rất cần thiết cho việc giáo dục gia đình ý niệm Truyền Thống Tổ Tiên, lý tưởng Giống Nòi và làm tròn nghĩa vụ Đạo Đức con người. Muốn bồi dưỡng Tâm Linh lành mạnh, người Đạo Đức và Hiếu Nghĩa không thể không Thờ, Cúng và Lễ Bái Tổ Tiên, Chư Phật và Thánh Hiền.

Lễ Bái ở đây nhằm báo ân với cung cách quy ngưỡng, hướng về, cũng như noi gương đức hạnh cao quý và ý chí siêu thoát của các bậc Tôn Kính để tu tập. Người Lễ Bái mong cầu sau này kế thừa xứng đáng sự nghiệp của Tiền Nhân trên con đường giác ngộ và giải thoát khổ đau sanh tử. Phận làm cha mẹ cần phải giải thích cho con cháu hiểu rõ ý nghĩa và giá trị Thờ, Cúng và Lễ Bái. Con cháu nhờ đó tiếp nối sự nghiệp Thờ, Cúng và Lễ Bái của Tổ Tiên cho đúng đạo lý.

Truyền Thống Văn Hóa Việt Nam, Vấn đề Thờ, Cúng và Lễ Bái là hình ảnh linh động nhất, cao đẹp nhất, sâu đậm nhất của một Dân Tộc có hơn Bốn Ngàn Năm Văn Hiến. Hình ảnh Thờ, Cúng và Lễ Bái làm sống dậy tinh thần Hiếu Nghĩa và Đạo Đức Nhân Luân của con Lạc cháu Hồng, Việt Nam bất diệt.
Về Đầu Trang Go down
 

CĂN ĐỒNG---Người như thế nào thì được gọi là có căn đồng?

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn được quyền trả lời bài viết
Q9A1-THANGLONG-UNIVERSITY :: -
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này