Q9A1-THANGLONG-UNIVERSITY

ÁO XƯA DÙ NHÀU, CŨNG XIN BẠC ĐẦU GỌI MÃI TÊN NHAU !!!
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Nếu mai này Mẹ hiền có mất đi.... như đóa hoa không mặt trời... như trẻ thơ không nụ cười... ngỡ đời mình không lớn khôn thêm... như bầu trời thiếu ánh sao đêm......!!!

Share | 
 

 Sự khác biệt giữa nghiệp và số mệnh ?

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
moon
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Sự khác biệt giữa nghiệp và số mệnh ?   Sat Apr 16, 2011 12:23 am



Sự khác biệt giữa nghiệp và số mệnh ?


Hỏi: Quan điểm về Nghiệp của Phật giáo có sự khác biệt như thế nào so với quan điểm Số mệnh của Nho giáo ?


Đáp: Đời sống của con người vốn rất đa dạng, muôn màu và vô cùng sai biệt. Mỗi cá nhân có một cấu trúc tâm sinh lý và hoàn cảnh, điều kiện sống hoàn toàn khác biệt nhau. Cùng là con người, nhưng có sự bất đồng rõ rệt giữa giàu nghèo, xấu đẹp, khoẻ mạnh và đau yếu, trường thọ và chết yểu, thành công và thất bại, hạnh phúc và khổ đau… Để trả lời câu hỏi nhân sinh vĩ đại này, các tôn giáo và triết học đều có những kiến giải theo quan niệm của riêng mình. Phật giáo giải thích căn nguyên của sự dị biệt đó bằng thuyết Nghiệp hoàn toàn khác biệt với quan niệm Số mệnh của Nho giáo.



Ảnh: Internet

Số mệnh hay số phận là quan niệm của các trường phái triết học như Túc mệnh luận, Định mệnh luận và Thiên mệnh luận của Nho giáo.

Túc mệnh luận cho rằng, mỗi con người đều có một số mệnh do quá khứ an bài và xếp đặt. “Nhất động nhất tác giai do tiền định”, mỗi cử chỉ, mỗi động tác đều được quyết định trước ở quá khứ. Mọi cố gắng hay nỗ lực của con người đều vô ích.

Định mệnh luận có cùng quan niệm như Túc mệnh luận nhưng cường điệu hơn tính chất bất khả kháng của số mệnh. Số mệnh là quyết định, không thể thay đổi, phủ nhận hoàn toàn mọi nỗ lực cá nhân.

Thiên mệnh luận của Nho giáo quan niệm Thiên mệnh có nhiều nghĩa. Thiên mệnh là Thiên đạo, tức đạo Trời. Ông Trời quy định cho mỗi cá nhân một số mệnh. Con người không thể cãi lại mệnh Trời, “ Trời kêu ai người nấy dạ”. Mọi cố gắng của con người không ngoài ý Trời. Nếu hiểu Thiên mệnh theo cách này thì Thiên mệnh luận gần với Thần ý luận của các tôn giáo sùng kính Thượng đế. Tuy nhiên, Thiên mệnh hay Thiên đạo còn được hiểu là luật tắc của tự nhiên (Khổng Tử ), là nguyên lý vận hành và biến hoá của tự nhiên (Chu Hy), thì quan niệm này không phải Số mệnh luận.

Như vậy, số mệnh hay số phận dù theo Túc mệnh luận, Định mệnh luận hoặc Thiên mệnh luận đều có chung tính chất tiêu cực, thụ động, cứng nhắc và triệt tiêu mọi nỗ lực cải tạo, hướng thiện của con người. Con người đã có một số mệnh, được an bài, định đoạt ở quá khứ hoặc bị quyết định bởi ý chí của một đấng siêu nhiên. Khi đã an phận vào số phận, con người xuôi tay cho số phận đẩy đưa, phó mặc cho số mệnh quyết định.

Phật giáo không chủ trương và không chấp nhận số mệnh. Con người hiện hữu và tồn tại với các đặc tính khác nhau là kết quả của Nghiệp được tạo tác bởi chính họ trong hiện tại và quá khứ. “Con người là chủ nhân của Nghiệp, là kẻ thừa tự Nghiệp…” ( Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt – Trung Bộ III ).

Nghiệp là hành động có tác ý, hay hành động phát sinh từ tâm được thể hiện qua hành động (Thân nghiệp), ngôn ngữ (Khẩu nghiệp) và tư duy (Ý nghiệp). Nghiệp lực là sức mạnh của Nghiệp, là động lực thúc đẩy, dẫn dắt để hình thành một thân phận chúng sanh. Nghiệp do mình tạo ra rồi trở lại chi phối chính mình.

Nghiệp có nhiều loại, mỗi loại có một tính chất và công năng khác nhau. Hai loại Nghiệp chính thường được đề cập là Dẫn nghiệp và Mãn nghiệp. Dẫn nghiệp là Nghiệp do con người tạo ra trong đời sống hiện tại hay quá khứ thông qua thân, khẩu và ý hoặc thiện hoặc ác, để rồi chính Nghiệp này dẫn dắt con người ấy sanh vào một trong sáu nẻo của Lục đạo ( Trời, Người, A tu la, Súc sanh, Ngạ quỷ và Địa ngục ). Phạm tội Ngũ nghịch thì bị đoạ vào A tỳ địa ngục hoặc tu tập Thập thiện thì sanh vào cõi Trời hay tu tập Ngũ giới sẽ sanh vào cõi Người… Tuy nhiên, cùng là người nhưng có người khỏe mạnh, người lại ốm đau; người đẹp, kẻ xấu; người này sang trọng, người kia lại nghèo hèn vv… tất cả những sai biệt ấy là quả báo của Mãn nghiệp.

Con người tạo ra Nghiệp lại không trốn thoát những Nghiệp do mình tạo ra. Nhưng Nghiệp không phải là Định mệnh hay Số mệnh. Điểm khác nhau cơ bản giữa Nghiệp và Số mệnh ở chỗ, Nghiệp do chính con người tác tạo, có tính chất duyên sinh, bất định tính và vô ngã nên Nghiệp có thể chuyển hoá được. Do đó, con người có thể thay đổi, chuyển hoá Nghiệp báo của chính mình từ xấu thành tốt, từ ác thành thiện hoặc ngược lại. Năng lực chuyển hoá Mãn nghiệp trở thành tốt hơn hoặc xấu đi được gọi là Năng tiêu nghiệp. Tác dụng của Năng tiêu nghiệp trong đời sống hiện tại rất lớn. Một người có tư chất thông minh và cơ thể khỏe mạnh là kết quả của Mãn nghiệp. Thế nhưng, người ấy không lo học tập, rèn luyện thân thể lại còn sống buông thả, đắm say tửu sắc, ma tuý. Kết quả từ chỗ khỏe mạnh anh ta trở nên ốm yếu, tiều tụy; từ chỗ thông minh thành ra ngu đần, thác loạn. Năng tiêu nghiệp đã làm tiêu hủy Nghiệp tốt của người này. Ngược lại, một người với quả báo Mãn nghiệp có cơ thể ốm yếu, tật bệnh nhưng nhờ biết giữ gìn sức khỏe, luyện tập dưỡng sinh, ăn uống điều độ, làm việc giờ giấc, người này vẫn khỏe mạnh, chiến thắng bệnh tật, thậm chí còn trường thọ. Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện chỉ có một phần ba lá phổi màvẫn làm việc bình thường, trường thọ (80 tuổi) là một điển hình của Năng tiêu nghiệp theo hướng tích cực.

Đối với Dẫn nghiệp, một loại Nghiệp có cường độ mạnh trong việc quyết định hướng tái sanh nhưng vẫn chuyển hoá được. Trong sách Đồng Mông Chỉ Quán, ngài Trí Giả đại sư có kể chuyện một Sa Di yểu mạng nhưng nhờ cứu sống một đàn kiến nên được chuyển Nghiệp. Đáng lẽ, vị Sa Di này phải chết trong vòng một tuần lễ lại được sống an ổn, trường thọ. Năng lực chi phối Dẫn nghiệp là Năng huỷ nghiệp. Một người thọ mạng vẫn còn, nghiệp lực của Dẫn nghiệp (Tái sanh nghiệp) vẫn còn nhưng vì người này trong đời trước hoặc ngay trong đời này đã tạo ra những Nghiệp cực mạnh, có khả năng tiêu hủy đời sống của họ, khiến họ có thể mất mạng như thường. Đó là những trường hợp đột tử, bất đắc kỳ tử, tai nạn. Đây không phải là số mệnh, định mệnh hay tới số, tận số. Phật giáo gọi là Nghiệp, tác động của Năng hủy nghiệp đã tiêu hủy một Dẫn nghiệp được tạo ra trước đó, chấm dứt một đời sống. Năng hủy nghiệp trong trường hợp này giống như cơn gió thổi tắt đèn trong khi đèn vẫn còn dầu và bấc.
Tóm lại, Nghiệp là một phạm trù triết học lớn trong hệ thống giáo lý Phật giáo không thể phân tích hết trong mục Hỏi – Đáp này. Nghiệp theo Phật giáo là một cơ chế vận hành của đời sống được khám phá bởi tuệ giác của Đức Phật chứ không phải một tín ngưỡng vu vơ, siêu hình và hoàn toàn khác biệt với quan niệm Số mệnh của Nho giáo. Nghiệp do con người tạo ra trong quá khứ và từng phút từng giây trong hiện tại bằng ba con đường thân, miệng và ý rồi trở lại chi phối chính người ấy. Nghiệp tuy có năng lực mạnh mẽ, chi phối và quyết dịnh đời sống của chúng sanh trong hiện tại và tương lai nhưng Nghiệp không có định tính, vô ngã. Nghiệp có thể chuyển hoá và thay đổi được thông qua nỗ lực tu tập của cá nhân, chứ không cứng nhắc, tiêu cực như Số mệnh. Thuyết Nghiệp rất tích cực, khoa học và công bằng. Nó tôn vinh trách nhiệmvà giá trị con người, thúc đẩy con người hướng thiện, sống đạo đức, theo lẽ phải. Thuyết Nghiệp khích lệ con người hành động và tiến bộ, hoàn toàn vắng mặt bóng dáng tiêu cực, yếm thế. Đó là nét đặc sắc của giáo lý Nghiệp và là điểm khác biệt cơ bản nhất của quan niệm Nghiệp và Số mệnh.
Về Đầu Trang Go down
god
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: CÕI VÔ HÌNH   Sat Apr 16, 2011 5:19 pm


CÕI VÔ HÌNH


Hamud là một pháp sư có kiến thức rất rộng về cõi vô hình. Khác với những đạo sĩ khác phái đoàn đã gặp, ông này không phải người Ấn mà là một người Ai cập. Ông ta sống một mình trong căn nhà nhỏ, xây dựa vào vách núi.

Hamud không hề tiếp khách, nhưng trước sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng lòng tiếp phái đoàn trong một thời gian ngắn. Vị pháp sư có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và một thân hình mảnh khảnh. Ông ta khoác áo choàng rộng và quấn khăn theo kiểu Ai cập.

Giáo sư Evans-Wentz vào đề :

- Chúng tôi được biết ông chuyên nghiên cứu các hiện tượng huyền bí…

Pháp sư thản nhiên :

- Đúng thế, tôi chuyên nghiên cứu về cõi vô hình.

- Như thế ông tin rằng có ma…

Vị pháp sư nói bằng một giọng chắc chắn, quả quyết :

- Đó là một sự thật, không những ma quỷ hiện hữu mà chúng còn là đối tượng nghiên cứu của tôi.

- Bằng cớ nào ông tin rằng ma quỷ có thật ?

- Khắp nơi trên thế giới đều có các giai thoại về ma, vì con người thường sợ hãi cái gì mà họ không thể nhận thức bằng các giác quan thông thường, nên họ đã phủ nhận nó. Sự phủ nhận này mang đến niềm sợ hãi. Từ đó họ thêu dệt các giai thoại rùng rợn, ly kỳ, không đúng sự thật. Nếu chúng ta chấp nhận ma quỷ hiện hữu như một con voi hay con ngựa thì có lẽ ta sẽ không còn sợ hãi. Các ông đòi hỏi một chứng minh cụ thể chăng ?

- Dĩ nhiên, chúng tôi cần một bằng chứng hiển nhiên …

- Được lắm, các ông hãy nhìn đây.

Vị pháp sư mở ngăn kéo lấy ra một cặp que đan áo, một bó len và mang ra góc phòng để xuống đất. Ông ta thong thả :

- Chúng ta tiếp tục nói chuyện, rồi các ông sẽ thấy.

Mọi người ngơ ngác, không hiểu ông muốn nói gì, giáo sư Mortimer nóng nảy :

- Nếu ông nghiên cứu về cõi vô hình, xin ông giải thích về quan niệm thiên đàng, địa ngục cũng như đời sống sau khi chết ra sao ?

Vị pháp sư nghiêm giọng :

- Đó là một quan niệm không đúng, sự chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vũ trụ có rất nhiều cõi giới, chứ không phải chỉ có một cõi này.

- Khi chết ta bước qua cõi trung giới và cõi này gồm có bảy cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là “dĩ thái”. Tùy theo sự rung động khác nhau mà mỗi cảnh giới một khác. Tùy theo vía con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc, mà mỗi người thích hợp với một cảnh giới, đây là hiện tượng “đồng thanh tương ứng” mà thôi.

Khi vừa chết, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc ở trong, áo choàng dầy khoác ngoài. Vì lớp vỏ bọc bên ngoài cấu tạo bằng nguyên tử rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cõi âm, và con người sẽ đến với cảnh giới này.

Sau khi ở đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần dần tan rã giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian, khi các áp lực vật chất tan rã hết thì con người tuần tự tiến lên những cảnh giới cao hơn.

Điều này cũng giống như một quả bóng bay bị cột vào đó những bao cát; mỗi lần cởi bỏ được một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi không còn bao cát nào, thì nó sẽ tự do bay bổng.

Trong bảy cảnh giới của cõi âm, thì cảnh thứ bảy có rung động nặng nề, âm u nhất, nó là nơi chứa các vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người mổ sẻ súc vật, những cặn bả xã hội, những kẻ tư tưởng xấu xa, còn đầy thú tánh. Vì ở cõi âm, không có thể xác, hình dáng thường biến đổi theo tư tưởng nên những kẻ thú tánh mạnh mẽ thường mang các hình dáng rất ghê rợn, nửa người, nửa thú.

Những người thiếu kiến thức rõ rệt về cõi này cho rằng đó là những quỷ sứ. Điều này cũng không sai sự thật bao nhiêu vì đa số những vong linh này luôn oán hận, ham muốn, thù hằn và thường tìm cách trở về cõi trần. Tùy theo dục vọng riêng tư mà chúng tụ tập quanh các nơi thích ứng, dĩ nhiên người cõi trần không nhìn thấy chúng được.

Những loài ma đói khát quanh quẩn bên các chốn trà đình tửu quán, các nơi mổ sẻ thú vật để tìm những rung động theo những khoái lạc vật chất tại đây. Khi một người ăn uống ngon lành họ có các rung động, khoái lạc và loài mà tìm cách hưởng thụ theo tư tưởng này. Đôi khi chúng cũng tìm cách ảnh hưởng, xúi dục con người nếu họ có tinh thần yếu đuối, non nớt.

Những loài ma dục tình thì quanh quẩn nơi buôn hương bán phấn, rung động theo những khoái lạc của người chốn đó, và tìm cách ảnh hưởng họ. Nếu người sống sử dụng rượu, các chất kích thích thì ngay trong giây phút mà họ không còn tự chủ được nữa, các loài ma tìm cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái lạc vật chất dư thừa. Vì không được thỏa mãn nên theo thời gian các dục vọng cũng giảm dần, các nguyên tử nặng trọc cũng tan theo, vong linh sẽ có các rung động thích hợp với một cảnh giới cao hơn và y sẽ thăng lên cõi giới tương ứng.

Dĩ nhiên, một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ không lưu ở cõi này, mà thức tỉnh ở một cõi giới tương ứng khác. Tùy theo lối sống, tư tưởng khi ta còn ở cõi trần mà khi chết ta sẽ đến những cảnh giới tương đồng, đây chính là định luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.

Toàn thể phái đoàn im lặng nhìn nhau, vị pháp sư Ai cập đã diễn tả bằng những danh từ hết sức khoa học, chính xác, chứ không mơ hồ, viễn vông. Dù sao đây vẫn là một lý thuyết rất hay, nhưng chưa chứng minh được. Có thể đó là một giả thuyết của những dân tộc nhiều tưởng tượng như người Á châu chăng ?

Hamud mỉm cười như đọc được tư tưởng mọi người :

- Nếu các ông biết rằng tôi cũng là một tiến sĩ vật lý học tốt nghiệp đại học Oxford…

Giáo sư Harding giật mình kêu lên :

- Oxford ư ? Ông đã từng du học bên xứ chúng tôi sao ?

- Chính thế, tôi tốt nghiệp năm 1964, và là người Ai cập đầu tiên tốt nghiệp về ngành này.

(Ghi chú của giáo sư Spalding : Phái đoàn đã phối kiểm chi tiết này và hồ sơ đại học Oxford ghi nhận có một tiến sĩ người Ai cập tên là Hamud El Sarim nhập học năm 1956 và tốt nghiệp năm 1964 với bằng Tiến sĩ Vật lý).

- Nhưng làm sao ông biết rõ được cõi giới này ? Ông đã đọc sách vở hay dựa trên những bằng chứng ở đâu ?

- Tôi đã khai mở các giác quan thể vía, nhờ công phu tu hành trong nhiều năm. Ngay khi còn là sinh viên tôi đã say mê môn Vật lý siêu hình (metaphysics). Tôi dành nhiều thời giờ nghiên cứu sách vở khoa học, nhưng đến một lúc thì khoa học phải bó tay. Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi đến với Khoa Huyền Bí học. Tôi học hỏi rất kỹ về môn này, khi trở về Ai cập tôi may mắn gặp được các vị đạo sư uyên bác, nên sự nghiên cứu càng ngày càng tiến bộ.

Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi sang Ấn độ, và Tây Tạng. Tại đây tôi gặp một Lạt Ma chuyên nghiên cứu về cõi âm, tôi đã học hỏi rất nhiều với vị này. Sau đó, tôi tu nhập thất trong 10 năm liền, và khai mở được một vài giác quan đặc biệt. Từ đó, tôi tha hồ nghiên cứu cõi âm vì tôi có thể sang tận đây học hỏi và cõi này trở nên quen thuộc, tôi kết bạn với rất nhiều sinh vật siêu hình, chúng giúp đỡ tôi rất nhiều.

Giáo sư Evans- Wentz ngập ngừng :

- Ông muốn nói rằng ông kết bạn với ma ?

- Dĩ nhiên, vì tôi dành trọn thời giờ hoạt động bên cõi này, nên tôi có rất đông bạn bè, phần lón là vong linh người quá cố nhưng cũng có một vài sinh vật có đường tiến hoá riêng, khác với loài người, có loài khôn hơn người và có loại không thông minh hơn loài vật là bao…

- Giao thiệp với chúng có lợi ích gì không ?

- Các ông nên biết cõi âm là một thế giới lạ lùng, phức tạp với những luật thiên nhiên khác hẳn cõi trần. Sự đi lại giao thiệp giúp ta thêm kiến thức rõ ràng…..

- Như thế có nguy hiểm không ?

- Dĩ nhiên, có nhiều sinh vật hay vong linh hung ác, dữ tợn… Một số thầy phù thuỷ, thường liên lạc với nhóm này để mưu cầu lợi lộc, chữa bệnh hoặc thư phù, nguyền rủa….

- Ông có thể làm như vậy không ?

Vị pháp sư nghiêm mặt :

- Tất cả những việc gì có tính cách phản thiên nhiên, ngược luật tạo hoá đều mang lại hậu quả không tốt. Mưu cầu lợi lộc cho cá nhân là điều tối kỵ của ai đi trên đường đạo. Tôi không giao thiệp với những loại vong linh này, vì chúng rất nguy hiểm, hay phản phúc và thường giết chết kẻ lợi dụng chúng bất cứ lúc nào. Các ông nên nhớ tôi là một khoa học gia chứ không phải một thầy pháp hạ cấp hay một phù thuỷ chữa bệnh.

- Xin ông nói rõ hơn về những cảnh giới cõi âm.

- Các ông nên biết dù ở cõi nào, tất cả cũng không ra ngoài các định luật khoa học. Thí dụ như vật chất có ba thể : thể lỏng, thể đặc và thể hơi, thì bên cõi này cũng có những thể tương tự.

Luật thiên nhiên cho thấyvật nặng sẽ chìm xuống dưới và vật nhẹ nổi lên trên thì cõi vô hình cũng thế. Nguyên tử cõi âm rung động với một nhịp độ khác với cõi trần, các nguyên tử rung động thật nhanh dĩ nhiên phải nhẹ hơn các nguyên tử nặng trược. Tóm lại, tùy theo nhịp độ rung động mà tạo ra những cảnh giới khác nhau, có bảy loại rung động nên có bảy cõi giới.

Các nguyên tử rung động chậm chạp phải chìm xuống dưới vì nếu ta mang nó lên cao, sức ép sẽ làm nó tan vỡ ngaỵ Thí dụ ta đặt một quả bóng xuống nước nếu đến một độ sâu nào đó sức ép của nước sẽ làm nó vỡ tan. Loài cá cũng thế, có loại sống gần mặt nước, có loại sống tận đáy đại dương. Nếu loại sống gần mặt biển bị mang xuống đáy nó sẽ bị sức ép mà chết, ngược lại nếu loài sống ở dưới đáycũng không thể lên sát mặt nước vì đã quen với sức ép khác nhau.

Cảnh giới thứ bảy lúc nào cũng tối tăm, nặng nề với các vong linh hình dáng ghê rợn, nhưng hoàn toàn không có vụ quỷ sứ tra tấn tội nhân. Bị lưu đày ở đây đã là khổ sở lắm rồi, các ông hãy tưởng tượng bị dục vọng hành hạ mà không thể thỏa mãn thì còn khổ gấp trăm lần bị tra tấn. Vong linh thèm muốn nhưng không so thỏa mãn được, như đói mà không thể ăn, khát không thể uống. Do đó, theo thời gian y sẽ học bài học chịu đựng, nhẫn nhục cho đến khi dục vọng giảm bớt và tan ra thì y sẽ thăng lên cảnh giới thứ sáu.

Cõi giới thứ sáu, có sự rung động rất giống như cõi trần, tại đây các vong linh ít còn thèm muốn vật chất như ăn uống, dục tình, nhưng bận tâm với những nhỏ nhen của cuộc sống như thoa? mãn bản ngã, ích kỷ, ghen tuông, hờn giận, v…v… Đa số có hình dáng giống như người cõi trần, nhưng lờ mờ không rõ. Vì sự rung động của nguyên tử gần giống như cõi trần nên họ hay trở về cõi này, họ thường nhập vào đồng cốt, các buổi cầu cơ, cầu hồn để chỉ dẫn bậy bạ, nói chuyên vu vơ nhằm thỏa mãn tự ái, bản ngã cá nhân. Vì đa số vong linh khi còn sống rất ham mê danh vọng, chức tước, uy quyền nên khi họ nhập vào đồng cốt, họ thường tự xưng là các đấng này, đấng nọ. Theo thời gian, các rung động ham muốn, các cố chấp về bản ngã, danh vọng cũng tan biến nên họ thăng lên cảnh giới thứ năm.

Cõi thứ năm có sự rung động thanh nhẹ hơn cõi trần nên vong linh có thể biến đổi sắc tướng rất nhanh chóng. Đây là một thế giới với những âm thanh màu sắc lạ lùng dễ bị mê hoặc. Các vong linh ở đây đã bớt ham muốn về cá nhân, nhưng còn ham muốn về tư tưởng, kiến thức. Đây là nơi cư ngụ của những kẻ đạo đức giả, những kẻ bảo thủ nhiều thành kiến, những người trí thức tự phụ, v…v… Đây cũng là cõi có những sinh hoạt của loài Tinh linh. Loài Tinh linh là những sinh vật vô hình có hình dáng hao hao giống như người mà ta thường gọi là Thiên tinh (sylphs), Thổ địa (gnome), Phong tinh (elves), v…v… Một số bị thu phục bởi các phù thuỷ, pháp sư để làm ảo thuật hay luyện phép. Cõi này còn có sự hiện diện của những “hình tư tưởng”.

Các ông nên biết, khi một tư tưởng hay dục vọng phát sinh thì chúng sử dụng tinh chất cõi này tạo nên một hình tư tưởng thích hợp. Đời sống của chúng tùy theo sức mạnh của tư tưởng mạnh hay yếu. Vì đa số tư tưởng con người còn mơ hồ nên hình tư tưởng chỉ tạo ra ít lâu là tan rã ngaỵ Một người tập trung tư tưởng có thể tạo ra một hình tư tưởng sống lâu trong vài giờ hay vài ngày. Một pháp sư cao tay có thể tạo ra các hình tư tưởng sống đến cả năm hay cả thế kỷ, không những thế hình tư tưởng này còn chịu sự sai khiến của ông tạ Các phù thuỷ luyện thần thông đều dựa trên nguyên tắc cấu tạo một sinh vật vô hình để sai khiến.

Hình tư tưởng không chỉ phát sinh từ một cá nhân mà còn từ một nhóm người hay một quốc gia, dân tộc. Khi một đoàn thể, dân tộc cùng một ý nghĩ, họ sẽ tạo ra một hình tư tưởng của đoàn thể, quốc gia đó. Hình tư tưởng này sẽ tạo một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn đối với tình cảm,phong tục, thành kiến của quốc gia, dân tộc. Ta có thể gọi đó là “Hồn thiêng sông núi” hay “dân tộc tính”.

Khi sinh ra tại một quốc gia, ta ít nhiều chịu ảnh hưởng của hình tư tưởng này, dĩ nhiên chúng chỉ ảnh hưởng lên thể vía, nghĩa là tình cảm của dân tộc đó, chứ không ảnh hưởng đến lý trí. Một người sống nhiều bằng lý trí sẽ ít chịu ảnh hưởng như người bình thường. Điều này giải thích tại sao một dân tộc có tâm hồn mơ mộng như thi sĩ khi dân tộc khác lại có đầu óc thực tế mặc dù trên phương diện địa lý, họ không ở cách xa nhau mấy và ít nhiều chia sẻ một số quan niệm về tôn giáo, phong tục, tập quán.

Cảnh giới cõi thứ tư sáng sủa hơn và dĩ nhiên nguyên tử cõi này rung động rất nhanh. Phần lớn những vong linh tiến hoá, thánh thiện, những nhà trí thức trầm mặc nhưng còn quyến luyến một ít dục vọng khi chết đều thức tỉnh ở cảnh giới này. Đa số đều ý thức ít nhiều, nên họ bắt đầu cởi bỏ những ham muốn, quyến luyến. Đây cũng là chỗ họ học hỏi và ảnh hưỏong lẫn nhau, và đôi khi kêt những liên hệ để cùng nhau tái sinh trong một gia đình hay quốc gia.

Cõi giới thứ ba chói sáng, có những rung độgn nhẹ nhàng. Tại đâu có những linh hồn từ tâm nhưng vụng về, những tu sĩ thành tâm nhưng thiếu trí tuệ, những nhà lãnh đạo anh minh nhưng thành kiến. Đây cũng là một cảnh giới của một số thần linh (devas) như Cảmđục thiên thần (Kamadeva), Hữu sắc thiên thần (Rupadeva), và Vô sắc thiên thần (Arupadeva). Các thần linh này có đời sống và tiến hoá cao hơn trình độ của nhân loại.

Cõi giới thứ hai và thứ nhất cấu tạo bằng những nguyên tử hết sức thanh thoát, rung động rất nhanh và tràn đầy ánh sáng. Đây là cõi giới mà những người tiến hoá rất cao, rất tệ nhị không còn dục vọng, ham muốn, lưu lại để học hỏi, trao đổi kinh nhigệm, phát triển ccác đức tính riêng trước khi siêu thoát len cảnh giới cao hơn.

- Như thế người chết thường lưu lại ở cõi Trung giới bao nhiêu lâu ?

- Thời gian lưu lại đây hoàn toàn tùy thuộc vào dục vọng con người, có người chỉ ghé lại đây vài giờ, lập tức đầu thai trở lại. Có kẻ ở đây hàng năm và có kẻ lưu lại đây hàng thế kỷ… Để siêu thoát, thể vía phải hoàn toàn tan rã hết thì mới lên đến cõi Thượng thiên hay siêu thoát. Tóm lại danh từ như thiên đàng hay địa ngục chỉ là những biểu tượng của những cảnh ở cõi Trung giới (Kamaloka). Tùy theo sự sắp xếp của thể vía khi chết, mà ta thức tỉnh ở một cảnh giới tương ứng.

Mọi người yên lặng nhìn nhau, những điều Hamud giải thích hoàn toàn hợp lý và hết sức khoa học, không hoang đường chút nào.

Nhưng làm sao chứng minh những điều mà khoa học thực nghiệm không thể nhìn thấy được ? Dù sao Hamud cũng là một Tiến sĩ Vật lý tốt nghiệp đại học nổi tiếng nhất Âu châu chứ không phải một phù thuỷ vô học chốn hoang vu, ít nhiều ông ta cũng có một tinh thần khách quan vô tư của một khoa học gia chứ không mê tín dễ chấp nhận một lý thuyết vu vơ, không kiểm chứng. Nhưng làm sao có thể thuyết phục những người Âu Mỹ vốn rất tự hào, nhiều thành kiến và tin tưởng tuyệt đối ở khoa học.

Hamud mỉm cười tiếp tục :

- Sự hiểu biết về cõi vô hình rất quan trọng, vì khi hiểu rõ những điều xảy ra sau khi chết, ta sẽ không sợ chết nữa. Nếu có chết chỉ là hình hài, xác thân chứ không phải sự sống, và hình hài có chết đi, thì sự sống mới tiếp tục tiến hoá ở một thể khác tinh vi hơn. Đây là một vấn đề hết sức hợp lý và khoa học cho ta thấy rõ sự công bình của vũ trụ.

Khi còn sống, con người có dục vọng này nọ, khi dục vọng được thoa? mãn, nó sẽ gia tăng mạnh mẽ, đồng thời các chất thô kệch, các rung động nặng nề sẽ bị thu hút vào thể vía.

(Còn 1 kỳ nữa)
Về Đầu Trang Go down
god
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: CÕI VÔ HÌNH Kỳ 2 : tiếp theo và hết.   Sat Apr 16, 2011 5:35 pm


CÕI VÔ HÌNH

Kỳ 2 : tiếp theo và hết.

Sau khi chết, dục vọng này trở nên mạnh mẽ vì không còn lý trí kiểm soát nữa, chính thế nó sẽ đốt cháy con người của ta. Sự nung đốt của dục vọng chẳng phải địa ngục là gì ? Giống như đức tính, phẩm hạnh khi còn trẻ, quyết định điều kiện sinh sống lúc tuổi già, đời sống cõi trần quyết định đời sống bên kia cửa tử. Luật này hết sức hợp lý và dễ chứng minh.

Khi còn trẻ ta tập thể thao, giữ thân thể khoẻ mạnh, thì khi về già ta sẽ ít bệnh tật, khi còn trẻ ta chịu khó học hỏi, có một nghề nghiệp vững chắc thì khi về già đời sống được bảo đảm hơn, có đúng thế không ?

Những người nào chế ngự được dục vọng thấp hèn, làm chủ được đòi hỏi thể xác, thì các dục vọng này không thể hành hạ khi ta chết. Luật thiên nhiên định rằng khi về già thể xác yếu dần, đau ốm, khiến cho ta bớt đi các ham muốn và nhờ thế, dục vọng cũng giảm bớt rất nhiều nên thể vía cũng thanh lọc bớt các chất nặng nề, ô trượt để khi chết, sẽ thức tỉnh ở cảnh giới cao thượng hơn.

Trái lại những người còn trẻ, lòng ham muốn còn mạnh mẽ, nếu chết bất đắc kỳ tử thường đau khổ rất nhiều và phải lưu lại cõi Trung giới lâu hơn. Nếu hiểu biết như thế, ta cần phải duyệt xét lại đời sống của mình ở cõi trần để khỏi lưu lại những cảnh giới thấp thỏi, nặng nề bên cõi âm.

Những người lớn tuổi cần chuẩn bị để dứt bỏ các quyến luyến, ràng buộc, các lo lắng ưu phiền, các tranh chấp, giận hờn, phải biết xả ly, dứt bỏ mọi phiền não để mau chóng siêu thoát. Một sự chuẩn bị Ở cõi trần sẽ rút ngắn thời gian bên cõi âm và chóng thúc đẩy thời gian lên cõi giới cao hơn.

- Nhưng còn các ma quỷ thì sao ?

- Các ông cứ cho rằng ma quỷ là một thực thể thế nào đó, khác hẳn loài người. Thật ra phần lớn chúng là những vong linh sống ở cảnh giới thứ bảy, thứ sáu mà thôi. Chúng còn lưu luyến cõi trần, còn say mê dục vọng không sao thoát ra khỏi cảnh giới này… Luật thiên nhiên không cho phép chúng trở lại cõi trần, nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt, khiến người cõi trần trong một thoáng giây có thể nhìn thấy chúng…Khoan đã, các ông hãy xem kìa, người bạn của tôi đã làm xong việc.

Hamud chỉ vào góc phòng nơi ông ta để bó len và cây kim đan áo. Mọi người bước đến gần và thấy một chiếc áo len đan bằng tay đã thành hình từ lúc nào không ai rõ. Chiếc áo đan tay rất vụng, không khéo léo nhưng trên ngực có thêu tên giáo sư Mortimer. Vị pháp sư giải thích :

- Con ma này rất nghịch, và thường quanh quẩn ở đây. Tôi yêu cầu hắn đan chiếc áo len cho các ông để làm bằng chứng. Để tránh việc các ông cho rằng tôi làm trò ảo thuật, tráo vào đó một chiếc áo len khác, tôi yêu cầu hắn thêu tên người nào trong phái đoàn có nhiều nghi ngờ nhất. Các ông đều biết rằng từ khi gặp gỡ tôi không hề hỏi tên các ông, và nếu chiếc áo này không đan riêng cho các ông thì còn ai nữa ?

Qủa thế, vị pháp sư gầy gò không thể mặc chiếc áo đan to tướng, rất vừa vặn cho giáo sư Mortimer, một người Âu mà kích thước đã rất ư quá khổ, so với những người Âu khác, đó là chưa kể vòng bụng khổng lồ, rất hiếm có của ông này. Hơn nữa, áo này cũng không thể may sẵn để bán vì đường kim mũi chỉ rất ư vụng về, nếu có bán, cũng chẳng ai muạ Tại nơi hoang vu, không có ai ngoài vị pháp sư và phái đoàn, sự kiện này quả thật rất lạ lùng.

Giáo sư Evans-Wentz thắc mắc :

- Như vậy ông có thể sai khiến ma quỷ hay sao ?

- Tôi không phải là một phù thuỷ, lợi dụng quyền năng cho tư lợi; mà chỉ là một người có rất nhiều bạn hữu vô hình bên cõi âm. Tôi hiểu rõ các luật thiên nhiên như Luân hồi, Nhân quả, và hậu quả việc thờ cúng ma quỷ để mưu cầu một cái gì. Tôi chỉ là một khoa học gia nghiên cứu cõi vô hình một cách đứng đắn. Sự nghiên cứu những hiện tượng siêu hình là một khoa học hết sức đứng đắn, chứ không phải mê tín dị đoạn.

Nhiều người thường tỏ ý chê cười khi nói đến vấn đề ma quỷ, nên những ai có gặp ma, cũng chả dám nói vì sợ bị chê cười hay cho là loạn trí. Nếu người nào không tin hãy nghiên cứu và chứng minh một cách khoa học rằng ma quỷ chỉ là những giả thuyết tưởng tượng, còn như phủ nhận không dám chứng minh chỉ là một cái cớ che dấu sự sợ hãi. Điều khoa học chưa chứng minh được không có nghĩa là điều này không có thật, vì một ngày nào đó, khoa học sẽ tiến đến mức mà họ có thể chứng minh tất cả.

Những phương pháp thông thường như cầu cơ, đồng cốt, thường gặp sai lầm vì như tôi đã trình bày, các vong linh nhập vào phần lớn cũng có kiến thức giới hạn ở cảnh giới nào đó. Đôi khi họ cũng trích dẫn vài câu trong “Thánh kinh”, hoặc sách vở, kinh điển để nâng cao giá trị lời nói, điều này có khác nào những nhà chính trị khi diễn thuyết.

Phương pháp khoa học chính xác nhất là phải tự mình qua hẳn thế giới đó nghiên cứu. Các ông nên biết thân thể chúng ta không phải môi trường duy nhất của linh hồn và giác quan của nó cũng không phải phương tiện duy nhất để nghiên cứu ngoại cảnh. Nếu ta chấp nhận rằng vũ trụ có nhiều cõi giới khác nhau và mỗi thể con người tương ứng với một cõi, thì ta thấy ngay rằng thể xác cấu tạo bằng nguyên tử cõi trần nên chỉ giới hạn trong cõi này được thôi.

Các thể khác cũng có giác quan riêng của nó và khi giác quan thể vía được khai mở, ta có thể quan sát các cõi giới vô hình dễ dàng. Khi từ trần, thể xác tiêu hao, các giác quan không còn sử dụng được nữa thì linh hồn sẽ tập phát triển các giác quan thể vía ngaỵ Nếu biết cách khai mở các giác quan này khi còn sống, ta có thể nhìn thấy cõi âm một cách dễ dàng.

Giáo sư Allen ngập ngừng :

- Nhưng có một quan niệm lại cho rằng, sau khi chết linh hồn sẽ lên thiên đàng hay xuống địa ngục vĩnh viễn, điều này ra sao ?

Hamud lắc đầu :

- Đó là một quan niệm không hợp lý, vì điều này cho rằng khi chết linh hồn sẽ đổi thay toàn diện. Sau khi chết, linh hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện, trở nên một vị thiên thần vào cõi thiên đàng hoặc là linh hồn có thể mất hết các tính tốt để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào địa ngục. Điều này vô lý vì sự tiến hoá phải từ từ, chứ không thể đột ngột được.

Trên thế gian này, không ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử xấu, tốt do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại; tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển hay thui chột, không thể phát triển. Một người tu thân là một người biết mình, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển, giống như người làm vườn lo trồng hoa và nhổ cỏ dại. Thực ra, khi sống và chết, con người không thay đổi bao nhiêu.

Nếu khi sống họ ăn tham thì khi chết, họ vẫn tham ăn, chỉ có khác ở chỗ, điều này sẽ không còn được thoa? mãn vì thể xác đã hư thối, tan rã mất rồi. Sau khi chết, tìm về nhà thấy con cháu ăn uống linh đình mà họ thì không sao ăn được, lòng ham muốn gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao tả được.

- Như ông đã nói, loài ma đói thường rung động theo không khí quanh đó, như thế họ có thỏa mãn không ?

- Khi người sống ăn ngon có các tư tưởng khoái lạc thì loài ma đói xúm quanh cũng tìm cách rung động theo tư tưởng đó, nhưng không làm sao thoa? mãn cho được. Điều này ví như khi đói, nghĩ đến món ăn ngon ta thấy khoan khoái, ứa nước bọt nhưng điều này đâu có thoa? mãn nhu cầu bao tử đâu. Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ sẻ súc vật, lò sát sinh để rung động theo những không khí thô bạo ở đó. Những người giết súc vật trong nhà vô tình mời gọi các vong linh này đến, sự có mặt của họ có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là cho nhũng người dễ thụ cảm.

- Đa số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa, điều này ra sao ?

- Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình ảnh của thể phách đang tan rã, chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể xác hư thối thì thể phách vốn là thể trung gian giữa thể xác và thể vía cũng tan rã theo. Thể phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi trần. Nhưng trong đó có nhiều nguyên tử ‘dĩ tháí, nên nhẹ hơn, nó thu thập các sinh lực còn rơi rớt trong thể xác, để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa. Vì đang tan rã nên thể phách không hoàn toàn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay là là trên các nấm mồ, người không hiểu thì gọi đó là ma. Theo sự hiểu biết của tôi, thì việc thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất, vì để thể xác tan rã từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường ở trong một giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh thấy mình không còn gì quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.

- Ma quỷ thường thuộc thành phần nào trong xã hội ?

- Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục vọng khi còn sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi âm lâu hơn người chết già vì còn nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội, giận hờn và có ý định trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cõi âm xác nhận rằng, “Chính cáidục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau.”

- Số phận của những người quân nhân tử trận thì ra sao ?

- Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lý tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn, vì cái chết cao đẹp là một bậc thang lớn trong cuộc tiến hoá. Họ đã quên mình để chết và sống cho lý tưởng thì cái chết đó có khác nào những vị thánh tử đạo. Dĩ nhiên không phải quân nhân nào cũng sống cho lý tưởng và những kẻ giết chóc vì oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.

- Như ông nói thì người chết vẫn thấy người sống ?

- Thật ra phải nói như thế này. Khi chết các giác quan thể xác đều không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn theo dõi mọi sự dễ dàng vì các giác quan thể vía. Không những thế họ còn biết rất rõ tư tưởng, tình cảm liên hệ; mặc dù họ không còn nghe thấy như chúng tạ Nhờ đọc được tư tưởng, họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.

- Như vậy thì họ Ở gần hay ở xa chúng ta ?

- Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình, bên những người thân nhưng theo thời gian, khi ý thức hoàn cảnh mới, họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình để sống hẳn ở cõi giới của họ.

- Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không ?

- Điều này không có gì khó. Hãy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra nếu hiểu biết thì ta không nên quấy rầy, vì làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát.

Sự chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng ra ngoài, thì nay quay vào trong, linh hồn từ từ rút khỏi thể xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng không còn bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi động các ký ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “hồi quang phản chiếu” (Memory projection). Đây là một giây phút hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cõi bên kia. Sợi dây từ điện liên hệ giữa thể xác và thể phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ý thức để linh hồn rút khỏi thể phách và thể vía bắt đầu lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách xếp lại từng lớp nguyên tử, lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ Ở trong. Sự thu xếp này ấn định cõi giới nào vong linh sẽ đến.

- Ông du hành sang cõi âm thế nào ?

- Nói như thế không đúng lắm, vì ám chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thật ra ở cùng một nơi chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian. Sang cõi âm là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan thể vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cõi âm.

Quan niệm về không gian cũng khác vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngaỵ Khi di chuyển ta có cảm giác như lướt trôi, bay bỗng vì không còn đi bằng hai chân như thể xác.

- Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao ?

- Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê gớm, đa số mọi người thức tỉnh trong cảnh giới thứ năm hoặc thứ sáu, vốn có rung động không khác cõi trần là bao. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, hoang mang nhưng sau sẽ quen đi. Tùy theo tình cảm, dục vọng mà họ hành động.

Tôi đã gặp vong linh của một thương gia giàu có, ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm, ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả cần ai. Ông trở về căn nhà để sống với kỷ niệm xưa nhưng ông buồn vì vợ con ông vẫn còn đó nhưng chả ai để ý đến ông. Họ tin rằng ông đã lên thiên đàng, vì họ đã bỏ ra những số tiền, tổ chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn, một tu sĩ đã xác nhận thế nào ông cũng được lên thiên đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát nhưng ông ta từ chối. Một vài người thân đã qua đời cũng đến tìm gặp, nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ còn ở đó một thời gian lâu cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết.

Tôi đã gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gầy dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận vì không còn ảnh hưởng được gì, họ rất khổ sở khi người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm, tiêu phá cơ nghiệp.

Tôi đã gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ tìm ra, họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi tìm cách hiện về doa. nạt những người bén mảng đến gần nơi chốn dấu.

Vong linh ghen tuông còn khổ sở hơn nữa ; họ không muốn người họ yêu mến chia sẻ tình yêu với kẻ khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người họ yêu mến và người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm gì được nên vô cùng khổ sở.

Như những nhà lãnh đạo, những vua chúa, những người hống hách quyền uy thì cảm thấy bất lực khi không còn ảnh hưởng gì được nữa, nên họ hết sức đau khổ.

Hãy lấy trường hợp một vong linh chết đuối, vì y không tin mình đã chết, nên cứ ở trong tình trạng lúc chết, nghĩa là ngộp nước. Vì đầu óc hôn mê, nên y không nhìn thấy cõi âm, mà vẫn giữ nguyên hình ảnh cõi trần, dĩ nhiên nó chỉ nằm trong tư tưởng của y mà thôi. Nói một cách khác, thời gian như ngừng lại, y cứ thế hôn mê trong nhiều năm. Tôi đã cố gắng thuyết phục nhưng nói gì y cũng không nghe, tôi bèn yêu cầu y trở về nhà, đầu óc y hôn mê quá rồi, nên cũng không sao trở về được.

Nhờ các bạn bè cõi vô hình, tôi tìm được tên tuổi, và địa chỉ thân nhân vong linh. Tôi tiếp xúc với họ và yêu cầu lập một nghi lễ cầu siêu để cảnh tỉnh vong linh. Nhờ sức chú nguyện mãnh lực của buổi cầu siêu, tôi thấy vong linh từ từ tỉnh táo ra, nghe được lời kinh. Y trở về nhà và chứng kiến buổi cầu siêu của con cháu gần 60 năm sau khi y qua đời. Sau đó y chấp nhận việc mình đã chết và siêu thoát…

- Ông cho rằng sự cầu nguyện có lợi ích đến thế sau ?

- Cầu siêu cho vong linh là một điều hết sức quan trọng và ích lợi, vì nó chứa đựng một sức mạnh tư tưởng vô cùng mãnh liệt. Oai lực lời kinh và âm hưởng của nó thật là vô cùng ở cõi âm nếu người ta tụng niệm chú tâm, sử dụng hết cả tinh thần. Tiếc thay, người đời chỉ coi tụng niệm như một hình thức. Họ chỉ biết đọc các câu kinh trên đầu môi, chót lưỡi chứ không biết tập trung tinh thần, nên mất đi phần nào hiệu nghiệm. Sự cầu nguyện có một sức mạnh kinh khủng, có thể dời núi lấp sông, đó là bí huyết khoa “Mật tông Tây Tạng”.

- Như ông nói thì tôn giáo Tây Tạng có hiệu nghiệm nhiều hay sao ?

- Vấn đề cầu nguyện cho người chết không phân biệt tôn giáo và cũng không cần theo một nghi thức, nghi lễ nào nhất định, mà chỉ cần tập trung tư tưởng, hết sức chú tâm cầu nguyện. Theo sự hiểu biết của tôi thì tôn giáo nào cũng có những nghi lễ riêng và nghi lễ nào cũng tốt nếu người thực hành thành tâm.

- Như vậy nghi lễ rửa tội trước khi chết có ích lợi gì không ?

- Một số người tin rằng, hạnh phúc vĩnh cữu của con người tùy thuộc tâm trạng y lúc từ trần. Nếu lúc đó y tin rằng mình được cứu rỗi thì như được một vé phi cơ lên thiên đàng, còn không y sẽ xuống địa ngục. Điều này gây nhiều sợ hãi, lo âu vô ích. Nếu một người chết thình lình thì sao ? Phải chăng họ sẽ xuống địa ngục ? Nếu một tín đồ hết sức ngoan đạo nhưng chết ngoài trận mạc thì sao ? Họ đâu được hưởng nghi lễ rửa tội ?

Sự chuẩn bị hữu hiệu nhất là có một đời sống thanh cao, nếu ta đã có một đời sống cao đẹp, thì tâm trạng khi chết không quan trọng. Trái lại, ta không thể ao ước một tương lai tốt đẹp dù tang lễ được cử hành bằng các nghi lễ to lớn, linh đình nhất.

Dù sao, tư tưởng chót trước khi lìa đời cũng rất hữu ích cho cuộc sống mới bên kia cửa tử . Nó giúp vong linh tỉnh táo, dễ thích hợp với hoàn cảnh mới hơn. Một cái chết thoải mái, ung dung phải hơn một cái chết quằn quại, chết không nhắm mắt được.

Theo tôi thì sự hiểu biết về cõi vô hình, sự chuẩn bị cho cái chết là điều hết sức quan trọng, cần được phổ biến rộng rãi, nhưng tiếc là ít ai chú ý đến việc này.

- Vậy theo ông, chúng ta cần có thái độ gì ?

- Đối với người Âu tây, đời sống bắt đầu khi lọt lòng mẹ, và chấm dứt lúc chết, đó là một quan niệm cần thay đổi. Đời sống cõi trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một vòng tròn mà sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa hai cõi âm, dương, giữa thế giới hữu hình và vô hình. Trên con đường tiến hoá, còn hằng ha sa số các chu ký, các kiếp sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn từ cõi thượng giới cũng phải qua cõi trung giới. Phần ở cõi trần chỉ là một phẩn nhỏ của một kiếp sống mà thôi. Trong chu kỳ này, phần quan trọng ở chỗ vòng tròn tiến sâu vào cõi trần và bắt đầu chuyển ngược trở lên, đó là lúc linh hồn hết tha thiết với vật chất, mà có ý hướng về tâm linh. Các cổ thư đã vạch ra một đời sống ở cõi trần như sau : 25 năm đầu để học hỏi, 25 năm sau để lo cho gia đình, đây là giai đoạn tiến sâu vào trần thế, 25 năm sau nữa phải từ bỏ việc đời để lo cho tâm linh, đó là thời điểm quan trọng để đi ngược lên, hướng về tâm linh, và 25 năm sau chót phải từ bỏ tất cả, chỉ tham thiền, quán tưởng ở nơi rừng sâu, núi thẳm.

Đối với người Á châu thì 50 tuổi là lúc từ bỏ vật chất để hướng về tâm linh, nhưng người Âu châu lại khác, họ ham mê làm việc đến độ mù quáng, cho đến già vẫn tranh đấu hết sức vất vả, cho dục vọng, cho bản ngã, cho sự sống còn, cho sự thụ hưởng . Do đó, đa số mất quân bình và khi chết hay gặp các nghịch cảnh không tốt.

Theo ý tôi, chính vì sự thiếu hiểu biết về cõi âm nên con người gây nhiều tai hại ở cõi trần. Chính vì không nhìn rõ mọi sự một cách tổng quát, nên họ mới gây lầm lỗi, chứ nếu biết tỷ lệ đời sống cõi trần đối với toàn kiếp người, thì không ai dồn sức để chỉ lo cho 1/3 kiếp sống, mà sao lãng các cõi trên. Nếu con người hiểu rằng quãng đời ở cõi trần rất ngắn ngủi, đối với trọn kiếp người và đời sống các cõi khác còn gần với chân lý, sự thật hơn thì có thể họ đã hành động khác đi chăng ? Có lẽ vì quá tin tưởng vào giác quan phàm tục, nên đa số coi thế giới hư ảo này là thật và cõi khác là không có…

- Nhưng nếu ông cho rằng các cõi kia còn gần với sự thật hơn, thì tại sao ta lại kéo lê kiếp sống thừa ở cõi trần làm gì ? Tại sao không rũ nhau đi sang cõi khác có tốt hơn không ?

Hamud mỉm cười :

- Tuy cõi trần hư ảo, nhưng nó có những lợi ích của nó, vì con người chỉ có thể tìm hiểu, và phát triển xuyên qua các rung động thô thiển này thôi. Cõi trần có các bài học mà ta không tìm thấy ở đâu khác. Chính các bậc chân tiên, bồ tát trước khi đắc quả vị đều phải chuyển kiếp xuống trần, làm các công việc vĩ đại như một thử thách cuối cùng. Muốn khai mở quyền năng, con người phải tiếp nhận các bài học ở cõi trần, nhờ học hỏi những bài học này, họ mới trở nên nhạy cảm với các rung động ở cõi trên.
Về Đầu Trang Go down
god
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: linh hồn cũng là một dạng đặc biệt của vật chất” – ông Nguyễn Phúc Giác Hải – Chủ nhiệm bộ môn Thông tin khẳng định.   Sat Apr 16, 2011 6:02 pm


Hình ảnh những vòng tròn sáng xuất hiện trong các bức ảnh chụp mà mắt thường không nhìn thấy cùng với việc NNC Nguyễn Ngọc Hoài chụp lại được ảnh người âm thông qua sự chủ động gọi mời hiện lên trên ĐTDĐ đang là một thành tựu, “một cầu nối giữa Khoa học thực nghiệm và Khoa học tâm linh nó đã chứng minh rằng linh hồn cũng là một dạng đặc biệt của vật chất” – ông Nguyễn Phúc Giác Hải – Chủ nhiệm bộ môn Thông tin khẳng định.

Với năng lực nghe, nhìn, nói chuyện với người cõi âm, các NNC đều công nhận những vòng tròn sáng đã chụp được chính là các vong linh của những người đã khuất. Nhiều nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam cũng như trên thế giới cũng công nhận điều đó. Trước đây, tôi đã có hai bài viết “Người cõi âm là thân trung ấm” giải thích: Vì sao thân trung ấm lại có hình dáng, khuôn mặt và tính cách giống như người mới khuất.

Trong thành tựu mới của kỹ thuật công nghệ hiện nay một vấn đề mới đang được đặt ra: Vì sao những người cõi âm lại hiện hình bằng những vòng tròn sáng? Vì sao những vòng tròn sáng đó lại có độ đậm nhạt, mầu sắc khác nhau như: màu vàng, màu xanh, mầu xám đục…hiện nay vẫn chưa có lời giải thích thuyết phục.

Như một lời đã hẹn trước đây, tự thấy nhân duyên đã đầy đủ, tôi xin được giải thích các hiện tượng này thông qua các Kinh điển Phật giáo. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !

Chụp được ảnh người âm

Trong Tạp chí Gia đình đã có một bài viết về việc chụp ảnh được người âm thông quan việc gọi mời vong hiện lên ĐTDĐ. Nội dung của bài viết như sau: Đầu tháng 2 năm 2010, chúng tôi nhận được thông tin nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài đã chụp được bức ảnh của một linh hồn liệt sĩ mới được quy tập từ nước bạn Lào.

Ngày 27/1/2010, sau hơn một năm tìm kiếm và hàng tuần di chuyển nơi rừng sâu, núi thẳm ở nước bạn Lào, đội quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã đưa được 118 bộ bộ hài cốt liệt sĩ Việt Nam trở về với đất mẹ. Trong chuyến đi đó, nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài cũng đã có mặt cùng với gia đình anh Lương Đoàn Mạnh, con trai của liệt sĩ Lương Xuân Tách, liệt sĩ duy nhất có gia đình nhận về trong đợt quy tập này. Khi cùng với gia đình anh Mạnh đưa liệt sĩ Lương Xuân Tách về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Quảng Ninh, nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài đã đề nghị anh Mạnh gọi cho một người đàn ông tên là Quân, nhà ở Mạo Khê, người có khả năng gọi được linh hồn người đã khuất hiện hình lên chiếc điện thoại cầm tay của anh ta để thân nhân chụp lấy ảnh người quá cố, bởi gia đình cũng không có ảnh để thờ.





Vòng tròn sáng - hay các linh hồn hiện hữu??


Một phần do trước đó, qua một gia đình liệt sĩ khác, nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài đã biết đến một tấm hình liệt sĩ khác do người đàn ông cung cấp nhưng chưa rõ thực hư thế nào, một phần cũng là một nhà ngoại cảm, Nguyễn Ngọc Hoài nuôi hi vọng tiếp cận với khả năng của người này, tìm hiểu và khám phá một sự bí ẩn khác của thế giới tâm linh. Nhà ngoại cảm và anh Quân lên kì đài thắp hương rồi đi xuống mộ liệt sĩ Lương Xuân Tách. Anh Quân lặp lại động tác như trước bàn thờ ở nhà song 10 phút, rồi 20 trôi qua mà không thấy gì. Hơn 20 người khi đó có mặt ở nghĩa trang, ai cũng hồi hộp. Phải tới hơn 40 phút sau, anh Quân lại đặt chiếc điện thoại di động đó xuống mặt trên của ngôi mộ và lầm rầm khấn xin thì bỗng nhiên màn hình điện thoại lóe sáng, chân dung liệt sĩ hiện lên. Tất cả những ai cầm máy ảnh trong tay đều liên tục bấm máy linh hồn liệt sĩ hiện lên không đầy một phút lại mất, màn hình điện thoại lại trở nên tối đen…



Khi chúng tôi đặt câu hỏi, đây có đúng là liệt sĩ Lương Xuân Tách trong tấm ảnh, Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài cho biết thêm, khi liệt sĩ hi sinh, anh Mạnh còn nhỏ nên không nhớ rõ hình ảnh cha mình. Nhưng khi mang tấm hình về quê, mọi người trong họ hành đều xác nhận, người trong bức ảnh đúng là liệt sĩ Lương Xuân Tách. Ngoài bức ảnh chụp trên đây còn có một số ảnh khác chụp được khi người âm hiện lên ĐTDĐ của anh Quân. Thông tin mới nhất, qua anh Quân, chị Hoài đã chụp lại được ảnh 2 vong nữa: một người phụ nữ cổ, một em bé gái. Như vậy đã có 4 tấm ảnh vong mà chị Hoài thu thập được.



Trước đó, Đề tài nghiên cứu về khả năng chụp hình "người âm" đã được đưa vào chương trình nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người. Khoảng 1.000 tấm ảnh đưa về chụp hình "người âm" do ông Nguyễn Phúc Giác Hải, chủ nhiệm bộ môn nắm giữ. Các bức ảnh được thực hiện ở nhiều địa điểm trên đất nước: Đà Lạt, TP.HCM, chợ âm phủ Hà Nội, nghĩa trang Văn Điển, sông Tô Lịch, nhà tang lễ, nhà đề lao Trung ương. Phòng Cảnh sát Giao thông cũng cung cấp cho ông hệ thống các điểm đen giao thông trên địa bàn Hà Nội, tại những điểm này đều chụp được những bức ảnh có vòng tròn sáng. Cùng với đó là rất nhiều bức ảnh bạn bè, các nhà báo từng chụp được cũng gửi về.

Chụp ảnh ''người âm'': Ngẫu nhiên có vòng tròn sáng?

Theo ông Phúc Giác Hải, khi truy cập để tìm tài liệu trên thế giới, ông cũng đã bắt gặp rất nhiều trang web giới thiệu về những vòng tròn sáng như vậy. Họ gọi những vòng tròn này là orbs, có nghĩa là những vòng tròn. Để chứng minh rằng các "vòng tròn ánh sáng" là những linh hồn, chúng tôi đã đề nghị một số nhà ngoại cảm thử chụp ảnh “người âm”. Khi đó, khuôn hình chỉ có những vòng tròn ánh sáng. Và khi nhà ngoại cảm đề nghị các vong tránh ra, những tấm ảnh tiếp theo chỉ còn rất ít những vòng tròn.



Vì sao thân trung ấm là một vòng tròn phát sáng

Một trong những thành tựu về khoa học hiện nay mà con người đã đạt được đó là chế tạo ra máy móc hiện đại phát hiện sự phát sáng của cơ thể con người mà mắt thường không nhìn thấy được. Quầng sáng đó được gọi là vòng hào quang, có liên quan đến các trạng thái tâm lý và tình trạng sức khỏe của con người.

Thực chất vầng hào quang bao quanh cơ thể người là những biểu hiện trường sinh học của các cơ quan. Theo tiến sĩ khoa học Isakov (Liên Xô cũ), vầng hào quang hay vỏ trường sinh học có 3 lớp chủ yếu liên hệ chặt chẽ với nhau. Lớp đầu tiên gần cơ thể người nhất, có hình dạng tương tự cơ thể, giống như "lớp áo giáp" bọc ngoài. Ra xa dần, nó có hình dạng như quả trứng, xa hơn nữa thành hình tròn và tỏa rộng ra mãi vô tận.

- Phần hồn là phần năng lượng của ý thức, tư tưởng của một con người. Các nhà khoa học đã khám phá và khẳng định, ý thức tư tưởng tình cảm con người cũng là một thứ vật chất mang tính hạt và sóng do một loại hạt nguyên tử siêu nhẹ cấu tạo nên. Lớp này bền vững hơn cả và mang sắc độ từ màu vàng đến màu xanh da trời.

- Lớp thứ hai dễ thấy hơn, phản ánh trạng thái tình cảm buồn vui giận hờn của con người qua những màu sắc khác nhau của vầng hào quang.

- Lớp thứ ba liên hệ chặt chẽ với trạng thái sức khỏe. Đây là lớp trường sinh học mà các nhà y học năng lượng, các nhà khí công yoga, ngoại cảm thường quan sát để chẩn đoán bệnh và điều trị.

Nhờ các thiết bị kỹ thuật lượng tử siêu dẫn, hệ thống kính màu đặc biệt, mắt kính có chứa dung dịch Tritanlomin hoặc bằng khả năng thấu thị, người ta có thể thấy hình dáng, màu sắc và kích thước của các lớp vỏ hào quang này.

Trường sinh học hay còn gọi là hào quang là biểu hiện của tâm thức là ý thức tư tưởng, vui buồn, yêu thương giận hơn và sức khoẻ bệnh tật của con người.

Khi con người mất đi thì thể xác không còn, nhưng tâm thức vẫn còn nguyên vẹn. Cuốn Sự sống sau cái chết (Life after life) của Raymond A. Moody đã dẫn ra nhiều trường hợp những người đã trải qua trạng thái cận tử (Near Death Experiernce - NDE). "Tôi thoát ra khỏi thể xác của mình và tôi quan sát nó từ cự ly cách đó khoảng 10m, nhưng ở đó tôi vẫn có khả năng suy nghĩ giống như bình thường”. Các cuộc trò truyện của các NNC với thế giới người âm cũng chứng tỏ thân trung ấm không có thay đổi gì nhiều về tính cách, vì vậy mà trường sinh học vẫn tiếp tục tồn tại.



Như phân tích ở trên sau khi thân xác con người mất đi thì chỉ có vầng hào quang thứ ba (biểu hiện của sức khoẻ) con người mất đi còn hai vầng hào quang biểu hiện cho tư tưởng, trạng thái tình cảm của con người sẽ không mất vì tâm thức của con người vẫn tồn tại. Các nhà y học năng lượng chẩn đoán bệnh bằng chiều dầy của của vòng hào quang đã phân tích. Nếu chiều dày đạt 40-60 cm thì sức khỏe bình thường. Nếu thấp hơn 30 cm là mất cân bằng năng lượng nghiêm trọng. Nếu chỉ còn 10-15 cm thì ở tình trạng ngất, bất tỉnh. Nếu con người mất thân xác thì hào quang sẽ thu nhỏ rút vào thể vi tế.

Dựa vào những thành tựu khoa học hiện nay về công nghệ kỹ thuật chụp hình và sự phát hiện phân tích của các nhà khoa học đối với các vòng hào quang con người có thân xác, ta có thể khẳng định những vòng tròn sáng chính là vòng hào quang của các vong linh người đã mất. (!?) Cuốn Sự sống sau cái chết có đoạn, sau khi thoát chết và trở lại cuộc sống một số người đã kể rằng, họ đã biến thành một vòng tròn ánh sáng : "Khi tim tôi ngừng đập... tôi cảm thấy như mình là một quả bóng tròn hoặc một hình cầu nhỏ. Tôi không thể nào mô tả được nó".

Trước đây, chỉ có những người tu thiền định mở được ngũ nhãn mới có thể nhìn thấy được vầng hào quang xunh quanh con người, thấy được các cõi giới khác… Ngày nay với những thành tựu khoa học về công nghệ máy móc, con người đã có thể nhìn được vầng hào quang này thông qua những bức hình chụp. Không những thế người ta còn có thể nhìn thấy, nghe thấy thế giới người âm bằng những phương tiện kỹ thuật hiện đại.

Sự tồn tại của thế giới phi vật thể, ở đó có năng lượng tế vi. Chuyện các NNC nhìn thấy, nghe thấy và nói chuyện được với người âm không còn xa lạ đối với mọi người. Khi đã khẳng định sự hiện hữu, tồn tại của thế giới phi vật thể thì những giáo lý nhà Phật như : luân hồi, lục đạo, pháp giới, Tam thiên đại thiên thế giới…sẽ dần dần sáng tỏ và được chứng minh một cách thuyết phục.

Soi rọi từ trong các kinh điển Phật ta thấy, vầng hào quang phát sáng xung quanh các đức Phật, Bồ tát… thường được nói rất nhiều trong Tam tạng kinh Phật là biểu tượng về Trí tuệ và lòng Từ bi của các ngài. Để đi đến quả vị cao trong thiền định, người tu hành phải vào được Cửa không tức là vào chân tâm (Phật tính). Khi đạt được đến mức đó thì hào quang quanh cơ thể sẽ tự phát sáng rực rỡ mắt thường có thể nhìn thấy.
Trong cuốn Tử Thư (Bardo Thodon) có ghi : “Bốn luồng hào quang đại diện cho Phật đó là Phật trí hào quang trắng từ Phật Đại Nhật. Đại viên cảnh trí , Phật Bất Động hào quang màu xanh biếc. Bình đẳng tánh trí , Phật Bảo Sanh hào quang sắc vàng. Diệu quan sát trí, hào quang sắc đỏ”.



Trong nhiều trường hợp cận tử cái chết trở về, nhiều người đã kể lại rằng, họ thấy mình như rơi vào một đường hầm tối đen và cuối đường hần là ánh sáng chói loà. Thực tế ánh sáng mà người cận tử cái chết chứng thấy đó chính là chân tính hay còn gọi là pháp thân thường trụ….là đích mà các hành giả tu thiền hướng tới. “Giờ đây pháp thân đang chiếu sáng rực rỡ trước mắt ngươi, hãy nhận biết rõ. Giờ đây thức của ngươi đang trở về bản tính chân như, rỗng không vắng lặng, vô ngã, vô tướng, không màu sắc. Không âm thanh…Nó chính là thân bất hoại. Sắc và không không rời nhau trong dạng hào quang rực rỡ, vô sinh, vô tử. Đó cũng chính là Phật tính” (Bardo Thodon).

Theo Tử Thư (Tây Tạng) tất cả con người sau khi chết đều trở về chân tâm tức là vô ngã, vô tướng, không mầu sắc có hào quang rực rỡ như các vị Phật. Nhưng vì sao những hương linh (thân trung ấm) lại có vòng tròn sáng đậm nhạt, mầu sắc khác? Việc phân tích mầu sắc của các vòng tròn sáng sẽ làm sáng tỏ được rất nhiều vấn đề trong kinh điển Phật. Vì sao chúng ta phải tu thiền, vì sao chúng ta phải tái sinh theo nghiệp…?

Phần 2 – Vì sao các vòng tròn sáng có độ đậm nhạt và màu sắc khác nhau.

Nếu quan sát kỹ các vòng tròn sáng ta sẽ thấy sự khác nhau về độ đậm nhạt và về mầu sắc. Có vòng tròn thì sáng trắng, trong suốt. Có vòng tròn thì mờ mờ có hình dáng khuôn mặt người, có vòng tròn mầu xanh nước biển, có vòng tròn màu vàng, có vòng tròn mầu tím, máu xám khói… Theo cách giái thích của các NNC, sở dĩ có sự khác biệt đó là do linh hồn ở những cấp độ khác nhau. Từ mức các vong lang thang đến mức cao hơn. Các linh hồn lang thang đều ở gần mặt đất. Còn các vòng ánh sáng ở trên cao là những "thiên thần", có nghĩa là những linh hồn đã được nâng lên ở mức độ cao hơn.



Trước khi giải thích vần đề này, chúng ta đi sâu một chút về vầng hào quang xung quanh con người, khi thần thức còn sống trong thân xác. Theo một số tư liệu khoa học thì thực tế vầng hào quang xunh quanh con người không chỉ có 3 vòng mà có đến 6 vòng. Nhưng có 3 vòng chính, đặc trưng cho ý chí, tư tưởng, cảm xúc và tình trạng sức khoẻ. Phân tích mầu sắc 2 vầng hào quang thuộc về tâm thức con người ta sẽ thấy nó có những biểu hiện như sau :

- Vầng thứ nhất của hào quang sáng có màu đỏ đẹp biểu hiện ở những người cương quyết đấu tranh và quyền lực, màu đỏ đẹp và sáng chói biểu hiện ở những người vạm vỡ mạnh khỏe, ý chí mạnh mẽ.

- Vầng thứ hai của hào quang liên hệ đến các tình cảm hay cảm xúc. Màu vàng rực rỡ như mây thể hiện những tình cảm sâu đậm, lạc quan yêu đời . Những màu sắc tối hơn thể hiện những cảm xúc tiêu cực, bi quan chán nản. Màu xẫm thể hiện sự cáu ghét, ganh tỵ...

Khi con người yêu thương, hào quang xuất hiện những sóng màu xanh dịu dàng. Nếu con người đố kỵ, ghen ghét hào quang có màu xanh lục tối. Hào quang của sự keo kiệt. bủn xỉn sẽ trở nên thô ráp và sắc nhọn.
Qua phân tích vầng hào quang của các nhà khoa học ta thấy, tư tưởng, trạng thái cảm xúc của con người chính là nguyên nhân tạo ra sắc màu và các biến động thay đổi của sắc hào quang. Khi con người chết đi, vầng hào quang của thần thức (thân trung ấm) cũng thay đổi và biến động như khi nó còn trong thân xác người. Những biến động của tư tưởng, cảm xúc mà cở sở của nó chính là sự chấp hữu của thân trung ấm sẽ đẩy thần thức về 6 nẻo đường tái sinh.

Đại đức Lạt ma Chogyam Trungpa Rinpoche khi phân tích cuốn Tử Thư (Tây Tạng) có viết: “Sau khi 4 yếu tố đất, nước, lửa gió đoạn diệt, thần thức có cảm giác trống rỗng hoặc thanh thản, đồng thời mất khả năng tập trung, tất cả bị cái không xâm chiếm. Sau đó là pháp thân thường trụ hiện ra, thật ra là lúc đạt đến chân tâm… Chính từ chân tâm không sinh không sinh diệt này nghiệp lực sẽ bắt đầu xuất hiện dẫn dắt thần thức đi vào đời sống mới. Nếu thần thức lưu trú trong chính niệm, nhất tâm trong thiền định thì pháp thân sẽ xuất hiện. Còn nếu thần thức bị năng lực nghiệp báo dẫn dắt, thần thức sẽ xa dần pháp thân thường trụ. Lúc đó một tâm niệm chấp hữu khởi lên, tuỳ theo mức độ chấp hữu, thần thức sẽ đi vào những cảnh giới khác nhau trong sáu cõi luân hồi. Vì vậy chính năng lực chấp hữu là động cơ thôi thúc thần thức đi vào lục đạo”.

Chính sự mong cầu mà thân trung ấm được hình thành. Chính sự chấp hữu mà thân trung ấm bị đẩy về các cảnh giới tương ứng với các tâm thức trong lục đạo. Nguồn gốc của sự chấp hữu chính là tham, sân, si. Một vọng niệm khởi lên tạo ra một sắc màu, nhiều vọng niệm khởi lên tạo ra vầng hào quang có nhiều sắc màu. Thần thức thiên về ý nghĩ nào, cảm xúc nào thì sắc màu hào quang sẽ thiên về sắc màu đó. Có khá nhiều vòng tròn sáng có sự pha tạp các màu sắc khác nhau, nhưng luôn có sắc màu chủ đạo.

Chính sắc màu này sẽ quy định thần thức sẽ tái sinh về cảnh giới nào. Vì sao như vậy ? Trong Tử thư Tây Tạng có ghi: “Sáu ánh sáng của sáu nẻo lục đạo bắt đầu xuất hiện, nếu ngươi thác sinh cõi nào thì ánh sáng của cõi đó sẽ chiếu sáng nhất. … Ngươi muốn hiểu về ánh sáng đó chăng? Cõi trời có ánh sáng mầu trắng, cõi atula có ánh sáng mầu đỏ, cõi người có ánh sáng màu xanh, cõi súc sinh có ánh sáng màu xanh lục, cõi ngạ quỷ có ánh sáng màu vàng, cõi địa ngục có ánh sáng màu khói xám. Đó là sáu loại ánh sáng. Trong lúc này thân người tự nhiên có ánh sáng của của cõi mà ngươi sắp thác sinh.”

Những luận điểm được ghi trong Luận Vãng Sinh (Tử Thư – Tây tạng) thật là chuẩn xác, thật là tuyệt vời và logic. Khi khoa học đã phát hiện ra được những sắc hào quang của thân trung ấm nó đã làm sáng tỏ ra được nhiều vấn đề. Vì sao thế giới luân hồi có nhiều cõi? Vì sao con người bị kéo vào các cảnh giới lục đạo. Do sắc hào quang sinh ra từ tư tưởng, cảm xúc của thân trung ấm đã tương thích với các sắc màu của lục đạo nên con người cứ phải tái sinh luân hồi.

Kinh điển Phật nói, Luân hồi là do nghiệp báo. Vào cảnh giới nào là do tự con người dẫn dắt mình vào chẳng thể có đấng thần linh nào tác động. Sáu màu của lục đạo: màu sáng trắng (trời), mầu đỏ (Atula), màu xanh biển (người), màu xanh lục (ngạ quỷ), màu vàng (ngạ quỷ), màu xám khói (địa ngục) là cảnh giới lôi kéo những thần thức có sắc màu tương hợp với nó.



Đi sâu hơn nữa, Đại đức Lạt ma Chogyam Trungpa Rinpoche sẽ diễn giải cho chúng ta thấy nghiệp cảm của các chúng sinh trong lục đạo: “Chính từ chân tâm không sinh không sinh diệt này nghiệp lực sẽ bắt đầu xuất hiện dẫn dắt thần thức đi vào đời sống mới…”

- Địa ngục là cảnh giới có mức độ chấp hữu lớn nhất. Khi thần thức khởi lên ý niệm căm ghét. Sự căm ghét làm thần thức muốn gây khổ cho ai đó, nhưng không có ai là đối tượng nên quay lại làm khổ chính mình. Vừa khởi tâm muốn đánh đập ai đó thì hành động đánh đập đã quay lại hành hạ chính thân mình.

- Ngạ quỷ là cảnh giới trong ý niệm khởi lên sự thèm khát và ganh tỵ. Luôn thèm khát muốn được nhiều hơn nữa. Từ đó dẫn đến cảm giác sự săn đuổi cảm giác thích thú về tâm trạng săn đuổi đó.

- Súc sinh là cảnh giới cảm giác sự thiếu vắng hỷ lạc và tâm thức hài ước. Có cảm giác hạnh phúc, đau khổ nhưng không hề biết cười. Thường nhắm mắt đi theo một quan điểm cực đoan nào đó không suy xét không thay đổi. Mỗi một điều lạ, mỗi một sự thay đổi là một tai hoạ và là nguyên nhân gây sự sợ hãi, hỗ loạn dữ dội.

- Người là cảnh giới của sự khát khao tìm tòi khám phá và hưởng thụ. Người mang dấu ấn của cả hai cõi súc sinh và ngạ quỷ nhưng có sự khôn ngoan, thường xuyên suy xét tìm tòi không ngừng nghỉ.

- Atula là cảnh giới có trình độ tri thức cao hơn khôn ngoan, nghi ngờ và luôn tìm cách thằng cuộc. Âm mưu xảo quyệt, khôn ngoan gian hùng chuyên toan tính những chuyện lớn lao liên quan đến toàn xã hội.

- Trời là cảnh giới của sự khởi niềm vui hỷ lạc và luôn muốn giữ niền vui đó trong trạng thái thiền định. Thích sâu lắng, an lạc… trong trạng thái tự ngã.

Tử Thư Tây Tạng cũng có ghi, hào quang có ánh sáng cực mạnh và rực rỡ là pháp giới của các vị chư Phật, Bồ tát. Còn ánh sáng yếu là của 6 cõi của lục đạo luân hồi. Khi con người còn mang nghiệp chướng, chưa tu thiền định thì dù có muốn nhập thân vào pháp giới của các vị Phật, Bồ tát cũng không thể vì sắc màu và cường độ của hào quang người phàm không tương thích với thề giới giải thoát. Hào quang của những bậc chân tu luôn sáng trắng và rực rỡ.

Những vòng tròn sáng mà chúng ta thầy được qua những bức hình cũng có khá nhiều vòng tròn sáng trắng. Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều vòng tròn có ánh sáng mờ và có các màu sắc xanh, vàng nhạt, màu tím khói…Nhiều vòng tròn có khuôn mặt và hình dáng con người.

Thông thường, những người chết trẻ, chết vì tai nạn, những người còn bám chấp vào cuộc sống dương thế mạnh do năng lượng sóng vật chất của thần thức lớn nên thân trung ấm hiện hình rất rõ. Đôi khi mắt thường cũng nhìn thấy được. Khi sự chấp hữu quá lớn sắc sáng của các vòng tròn sáng sẽ yếu thường có màu xám khói đục. Vị hoá thân Lạt ma Lobsang Ramp cho rằng, chỉ khi nào thể phách tức là thân trung ấm tan rã thì con người mới có thể siêu thoát và tái sinh được.

Như vậy, qua những màu sắc của các vòng tròn sáng ta sẽ biết được vong linh nào nào sẽ sinh vào cảnh giới nào. Hai hình ảnh người âm chụp được trên ĐTDĐ của Liệt sĩ Lương Xuân Tách và Liệt sĩ Lê Xuân Hạc cũng có những sắc màu chủ đạo không giống nhau. Điều đó cũng có nghĩa là màu sắc vầng hào quang của hai thần thức cũng đã được máy chụp ghi lại được chứ không phải màu nền của ĐTDĐ.

Trong cuốn Tử Thư Tây Tạng ghi, khi con người mất thân, tâm thức sẽ sáng suốt gấp 9 lần so với thông thường. Con người lưu lạc trong thề giới âm bằng tâm tưởng. Bất kỳ ý niệm nào khởi lên nó sẽ tức khắc thành hiện thực.

Khi buồn vui, cáu giận… hay nghĩ đến đâu, đến ai thì lập tức ta sẽ ở ngay đó. Nếu con người cứ trôi theo những suy nghĩ, cảm xúc của mình thì nghiệp thức sẽ dẫn dắt chúng ta về các cửa tái sinh theo quy luật nhân quả. 10 pháp giới sẽ mở ra khi con người mất thân xác, bước vào thân trung ấm. Tâm thức tương ứng với cảnh giới nào thì sẽ thác sinh về cõi giới đó. Khi đã hiểu rõ được sự vận hành của Thân trung ấm, để không bị lôi vào 3 đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh), vượt sáu nẻo luân hồi hay khép cánh cửa tái sinh, con người không có phương cách nào khác là phải tự chuyển hoá tâm thức của mình.

Để chuyển đổi được tâm, người phàm ngoài những việc làm điều thiện, tránh điều ác cần phải tu thiền định và trì tụng Kinh, Chú. Chỉ có qua thiền định con người mới kiểm soát được tư tưởng, cảm xúc và trừ diệt được các vọng tưởng. Đạo Phật là đạo của Tâm, dù Pháp Phật có đến 84 ngàn phương tiện thì mục đích cuối cùng chính là chuyển hoá tâm. Tâm chấp hữu là tâm phân biệt (chấp ngã, chấp tướng, chấp pháp…) là tâm phiền não. Khi tâm khởi niệm là tác tạo nhân. Người thiền định đạt đến sự rỗng lặng, như như bất động khi rời bỏ thân xác do không còn vọng niệm, không có sự mong cầu nên không hình thành thân trung ấm.

Do Thân trung ấm không hiện hữu, không có sự ngăn ngại nên siêu thoát nhập cảnh giới mới rất nhanh. Khi đã vào được cửa Không, nhập vào pháp thân thường trụ thì thì cánh cửa tái sinh sẽ khép lại. Không sanh không diệt. Khám phá ra thế giới thân trung ấm, chúng ta hiểu sâu được thêm về Tướng không trong Kinh Bát nhã Ba la mật đa ở hệ quy chiếu khác: “Xá Lợi Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức vô nhãn, nhĩ tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương vị, xúc, pháp: vô nhãn giới, nại chí vô ý thức giới, vô vô minh diệt, vô vô minh tận, nại chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ tập, diệt, đạo, vô trí diệt vô đắc, dĩ vô sở đắc cố”.

Vì sao, các vị Alahan, Bồ tát, chư Phật giải thoát được sinh tử, vì họ đã nhập vào được cảnh giới “Pháp thân thường trụ” không pháp, không tướng, không ngã. Vì không có thân nên tâm không ngăn ngại, không sợ hãi, xa rời mộng tưởng điên đảo, đạt được cứu cánh Niết bàn. Trên con đường tiến vào Cửa Không, trong thời kỳ mạt pháp nếu chỉ trông cậy vào sức lực bản thân con người là rất khó. Vì nghiệp chướng vô lượng kiếp sâu dầy, phải chụi nhiều tác động của các thế giới siêu hình khác…

Để có thêm sự hộ trì, gia hộ (tha lực) của các chư vị chư Phật, Bồ tát, con người cần phải trì tụng Kinh, Chú Phật. Đối với người hành thiền, khi 6 cửa giác quan (xúc, nhãn, nhĩ…) đóng lại thì vọng tưởng từ quá khứ sẽ trỗi dậy. Trì tụng kinh Phật không chỉ làm cho tâm bất loạn mà còn tiêu tan được nghiệp chướng, giúp trí tuệ tăng trưởng, không bị các thế giới ma đạo quấy nhiễu…



Càng đi sâu vào Phật đạo, chúng ta càng hiểu sâu sắc thêm về con người, về vũ trụ. Có lẽ sự vi diệu, thâm sâu của triết lý nhà Phật sẽ được chứng thực khi khoa học thực nghiệm tâm linh chứng minh được những điều mà pháp Phật đã nói là đúng.

Phật pháp vốn siêu vượt thời gian, siêu vượt các tôn giáo khác là vậy.

Về Đầu Trang Go down
ADMIN
ADMIN_Q9A1
ADMIN_Q9A1
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 106
From : GREAT HEAVEN
Hobbies : MONEY
Registration date : 16/08/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Sự khác biệt giữa nghiệp và số mệnh ?   Mon Jun 20, 2011 9:42 am



Lý thuyết nhân quả trong triết học Phật giáo và trong học thuyết siêu nghiệm của Kant
29/05/2011 19:31 (GMT+7)




Lời bạt: Bài viết vừa được hoàn tất khi tin trận động đất và sóng thần tại vùng Fukushima Nhật Bản cùng với những thảm hoạ liên quan đến lò nguyên tử Fukushima được loan báo trên thế giới. Cảnh tàn phá và nỗi lo sợ mồn một xót xa trên màn hình. Liên cảm về khổ nạn làm nhói tim bởi kinh hoàng và bàng hoàng.
Sự tình cờ (có lẽ không hẳn là tình cờ) bỗng thành thời sự: chính bài viết đang đặt vấn đề ý nghĩa chữ KHỔ như là nền tảng của Đạo đức học Phật giáo, trong chừng mực tìm lại bản chất đích thự của thái độ đạo đức. Trước tai hoạ do thiên nhiên và do chính con người,”KHỔ” đang càng lúc trở nên phổ quát không những cho con người mà cho cả thế giới chúng sinh. Câu hỏi “Làm thế nào để thoát khổ?” trở nên đòi hỏi bức thiết cần phải thay đổi lối sống, cách sống thế nào để được an lành.
Những suy nghĩ trong bài viết này- dù chưa thấu đáo hết mọi khía cạnh- xin hướng về những nạn nhân của thảm hoạ kép với chia xẻ và cầu nguyện an lành.

Huế tháng 3/2011

Nhà nghiên cứu Phật học K.SCHMIDT1 đã có lần nêu lên những điểm tương đồng giữa tri thức luận của Kant và của Phật học, ông phát biểu rằng dù hai nhà tư tưởng lớn sống cách nhau hơn ngàn năm nhưng lời giải của họ lại gặp gỡ nhau, bởi vì cho mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng mà thôi.

Bài viết sẽ trình bày những nét khác biệt giữa đạo đức học Phật giáo và đạo đức học của Kant khởi từ lý thuyết nhân quả.Từ đó ta có thể thấy được dù đi hai con đường khác nhau, từ hai lối nhìn và cách đặt vấn đề khác nhau, hai hệ thống tư tưởng này có thể gặp nhau trên những điểm cơ bản về ý nghĩa cũng như nội dung của thái độ đạo đức.

I.Tương quan nhân quả trong lý thuyết siêu nghiệm của Kant:

Kant phân biệt định luật nhân quả lý thuyết và định luật nhân quả thực hành. Định luật nhân quả lý thuyết còn được gọi là nhân quả tự nhiên: Tất cả những hiện tượng trong thiên nhiên đều nằm trong liên hệ nhân quả và cùng nằm trong qui luật định mệnh (Determinismus). Định mệnh ở đây trước hết có nghĩa, mọi “quả” đều có “nhân”, và nguyên nhân ấy nằm ngoài “quả”, định đoạt cho quả phát sinh. Quả thành tựu do nhân nhưng khác với nhân.

Theo quan niệm thực nghiệm hàng ngày: củi là nguyên nhân của lửa, cơm là quả của gạo và nước+ hơi nóng, lửa là nguyên nhân của vết cháy bỏng trên da v.v.

Kant gọi qui luật này là qui luật nhân quả thiên nhiên (natural) và xếp nó vào lãnh vực lý thuyết tri thức. Khác với triết gia thường nghiệm D. Hume2, Kant cho rằng định luật nhân quả có tính phổ quát tiên thiên chứ không phải là kết quả của sự quan sát những kinh nghiệm lặp lại thường ngày. Tính tiên thiên phổ quát này có từ giác tính linh hoạt của con người. Tuy nhiên định luật nhân quả tự nhiên chỉ áp dụng cho thế giới sự vật và con người như là những hiện tượng. Trên bình diện tri thức luận, con người cũng như tất cả mọi sự vật hay sinh vật trong thiên nhiên đều được đặt định, được chỉ định, tự nó không thể tự đặt định, tự thoát ra khỏi tương quan nhân quả tự nhiên. Tất cả mọi sinh và sự vật đều chỉ là hiện tượng (phaenomen), chứ không phải là vật tự thân (Noumenon, Ding an sich). Trước hết, con người không định đoạt được sự xuất hiện của nó trên thế gian. Sự ra đời, hiện hữu của con người là do cha mẹ tác thành, quả ấy trở thành nhân và quả tiếp theo.Như thế sự sinh thành của con người cũng như của mọi sinh vật trên thế gian đều do những yếu tố (người và vật) khác quyết định chứ chính con người không thể can thiệp được. Do đó, theo Kant, trên bình diện lý thuyết con người bị trói buộc trong nhân quả, chịu nhận qui luật tự nhiên, con người bị động trong tương quan nhân quả.





Nhưng con người, theo Kant, khác với những sinh vật trong thiên nhiên, lại có thể tự mình sáng tạo, thay vì trong thế thụ động làm “quả” và “nhân” hiện tượng, con người có thể trở nên là một nguyên nhân độc lâp, vượt khỏi qui luật đặt định tự nhiên. Trên bình diện hành động thực tiễn, con người là kẻ tác tạo hành động, nhất là hành động đạo đức. Bản chất của đạo đức là tự chủ, là khởi động, không bị động. Theo Kant, hành động đạo đức thật sự- khác với tri thức lý thuyết,- nằm trong tính tự chủ, tự nguyện, không bị ép buộc, không chịu sự tác động ngoại tại. Độc lập với tác động bên ngoài, con người, khi hành động đạo đức, hoàn toàn tự do quyết định hành động ấy. Với ý chí tự do sáng tạo, con người trở nên kẻ xây dựng qui luật đạo đức.

Trong hệ thống triết học siêu việt(Transzendentalphilosophie) của ông, Kant phân biệt hai lãnh vực: lãnh vực của thế giới cảm quan và lãnh vực thế giới giác tính. Ông cho rằng hành động đạo đức của con người không phụ thuộc vào thế giới cảm quan - bởi vì thế giới cảm quan là thế giới bị động (ví dụ cảm giác nóng lạnh tùy thuộc vào đối tượng tác động lên giác quan của con người) mà thuộc vào lãnh vực của giác tính, của linh hoạt tự động, của tự giác. Do đấy con người có thể thiết lập cho mình một tương quan nhân quả đặc thù: chính con người làm ra qui luật hành động cho chính mình. Qui luật đức lý này có nền tảng trong ý niệm tự do. Từ đó con người là nguyên nhân tác tạo. Căn cứ vào qui luật đạo đức, con người có thể đưa ra một qui luật có tính phổ quát cho mọi hành động đạo đức.

Qua khái niệm tự chủ và tự do trên bình diện đạo đức, con người thoát khỏi qui luật tương quan nhân quả đang chế ngự thế giới tự nhiên, và hoạt động trên bình diện tương quan nhân quả của lý tính thực tiễn. Chính sự tự do này bảo đảm một thứ nguyên nhân mới trong hành động đạo đức và nâng con người lên ngang hàng với khái niệm chủ thể tuyệt đối trong triết học Tây phương: ý niệm Thượng đế.

Khái niệm “tự do” làm nên điểm đặc thù của lý tuyết nhân quả do con người và cho con người trong hệ thống triết học của Kant.

Trong lúc trên bình diện lý thuyết tri thức, tương quan nhân quả là phạm trù tiên thiên (một thứ đặt định tiền nghiệm), trong đo con người là một mắc xích bị động trong chuỗi nhân quả, thì trên bình diện hành động thực tiễn, con người quyết định hành động của mình và là nguyên nhân sáng tạo nên một thế giới theo qui luật đức lý.

Kant cho rằng điểm cách mạng tiêu biểu trong triết học của ông không chỉ nằm trong lý thuyết siêu việt mà tác phẩm.”Phê phán lý tính thuần tuý” đã dày công xây dựng, mà nằm trong tác phẩm thứ hai “Phê phán lý tính thực tiễn”. Trong tác phẩm này, như ông đã hứa hẹn sau khi công bố tác phẩm thứ nhất, Kant muốn trả lại cho con người quyền tự chủ và sáng tạo như là chủ thể hành động đạo đức, ý niệm con người hầu như tương đương với ý niệm Thượng đế, ngược với thân phận giới hạn của nó trong tương quan nhân quả thiên nhiên.

Đây cũng chính là lý do tại sao khi tác phẩm “Phê phán lý tính thực tiễn” ra đời, Kant đã bị giới nghiên cứu thần học và tập thể nhà thờ của thời ông phê phán gắt gao, và ông đã bị xem là kẻ vô thần. Những kẻ ủng hộ ông vừa ngạc nhiên vừa lo sợ trước tư tưởng táo bạo của ông. Quả thật trong đời sống thường nhật, Kant không bao giờ đi nhà thờ và đã là một trong những học giả khai sáng thế kỷ 18 phê phán giới lãnh đạo nhà thờ triệt để nhất ở điểm, tuân theo giáo điều là giết chết tính tự chủ và sáng tạo trong hành động đạo đức, sai khiến con người trở nên nô lệ cho quyền lực siêu nhiên (tiêu biểu trong tiểu luận “Khai sáng là gì?”) là vi phạm quyền tự chủ, bóp chết sự trưởng thành của con người

Tuy nhiên tư tưởng cách mạng của ông vẫn còn chịu ảnh hưởng của tuyền thống tư tưởng đương thời. Prometheus, kẻ đánh cắp lửa trên trời đem về thế gian cuối cùng vẫn bị trừng phạt. Kant không bị trừng phạt, bởi vì chính ông tự nguyện công nhận ngoài ý niệm Tự do, ý niệm Thượng đế và linh hồn bất tử là những định đề hướng dẫn hành động đạo đức con người.

II Những dị biệt:

Chúng ta biết, trước Kant hơn nghìn năm, Đức Phật đã đem hi vọng và trả lại giá trị của con người với lời dạy rằng trong chuỗi luân hồi nhân quả “Mỗi người là Phật đang thành” và Phật tính nằm trong mỗi một con người. Cần phải hiểu như thế nào về lý thuyết nhân quả của Phật giáo như là nền tảng của hành động đạo đức?

Trước khi triển khai lý thuyết nhân quả Phật giáo trong viễn tượng giải phóng con người ra khỏi chuỗi luân hồi trói buộc, cần nêu lên những dị biệt trong lý thuyết về tương quan nhân quả của Kant từ những trình bày trên.

1. Tính nhị nguyên trong tư tưởng của Kant hầu như được hoàn hảo khi ông cho rằng có hai lãnh vực tương quan nhân quả: lãnh vực tự nhiên cho thế giới hiện tượng (phaenomen), trong đó con người như một hiện tượng bị động, được đặt định do những nguyên nhân bên ngoài (trong đó có vai trò sáng tạo của Thượng đế), và lãnh vực tương quan nhân quả trong hành động đạo đức thực tiễn, trong đó con người là chủ thể tự do sáng tạo, làm nên qui luật hành động cho chính mình. Lý thuyết về hai tương quan nhân quả, tự nhiên (naturell) và nhân bản (human) tiêu biểu cho tư tưởng nhị nguyên nói trên.

Con người, theo Kant, là một thực thể gồm hai yếu tính: con người bị qui định trong giới hạn hiện sinh, trong thế giới của cảm nghiệm giác quan, nhưng lại tự do trong thế giới giác tính, linh tri (intelligent). Cả hai yếu tố này không khai trừ lẫn nhau.

Bình diện thế giới cảm quan bao gồm tất cả sự vật nằm trong kinh nghiệm khả thể của chúng ta. Có nghĩa thế giới này là thế giới của hiện tượng (phaenomen) như Kant nói. Bình diện thế giới giác tính siêu nghiệm bao gồm những vật tự thân (nouomenon, Ding an sich), vật tự thân này nằm ngoài tất cả những kinh nghiệm có thể có được và do đấy không thể được tri thức bởi cảm quan của con người. Con người chỉ tri giác được sự vật qua lăng kính giới hạn của ngũ quan cho nên chỉ có thể có được những nhận thức có tính thường nghiệm về các hiện tượng của sự vật.

Tuy nhiên, với trí tuệ của mình, con người còn là một phần tử của thế giới giác tính
(Verstandeswelt).

Trong lúc với tư cách là một phần tử của thế giới cảm tính, thực thể người cảm nghiệm bằng máu và thịt, do đấy nó phải tuân thủ các qui luật thiên nhiên. Con người bị giới hạn về thể xác, có những ham muốn và sở thích cá nhân và bị đặt định, bị sai khiến cũng bởi tất cả những ham muốn và những sở thích ấy. Với tư cách một phần tử của thế giới giác tính, con người không do những yếu tố trên qui định, mà linh hoạt, tự động, tự chủ. Kant gọi khả năng linh hoạt này là lý tính thuần túy. Lý tính thuần tuý này thuộc vào thế giới trí tuệ (Intelligenz) hay thế giới giác tính. Với tư cách là phần tử của thế giới này, con người có khả năng tri thức “vật tự thân” chứ không chỉ nhận thức hiện tượng. Nhưng tiềm năng liễu tri sự vật trong tận bản chất trọn vẹn của nó khổ thay không thể có được trên bình diện lý thuyết tri thức luận, do bởi giới hạn đã định sẵn cho con người (Thân xác, ngũ quan giới hạn, thời gian, không gian), nhất là thời gian và sự biến đổi, vô thường.

Kant cho rằng liễu tri thấu triệt sự vật chỉ có thể thực hiện được trên lãnh vực hành động, thực tiễn, trong đó con người, thay vì bị động, hành động. Chỉ trên bình diện hành động thực tiễn này, con người mới là nguyên nhân tác tạo, con người làm nên đối tượng tự thân, liễu tri toàn vẹn đối tượng như hoạ sĩ, nhạc sĩ với tác phẩm của họ. Chỉ trong hành động, con người tự do – trong nghĩa không bị động - thể hiện tự do, lý tính thuần tuý trở nên lý tính thực tiễn.

Kant nhận định:
“Tính tất yếu tự nhiên về tương quan của các sự vật (trong đó có con người) nằm trong qui luật cho biết chúng đã có một nguyên nhân khác (bên ngoài) tác động lên trong tương quan nhân quả”. Ngược lại với điều đó, ý chí của lý tính thuần tuý xuất phát trên bình diện của thế giới giác tính. Ý chí này hoàn toàn tự do không bị những ảnh hưởng bên ngoài chi phối. Do đó ý chí này là qui luật của chính nó. Dĩ nhiên ý chí cũng lệ thuộc vào qui luật nhưng ý chí lại chính là người làm ra qui luật mà nó phải tuân thủ. Sự tự chủ này – AUTONONIE- Kant gọi là sự tự do của ý chí.

Với tư cách là một thực thể có lý tính và theo đó thuộc vào thế giới trí tụê, con người không bao giờ có thể nghĩ ra được tương quan nhân quả của ý chí của chính nó mà không có ý niệm tự do. Với tư cách là một phần tử của thế giới giác tính, có nghĩa là độc lập với tất cả những nguyên nhân gây ra do thế giới cảm quan, ý niệm tự do đã được bao hàm trong nó. Kant không thể chứng minh khái niệm tự do này bởi vì khái niệm này không thể chứng minh được do những nguyên nhân mà ông thường nói là lý tính thuần tuý cũng không thể chứng minh được, nhưng Kant nói rằng chúng ta phải lấy khái niệm tự do như là điều kiện tiên quyết bao lâu con người với tư cách là con người có lý trí được thiên phú một ý chí.

Kant nói rằng: Khái niệm tự do, trong chừng mực tính tồn tại khách quan của nó được chứng minh bằng một qui luật của lý tính thực hành, khái niệm này sẽ tạo nên viên đá kết thúc cả toà nhà của một hệ thống lý tính thuần tuý ngay cả của lý tính thực hành, và tất cả những khái niệm khác (Ví dụ khái niệm về Thượng đế và linh hồn bất tử), - những khái niệm được xem là những ý niệm tồn tại trong lý tính mà không có chỗ đứng khách quan trong thế giới thường nghiệm, - cũng sẽ đi theo khái niệm tự do. Với tự do, cũng như nhờ tự do chúng nhận được vị trí và tính thực tại khách quan, có nghĩa là khả thể của chúng được chứng minh nhờ sự hiện hữu thật sự của tự do bởi vì ý niệm này được công bố bởi qui luật đạo đức.

Nhưng tự do cũng là ý niệm duy nhất trong tất cả những ý niệm của lý tính lý thuyết, mà con người chỉ biết được tính khả thể tiên thiên của nó nhưng không thấu triệt được nó bởi vì tự do là điều kiện của qui luật đạo đức, qui luật này chúng ta tri thức được qua hành động. Khái niệm tự do là viên đá đụng độ khởi đầu của tất cả những nhà theo chủ thuyết thường nghiệm, nhưng cũng là chìa khoá mở ra những nguyên lý thực tiễn cao quí nhất cho những nhà đạo đức phê phán, qua đó họ nhận rõ rằng họ tất yếu phải tiến hành tự do một cách duy lý.

Chúng ta sẽ trở lại khái niệm hành động đạo đức qua mệnh lệnh phạm trù trong phần tới sau khi lược qua lý thuyết nhân quả của Phật giáo.

Tóm tắt những ý tưởng trên, xin đưa ra lời Kant nhận định như sau

“Như những sự vật, một mặt, con người được xem như là một hiện tượng thuộc vào thế giới cảm quan, mặt khác con người cũng tự nhận như là thực thể tự thân thuộc về thế giới tri thức (Intellektuelle Welt). Một thực thể lý trí (được thiên phú cho khả năng tư duy và linh hoạt trí thức) được xem như là trí tuệ, thuộc về thế giới giác tính (Verstandeswelt). Như thế có hai quan điểm để xét con người: “trong chừng mực con người thuộc về thế giới cảm quan, thì nó phục tòng qui luật tự nhiên (dị phân Heteronomie), trong chừng mực nó thuộc về thế giới giác linh, thì nó phục tòng qui luật độc lập với thiên nhiên, bất thường nghiệm, chỉ có nền tảng trong lý tính”. Với tư cách là một thực thể thuộc về thế giới trí tuệ, con người không thể nào tư duy liên hệ nhân quả do ý chí riêng mà không cần đến ý niệm tự do; bởi lẽ sự độc lập đối với những nguyên nhân quyết định trong thế giới cảm quan (mà lý trí luôn tự đi theo) là tự do. Không thể tách rời với khái niệm TỰ DO là khái niệm TỰ CHỦ luôn theo sát. Với khái niệm tự chủ, nguyên lý phổ quát về đức lý được dựng nên, nguyên lý này là nền tảng cho tất cả những hành động của những thực thế lý trí cũng giống như nguyên lý tự nhiên làm nền tảng cho mọi hiện tượng” 3

Tự do là một khái niệm bất khả liễu tri- bởi vì biết về tự do chưa hẳn là tự do- Tự do thuộc hành động và sáng tạo, chỉ trong hành động sáng tạo, tự do được cảm nghiệm và thấu triệt.
Bởi thế Kant cũng phát biểu, một cách tự kiểm soát tư duy cách mạng của mình: “Tuy chúng ta là những phần tử làm ra qui luật cho thế giới đức lý nhưng đồng thời không phải là kẻ đứng đầu các qui luật ấy mà là những kẻ phục tùng chúng”4

III. Tương quan nhân quả theo tư tưởng Phật học.

1. Khái niệm “con người”
Tương đương với khái niệm lưỡng tính về con người trong triết học của I. Kant : “Con người không chỉ là hiện tượng của các giác quan, mà qua thông giác thuần túy con người còn tự biết mình như một thực thể tư duy và ý chí, một thực thể được bẩm sinh tính tự khởi, mà khả năng tinh thần của nó hoàn toàn không có cảm tính. Đặc biệt lý tính của con người khác biệt với những năng lực tùy thuộc thường nghiệm, bởi vì lý tính chỉ quyết định đối tượng theo ý niệm của nó mà thôi. Và lý tính này sở hữu tính “nhân quả.”5

Đức Phật đã phác hoạ chân dung con người như sau: “Trong tấm thân sáu trượng này cùng với tâm thức của nó có sự khởi đầu của biết (ý thức, tâm, ghi chú của người viết) và khổ đồng thời khả năng thoát khổ”. Con người- như một tương hợp của ngũ uẩn- nằm trong điều kiện tính của thập nhị nhân duyên và luân hồi- trầm luân trong bể khổ nhưng chính con người có khả năng diệt khổ, thoát khỏi trầm luân.

Có thể nói, lý thuyết nhân quả và nghiệp của Đạo Phật là yếu tố phổ thông và phổ quát nhất trong quá trình tìm hiểu, thực hành, tu chứng của người nghiên cứu cũng như của Phật tử. Nó quan trọng đến nỗi hầu như thấy được yếu tính của nó là có thể quán triệt hệ thống tư tưởng Phật học, như ngài Long Thọ (Nagarjuna)6 đã xác nhận.

2. Tương quan điều kiện tính.
Khác với Kant, đạo Phật chỉ có một mô hình tương quan nhân quả áp dụng cho tất cả các lĩnh vực thường nghiệm cũng như siêu nghiệm. Thay vì khái niệm “nhân quả” đường thẳng, từ đó đưa đến ý niệm có một đấng toàn thể là nguyên nhân cuối cùng, tương quan điều kiện tính hay cũng được gọi là chuỗi điều kiện hay nhân duyên (Pratītyasamutpāda) trong đạo Phật được quan niệm như một phức hợp của nhiều điều kiện gây nên quả. Chuỗi tương quan điều kiện này được áp dụng cả trên bình diện tri thức (tuệ) lẫn bình diện đạo đức (giới). Cả hai bình diện là hai phần tử thiết yếu của hệ thống tri thức Phật học.

Thấu triệt chuỗi tương quan nhân quả trong toàn bản thể của nó (tuệ) là điều kiện hay nguyên nhân để hành động đạo đức được thiết lập. Triết học Phật giáo không đi từ sự tách rời hai bình diện lý thuyết và thực hành như Kant đã làm mặc dù sự tách rời này trước tiên được xem như là bước đầu có tính phương pháp học để khảo sát các đối tượng trong tinh thần phân tích khoa học. Triết học Phật giáo đi từ lối nhìn toàn diện và nhất thể bao gồm ba khả năng: Tri, Hành và Định (hội nhập) mà Đức Phật đã đưa ra làm nền tảng cho phương thức cứu đời hay phương thức chữa lành khổ não của con người.

Định (Samadhi)

Tuệ Giới
Prajna (Wissen) Sila (sittliches Handlung)

Đức Phật cho rằng tri thức của nhân loại là vô cùng nhưng có một loại tri thức đúng đắn về sự vật và thế giới giúp ta mở được cánh cửa giải thoát khỏi điều kiện tính.

Trong phương thức trên, “Tuệ” hay khả năng tri thức sự vật hay thực tại của sự vật đúng thật bản chất của sự vật có thể làm nền tảng cho hành động đạo đức, hay nói cách khác hành động đạo đức trên quan điểm của Phật giáo có lý do phát khởi qua sự liễu tri toàn diện về sự vật.

Ta hãy tìm hiểu điều kiện khả thể của khái niệm nhân quả trong Phật giáo để biết tương quan chặt chẽ giữa tri thức và đạo lý. Hai bình diện này có một liên quan chặt chẽ- một liên quan có tính nhân quả khác hẳn với qua điểm nhị nguyên của Kant cho rằng giữa tri thức lý thuyết và hành động đạo đức có một dị biệt về thể tính không thể vượt qua được và do đấy phải viện dẫn ý niệm chủ thể tuyệt đối (ý niệm Thượng đế) đầy quyền năng sáng tạo và bất tử.

2a. Ngược lại với truyền thống tư duy của thời đại ngài sinh ra, Đức Phật đã sáng tạo ra một phương thức giải thích sự hình thành tri thức về thế giới mà không cần viện dẫn ý niệm tuyệt đối. Trong lúc những nhà tư tưởng của hệ thống Upanishaden cho rằng để giải thích sự hình thành thế giới vốn vô thường và giới hạn, sự hiện hữu của một thực thể tuyệt đối, bất biến, vô điều kiện là cần thiết. Đức Phật bác bỏ điều ấy và cho rằng chúng ta không cần phải viện lý một thực thể bất biến như vậy, chúng ta chỉ cần nhìn thế giới như một toàn thể mà trong đó mỗi yếu tố là điều kiện phát sinh ra một yếu tố khác: “Nếu cái này có thì cái kia có, nếu cái này phát sinh ra thì cái kia phát sinh ra. Nếu cái này không có thì cái kia không có. Nếu cái này được chấm dứt thì cái kia cũng được chấm dứt” điều đó có nghĩa, thế giới có thể tri thức được một cách thường nghiệm là một tập thể bao gồm nhiều phần tử, những phần tử này nằm trong một liên hệ với nhau là nếu một phần tử P hiện diện thì phần tử Q sẽ phát sinh và ngược lại nếu người ta bỏ P đi thì Q cũng sẽ không còn nữa.

Trong chuỗi tương quan điều kiện này hai điểm có tính tri thức luận cần nêu rõ là:

- Đức Phật đã khai triển một phương pháp có thể cho phép ngài giải thích thế giới mà không cần phải dựa dẫm đến ý niệm tuyệt đối hay tương quan nhân quả tuyệt đối

- Thay vào chỗ những đơn vị tuyệt đối bất biến riêng lẻ, chúng ta phải nhìn thế giới ở trong chuỗi liên hệ của những điều kiện. Tri thức về chuỗi điều kiện này là chìa khoá nhận thức bản chất thực của mọi sự vật trên thế gian: là vô thường và vô ngã, ngay cả cái tôi chủ thể đang tri thức.

2b.
Đức Phật dạy rằng chúng ta có thể có một khái niệm về thế giới mà không cần đến ý niệm tuyệt đối. Khám phá của Ngài bác bỏ giả thuyết về một tiểu ngã bất biến (Atman) mà các nhà lý thuyết Upanishaden chấp nhận, sau khi loại trừ ý niệm đại ngã của Bà La môn, có thể xem là một cuộc cách mạng tư tưởng gấp đôi.





Mặt tích cực nằm trên lãnh vực kinh tế: lý thuyết mới này cho phép chúng ta giải thích thế giới mà không cần đến một đơn vị tuyệt đối, tiết kiệm bút mực và công sức, bớt đi chướng ngại cản trở con đường đi đến sự thật và giác ngộ. Với phương thức này tất cả những thử nghiệm tìm cho được một đơn vị tuyệt đối trong thế giới này và xem nó như là một đơn vị bất biến là không cần thiết, không những không cần thiết mà còn không thể đứng vững được.
Đức Phật bác bỏ ngay cả ý niệm tuyệt đối của tiểu ngã của tư tưởng Upanishaden

(Upaniṣaden) trong chính lý luận của các triết gia Upanishaden khi họ cho rằng:
Nếu tất cả những gì trong thế giới đều được thấy rõ là phù du vô thường và không vững chắc trên phương diện tri thức luận; và nếu mặt khác muốn hiểu thế giới này thì cần phải chấp nhận một thực thể tuyệt đối hoàn toàn vượt ra khỏi tất cả những vô thường và bất định. Nếu đó không phải là Đại ngã bên ngoài thì điều gì có thể tuyệt đối hơn và thực chất hơn là chính người đã đưa ra suy nghĩ này?

Ngoài ra nếu cần thiết nhìn thế giới mà không cần đến sự núp bóng vào trong một thực thể tuyệt đối thì giả thuyết chính con người là nơi trú ẩn chắc chắn nhất, duy nhất đối với sự vô thường của thế giới bên ngoài có thể đứng vững. Nói khác đi, chính con người với tư cách là thực thể cá nhân đồng thời cũng là thực thể tuyệt đối phổ quát được giả định trên lý thuyết, đó chính là cái NGÃ bất biến..

Theo Đức Phật, chính giả thuyết này lại là một sai lầm cơ bản, vì đã xây dựng cả cuộc sống của cá nhân con người trên một tiền đề không được biện minh. Sự xây dựng toàn thể thế giới và đời người trên cơ sở của một cái NGÃ bất biến đem đến thất vọng thay vì sự thật và hạnh phúc. Đức Phật dùng khái niệm KHỔ cho sự thất vọng này. Thất vọng hay khổ phát sinh do sự chấp trước hay tin tuyêt đối vào NGÃ là cái gì tồn tại vịnh cữu. Khái niệm KHỔ trong diệu đế thứ nhất và phân tích KHỔ trong diệu đế thứ hai chỉ rõ tính cách vô thường hay bị điều kiện hoá. Chính tính vô thường, sự biến đổi của sự vật trên thực tế phản bác lại sự thường còn ảo tưởng và từ đó sự khổ đến từ ý thức về ngã một cách sai lầm. Khổ chỉ tồn tại bao lâu người ta không biết tính sai lầm của tiền đề chủ trương tất cả mọi vật đều là thường còn.

Tri thức về thực chất của sự vật là vô thường và vô ngã là điều kiện để cho khả thể giải phóng. Giải thoát theo Phật có điều kiện tiên quyết là trí tuệ. Từ đó tri thức luận và giải thoát luận liên hệ chặt chẽ với nhau.

Đức Phật cho biết giải thoát cần đến sự liễu tri sự vật trong bản chất thực sự của nó: chính là sự vật nằm trong điều kiện tính hay trong chuỗi điều kiện:

2c. Thập nhị nhân duyên
Khởi điểm là một chủ thể, một vô ngã có thói quen chấp ngã như là một thực thể bất biến trong dòng đời của nó (vô minh). Với chấp trước này, cái ngã ấy đã được bồi dưỡng một cách giả tạo như là cái gì bất biến trong thế giới luôn luôn biến đổi. Ngoài ra cái ngã vô minh này còn tìm mọi cách để đứng vững trong chuổi luân hồi. Ý niệm chủ thể này bao lâu có ý thức và có sắc thân sẽ được xuất hiện qua sáu giác quan. Nhờ sáu giác quan nó va chạm với thế giới bên ngoài và huân tập tri thức. Qua tri thức chủ thể biết được thế giới bên ngoài. Khi biết được thế giới bên ngoài thì phát sinh sự ham muốn cho rằng cả thế giới đều là một ngã bất biến. Chính cái ngã bất biến này tìm sự thoả mãn và tránh xa những khó chịu, những bấp bênh, ví dụ ở với người mà mình không thích, xa người mà mình thích sẽ đem đến khổ đau, muốn giữ mãi niềm vui vừa có được, nhưng bất hạnh, là nạn nhân của tai ương, và chiến tranh…Chính sự chấp trước vào ngã và thế giới bên ngoài đã tạo nên tái sinh và với tái sinh sinh lão bệnh tử sẽ đi kèm theo. Đó là nội dung của thập nhị nhân duyên.

Lý thuyết này giải thích toàn bộ sự xuất phát của khổ và bao lâu cái khổ này không được chấm dứt thì luân hồi sẽ tiếp diễn và toàn bộ luân hồi là nguyên nhân của khổ. Quan điểm này là nội dung của hai diệu đế đầu. Diệu đến thứ ba và thứ tư đưa ra viễn tượng giải thoát và phương pháp thực hiện giải phóng ra khỏi khổ đau. 7

Chính từ kinh nghiệm KHỔ, hay ý niệm KHỔ, đạo đức học Phật giáo khởi sự. Có thể nói đạo đức học Phật giáo có hai tầng lớp: đạo đức học về giải phóng toàn diện nỗi khổ của con người và thực hiện giải thoát. Từ viễn tượng giải thoát hoàn toàn này Đức Phật đưa ra những chỉ dẫn cách sống ở trong vòng luân hồi, cách xử thế và đối xử giữa con người với nhau cũng như những hướng dẫn sống theo trì giới.

2d. Dị biệt với đạo đức học siêu nghiệm của Kant:
Có thể nói rằng với khổ đế như là khởi điểm và động cơ thúc đẩy con người hành động đạo đức, theo Kant, chưa phải là nền tảng của đạo đức học bởi vì nền tảng của đạo đức học như chúng ta đã thấy dựa trên cơ sở của một chủ thể tự do với một ý chí tự do.

Một nền đạo đức học xây dựng trên ý niệm khổ đối với Kant thật xa lạ, có vẻ không có tính phổ quát khách quan cũng như còn bị lệ thuộc vào kinh nghiệm thường nghiệm. Những yếu tố chủ quan như lòng mong muốn xây dựng tính bản thiện, ước mong hạnh phúc, ước mong được nhiều của cải là những ước muốn chung của tất cả mọi người, nhưng phương pháp để thực hiện mục đích này lại khác nhau ở mỗi người. Nếu các qui luật đạo đức được triển khai một cách thường nghiệm theo sở thích và thị hiếu của mỗi cá nhân thì không thể được xem như là những qui luật phổ quát. Theo Kant “Trong tất cả mọi trường hợp, mỗi khi một đối tượng của ý muốn được đưa ra làm cơ sở hành động cho riêng mình thì qui luật này không gì khác hơn là dị biệt; tính cách mệnh lệnh bị điều kiện hoá” bởi nó tùy thuộc vào những động lực thúc đẩy từ bên ngoài.

Theo Kant, môt qui luật được xem là đạo đức phải phổ quát và tiên thiên. Trước hết nó phải được diễn dịch từ một ý chí độc lập với sở thích lợi ích cá nhân. Ý chí độc lập theo Kant luôn luôn là một ý chí tự do. Tất cả những lý do hành động đều đi ngược lại tự do ý chí như: bản năng, nhu cầu, ham muốn, kiêu ngạo, tự ái, thế lực, độc quyền…những lý do này không phải là nội dung mà ý chí tự do bao hàm. Theo Kant chúng chỉ là những động cơ bên ngoài qui định ý chí cho nên chúng chưa phải là động cơ chính của hành động đạo đức.

Ý chí chính nó trong bản chất không đặt cho mình một mục đích khi nó muốn cái gì, với tư cách là ý chí tự do, ý chí tự xác nhận mình chỉ khi nào nó gột rửa tất cả những nội dung. Tự do tự chủ là một đặc tính của ý chí, được hiểu theo Kant, có nghĩa tự cho mình là qui luật của chính mình. Kant đã đưa ý niệm tự do như là đặc tính của ý chí cho tất cả những thực thể có lý tính, theo đó tự do là điều kiện thực hiện của ý chí. Không có tự do này thì con người sẽ không thể nào đưa ra những qui luật thoát khỏi những ham muốn. Tự do có nghĩa độc lập khỏi những ham muốn riêng tư, là một ý niệm phổ quát. Tự do theo Kant là cơ sở của tất cả những hành động đạo đức.

Ngược lại khi chúng ta quan sát lý thuyết nhân duyên của Đạo Phật, chúng ta thấy rằng hầu như tất cả mọi ý chí đều hoàn toàn nằm trong chuỗi điều kiện, do đấy ở đây vắng mặt khái niệm ý chí tự do và ý niệm tự do tiên thiên. Trong chuỗi điều kiện tính ấy mọi ý muốn đều bị qui định và thường được xem như là tiêu cực, vì chính ý muốn, theo Đạo Phật, là nguyên do của tái sinh. Tuy nhiên, Đạo Phật cho rằng, chính trong chuỗi điều kiện này,- có nghĩa trải nghiệm khổ đế- con người mới cảm nhận được ý chí muốn thoát khỏi phiền não và luân hồi, như một người mang bệnh, sống trong bệnh thì ý muốn thoát khỏi bệnh cụ thể hơn tất cả mọi lý thuyết về bệnh tật.

Chính vì con người, như Đức Phật đã nói, là một thực thể chịu khổ não nhưng đồng thời con người cũng có khả năng diệt khổ. Khả năng diệt khổ này con người có được từ tri thức đúng đắn về nguyên nhân của mọi khổ não mà con người đang hứng chịu. Như trên đã nói chính tri thức về mọi nguyên nhân của khổ não cho ta cơ hội để diệt khổ, có nghĩa con người có khả năng hành động đạo đức.

Có thể nói cách khác hay để dùng thuật ngữ của Kant về Ý chí, thì chính ý muốn giải thoát khỏi khổ não là động lực nội tại để con người hành động diệt khổ. Nền tảng đạo đức học của Phật Giáo như thế khởi từ ý chí muốn trở thành tự do hay nói cách khác ý muốn thoát khỏi khổ não là điều kiện để giải thoát khổ não. Tự do do đấy theo đạo đức học Phật giáo là viễn tượng thoát khổ, trong đó quá trình giải phóng mới thật sự là quá trình thực hiện đạo đức học . Xét về cơ cấu của quá trình này ta có hai điểm chính cần triển khai:

3. Nền tảng đạo đức học Phật giáo.
a) Ý niệm về khổ như là lý do thúc đẩy hành động đạo đức: Phật giáo quan niệm chữ khổ không chỉ là một cảm giác chủ quan cũng không phải là một cái nhìn yếm thế, cũng không theo định mệnh bị bắt buộc trong biển khổ của nhân loại, cũng không phải là sự chán nãn văn minh đã bị lão hoá.

Theo Đức Phật KHỔ phổ quát hơn cả ý niệm tự do, nếu không có khổ, nếu không bị ràng buộc thì tự do không được biện minh.

1a. Khổ đế có một ý nghĩa bao trùm cả vũ trụ khởi từ suy nghĩ này: không phải sinh vật nào cũng biết tư duy (chỉ riêng con người hãnh diện biết suy tư, theo Pascal) nhưng mọi sinh vật có thể trải nghiệm đau khổ. Ví dụ: lão, bệnh, tử là những kinh nghiệm có thể dùng làm gạch nối giữa thế giới con người và thế giới loài vật, thế giới cỏ cây. Từ ý niệm KHỔ, con người trở nên một một “LIÊN CHỦ THỂ”, một thứ vô ngã như khả năng mở ra với tha nhân và thế giới. Khởi từ cảm nghiệm khổ về thân xác và khởi từ kinh nghiệm khổ về tinh thần, ước mong diệt khổ không những chỉ cho cá nhân riêng lẻ hay xã hội loài người mà trở nên một ước muốn phổ quát và thiết yếu cho tất cả mọi chúng sinh. Kinh nghiệm khổ do đấy là một kinh nghiệm có thể giúp ta thông cảm với tất cả muôn loài, từ đó ta có thể hiểu được một nguyên tắc cơ bản thường được nêu ra trong các học thuyết đạo đức như Đức Phật đã nói trong kinh Pháp cú: “Mỗi chúng sinh đều không thích đau khổ” và “Mọi chúng sinh đều sợ chết”. Do đó cần phải tự biết bản lai của mỗi thể tính và hãy đừng hành hạ cũng như hãy đừng giết chết các sinh vật. AHIMSA (Bất bạo động, không giết hại) là nguyên lý đạo đức của Đạo Phật

Đó là mệnh lệnh đạo đức tiên thiên và quyết liệt hơn cả “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” không xa lạ từ Khổng Tử cho đến Aristote, Kant và những học thuyết đạo đức Đông Tây:

“Điều gì mình không muốn thì không nên làm điều ấy cho người khác”
”Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân.”
"Ne faites pas à autrui ce que vous ne voudriez pas qu'on vous fit."

Chính khả năng có thể cảm thông với nỗi khổ người khác qua kinh nghiệm về cái khổ của bản thân, ta tránh không làm hại người khác. Khổ không phải là một ý niệm suông mà là một trải nghiệm phổ quát. Có thể nói đây là khởi điểm của hành động đạo đức trong Phật giáo, trong đó khái niệm cơ bản về bất bạo động đóng một vai trò chính yếu trong lời dạy của Đức Phật, không những cho con người mà cho mỗi chúng sinh. Từ trải nghiệm thấu đáo sự khổ, TỪ BI phát sinh, hành động đạo đức, diệt dục, giới hạnh phát sinh.

Đạo đức học Phật giáo căn cứ vào hai yếu tố quan trọng là “trí” và “bi”. Trí cho ta khả năng nhận định nguyên nhân của khổ, đồng thời cho ta biết được chân tướng hay thể tính của sự vật từ đó tìm ra được con đường đúng đắn cho đạo đức. “Bi” cho ta khả năng hành động theo đúng với tinh thần đạo đức (không làm điều ác, thực hiện điều lành) dàn trải cho tất cả chúng sinh (vật thi ư nhân). Tri thức luận do đó là điều kiện cho giải thoát luận

Ngày hôm nay đạo đức học của Phật giáo, hiểu theo nghĩa năng động của chính lời dạy Đức Phật về khổ và vô ngã, về liên chủ thể chúng sinh (-bởi lẽ cảm nghiệm khổ là chứng thực vô ngã, không có một ngã trường tồn) thích hợp với tư duy khoa học và cảm nghĩ của thời đại hơn những phán đoán mệnh lệnh có tính tiên thiên về NGÃ, THỰỢNG ĐẾ, BẤT TỬ. Do đó đạo Phật được truy nhận như một nền đạo đức học chân chính và khả thi.

Nhưng cũng cần nhấn mạnh là đạo đức học Phật giáo không lấy sự phân biệt giữa thiện và ác làm tiêu chuẩn của hành động giải phóng. Hành động giải phóng này nằm trong tiêu chuẩn lành và không lành (có tính cách trị liệu bệnh lý chứ không có tính cách phán xét thiện ác).

2a. Ý niệm chuyển nghiệp:

Khái niệm KHỔ được phân tích gồm khổ thân xác (lão, bệnh, tử), khổ tinh thần, và nhất là khổ trên bình diện thể tính, con người nằm trong điều kiện tính, mắc xích của sự trở thành, biến đổi, có nghĩa vô thường và vô ngã nhưng lại chấp ngã do vô minh. Nằm trong chuỗi thập nhị nhân duyên, điều kiện sống của con người là quả của nghiệp (hành động) do con người tạo ra. Con người chịu nhận nghiệp quả nhưng đồng thời tạo nên nghiệp quả trong quá trình biến đổi, vô thường. Nghiệp không phải là một khái niệm định mệnh, nghiệp bao gồm cả quả lẫn nhân, trong nghĩa con người nhận nghiệp quả của mình tạo ra nhưng cũng có thể là nguyên nhân của chuyển nghiệp, chính nhờ sự biến đổi như là vô thường và vô ngã.

Như thế khác hẳn với lối giải thích hành động đạo đức tiên thiên từ một ý niệm tuyệt đối và mệnh lệnh của đấng toàn năng, mà Đức Phật cho là có hại cho việc tu chứng giác ngộ, diệu đế thứ nhất hay Khổ đế của Đức Phật đã xây dựng tiền đề cho một nền tảng đức lý từ chuỗi tương quan nhân quả hay từ điều kiện tính của chúng sinh trên thế gian.

Liễu tri bản thể của tương quan nhân quả (như là hiện tượng vô ngã, vô thường) là điều kiện nội tại cho tiến trình chuyển nghiệp.Ý muốn chuyển nghiệp (thoát dữ làm lành) là khởi điểm để con người có thể thay đổi nghiệp cũ. Muốn thay đổi nghiệp cần có trí tuệ phá vô minh, chuyển đổi ngã chấp và tạo nên nghiệp lành cho những quả về sau. Có thể nói tiến trình thay đổi GÓC NHÌN (tri thức) để phá tất cả những ảo tưởng, ảo vọng, ảo hoá từ chấp NGÃ là một tiến trình thực hiện giải phóng khỏi mọi ràng buộc mà con người hứng chịu để thực hiện tự do.

Như thế mô hình đạo đức học Phật giáo không viện dẫn đến một đấng tuyệt đối toàn hảo làm khởi điểm, mà ngược lại chủ trương chính cuộc đời vô thường vừa là nguyên nhân và môi trường cho sự thực hiện đạo đức cứu khổ. Với khái niệm chuyển nghiệp trong dòng biến đổi luân hồi, ý muốn tự do và cùng với nó, ý chí tự do phát khởi nhằm xây dựng con đường hành động giải phóng khổ đau, giác ngộ chân lý mà diệu đế thứ ba và thứ tư đã đưa ra. Tự do như thế vừa là nền tảng vừa là mục đích của đạo đức học Phật giáo.

Ở đây ta thấy, nếu bỏ những vướng mắc về ý niệm Thượng đế, Linh hồn bất tử, tư tưởng của Kant có thể gặp Phật giáo khi cho rằng tương quan nhân quả là hòn đá tảng của tri thức lý thuyết và hành động con người.

b. Hành động đạo đức
1b.
Tuy nhiên Kant có thể không công nhận khái niệm “khổ” như là động cơ cho hành động đạo đức. Bởi vì “khổ”, khác với tự do, là một cảm giác chủ quan, riêng lẻ cho từng cá nhân, không thể là động cơ thực sự cho hành động đạo đức. Ngay cả khái niệm hạnh phúc theo nghĩa mục đích luận đạo đức của Aristote cũng không được Kant công nhận là động cơ và mục đích của hành động đạo đức vì hạnh phúc là một khái niệm thường nghiệm do đấy không thể được xem là một động cơ nền tảng cho qui luật đạo đức phổ quát. Ngay cả quyền lợi của xã hội cũng không được xem là nguyên do thúc đẩy hành động đạo đức. Theo Kant tất cả những lý do dùng làm động cơ thúc đẩy hành động đạo đức đều bị loại trừ do tính ước lệ ngoại tại của nó. Bởi vì một qui luật đạo đức phải được có giá trị cho tất cả mọi thực thể có lý tính và tiên thiên chứ không phải thường nghiệm hay thực nghiệm. Bao lâu người ta có một dụng ý hay là một mục đích thì người ta đã bị vướng theo qui luật dị biệt của thiên nhiên.

Kant cho rằng nơi mỗi thực thể có lý tính đã có sẵn một thiện chí tốt. Thiện chí này nhất thiết phục tùng qui luật đạo đức bởi vì thiện chí này là một ý chí tự do. Người ta có thể nói động cơ thúc đẩy hành động đạo đức đến từ lý tính thực tiễn “thích thiện”, đến từ ý chí đã có sẵn trong mỗi thực thể có lý tính từ trong bản chất của nó. Ý muốn thực hành điều thiện như vậy là nguyên nhân và động cơ cho hành động đạo đức. Kant đã nhấn mạnh nhiều lần rằng trong hành động đạo đức thực thụ, không có cảm giác đạo đức bao hàm. Ngay cả sự thoả mãn sau khi đã làm trọn nghĩa vụ đạo đức cũng bị ông từ chối. Kant cho rằng …qui luật đạo đức có giá trị không phải vì nó hấp dẫn chúng ta. Hấp dẫn không phải là tiêu chuẩn của hành động đạo đức. Sở dĩ nó hấp dẫn vì nó có giá trị cho tất cả mọi người, trong mọi trường hợp. Qui luật ấy phát xuất từ ý chí của một thực thể trí tuệ thuần tuý, không phải là hiện tượng

Mệnh lệnh đạo đức như “ điều gì mình không thích thì đừng làm cho người khác” có giá trị phổ quát vì nó làm nền tảng cho mọi hành động đạo đức, và như thế trở nên mệnh lệnh phạm trù. Kant nêu ra điều kiện mà từ đó mệnh lệnh này có khả năng hiện hữu đó là khái niệm về tự do. Nhưng khi viện dẫn “bản tính thiện của lý tính” ông đã không chứng minh tại sao lại “lý tính thiện” mà không là “ác”,- trong lúc cái ác đang vận hành,- là nền tảng đạo đức.

2b.
Đạo đức học Phật giáo đi từ một hướng khác: thay vì đưa ra một tiền đề có tính đất yếu và xác quyết siêu nghiệm, đạo đức học Phật giáo tìm cách triển khai khả năng thực hiện giải phóng. Hay nói cách khác đạo đức học Phật giáo chuẩn bị một không gian trong đó hành động đạo đức được xảy ra tự do như Kant đã đề ra. Nếu ta trở lại sơ đồ về tương quan giữa trí tuệ và từ bi thì ta có thể nói rằng trí tuệ đã lấy khởi điểm tự do của Kant để có một cái nhìn siêu việt về thể tính của sự vật trong đó có chủ thể lẫn khách thể nằm trong tương quan nhân quả.

Như trên đã nói, triết học Phật giáo tìm cách triển khai nguyên nhân của KHỔ và nhận ra quan niệm về chủ thể tuyệt đối, về ngã bất biến là sai lầm cơ bản trong tri thức luận của con người. Đức Phật cho rằng nếu Tự Ngã được định nghĩa như là một thực thể trường tồn và là nguyên nhân của chính nó, nghĩa là không cần có một nguyên nhân nào khác thì ý niệm tự ngã này không thể có trên thế gian. Trên thế gian, tính vô thường của chủ thể là hiện tượng vô ngã. Chủ thể vô ngã này là một tập hợp của ngũ uẩn và cần phải nhìn nó trong tương qua với khách thể trong ý nghĩa của một thể tính trở thành. Chính ý niệm trở thành này là cơ hội để cho sự chuyển nghiệp có thể thực hiện được. Do đấy chủ thể cần phải huỷ bỏ ảo tưởng sai lầm, nó là một thực thể bất biến vĩnh cữu. Chính ý niệm sai lầm này là nguyên nhân của sự khổ và luân hồi. Sự thấu triệt bản chất của sự vật trong bản chất vô thường của nó làm cho con người có thể phát triển được đức tính từ bi và đức tính từ bi này đã giúp cho con người có thể cảm thông với người khác.

Đức Phật tìm ra phương thức tu chứng có hiệu quả đoạn trừ chấp trước mà chính Đức Phật đã thực chứng. Thực hành bát chánh đạo có thể giúp ta đạt được giải thoát khổ đau và giác ngộ Niết bàn

Ngoài ra Đức Phật cũng đưa ra ngũ giới cho người thường và sáu giới luật để người hành đạo có thể thực hiện. Ngũ giới và sáu giới hạnh bao gồm hai khía cạnh. Giới thuộc khía cạnh thực tiễn, hành vi thực tiễn và hành động thực tiễn có thể giúp kẻ thống khổ vượt khổ. Đồng thời Tuệ giúp ta chánh kiến về bản chất và tương quan với thế giới, trí tuệ này hướng dẫn hành động thực tiễn của người hành đạo bằng cách chỉ cho thấy những con đường ra khỏi những giới hạn ngẫu nhiên. Sáu giới hạnh đó là: bố thí (giảm thiểu tính ích kỷ), đức hạnh (nhân từ đối với người khác), đạo đức, kiên nhẫn (không bị giận giữ, thực hiện điều lành), quán tưởng (tĩnh tâm và tuệ), từ bi với tất cả mọi chúng sinh và tâm cùng trí phát triển từ bi.

Trí tuệ còn được gọi là mẹ của Bồ Tát, không có nghĩa gì khác hơn là tri thức chân thực đem đến giải thoát, trong lúc từ bi diễn tả sự ước muốn, hạnh nguyện của vị Bồ Tát được thoát khỏi luân hồi.

3b. Biểu hiệu của tự do:
Nhưng hành trạng đạo đức đặc thù nhất của vị Bồ Tát, theo quan điểm Đại thừa, lại nằm ở chí nguyện bất ngờ này: Bồ Tát mong muốn được giải thoát (ra khỏi luật nhân quả) nhưng khi được giải thoát lại không chấp nhận giải phóng cho riêng mình mà tự nguyện trở lại thế gian để cứu độ chúng sinh. Ý muốn trở lại thế gian là ý muốn hoàn toàn tự do, không còn bị hấp lực của luân hồi. Hành động của vị Bồ Tát hoàn toàn vô bị lợi chỉ dựa vào tâm từ bi. Chính tâm từ bi này làm cho vị Bồ Tát trở lại thế gian mặc dù vị Bồ Tát đó đã hoàn tất hành trình giải phóng, không trở lại thế gian (Bất hối Bồ Tát). Khi Bồ Tát hành động như thế thì Bồ Tát có thể chọn lựa một cách tự do thế gian hay hạnh nguyện Bồ tát đã giải thoát. Trong lúc Bồ Tát quyết định giúp đỡ cho chúng sinh để đem lại an lành cho chúng sinh, Bồ Tát cũng chứng minh được các sự mong muốn được giải thoát của chính mình và qua đó có thể chuẩn bị cho sự viên tròn Phật tính trong chính bản thân của Bồ Tát. Theo ngài Long Thọ, giải phóng luận có nghĩa là ngay trên đường hành đạo thực hiện hạnh Bồ Tát, Phật tính được trọn thành và từ đó con người được giải phóng hoàn toàn.

Nằm trong hệ tư tưởng nhất nguyên, vị Trưởng lão của phái Không Luận đã từng tuyên bố, mục đích rốt cùng của tri thức luận về tính không chính là để phơi bày khả thể của hành động đạo đức, ở đây, là hành trạng và hạnh nguyện của vị Bồ Tát.

Đối với nhà Không luận tuyệt hảo của Phật giáo,- người đã sử dụng lý thuyết nhân duyên để hủy cấu trúc của mọi lý thuyết và chỉ ra Tính Không của tất cả các pháp,- không phải lý thuyết Phật giáo, mà chính đạo đức Phật giáo là điều có ý nghĩa nhất cho con người trong viễn tuợng tự do. Tự do trong nghĩa đem đến hoà bình và an lạc. Long Thọ đã nhìn thấy vị Bồ Tát toàn hảo trong Đức Phật và đã ca ngợi hết lời Ngài là Đạo sư đẫn đường cho cuộc giải phóng rốt ráo với vô lượng từ bi. Đức Phật là hiện thân của nhất thể Bi-Trí-Dũng trên phương diện đạo đức.

Hủy bỏ mọi cấu trúc lý thuyết, đó là công việc trí tuệ mà Long Thọ đã sử dụng triệt để, nhưng khác với thuyết hủy cấu trúc (Deconstructionisme) của Jacques Derrida (1930-2004) trong trào lưu hậu hiện đại Tây phương, công việc của Long Thọ duy nhất nhằm mục đích độ con người lên đường thực hiện đạo đức để tự giải phóng. Là nhà ảo thuật tuyệt hảo của tư duy, Long Thọ vẫn dựa lưng vào Đức Phật như nguồn suối chảy không ngừng của trái tim vô lượng đại bi, ý nghĩa của cuộc sống.

Long Thọ Bồ Tát đã để lại những tác phẩm diễn giải và hướng dẫn thực tiễn về tu chứng không những cho người đi tu mà còn cho cư sĩ. Ngài ghi:“Pháp của Phật dạy cho chúng ta hai điều là tránh việc không an lành và hướng về những điều an lành với thân, khẩu, ý”

Phương pháp của giải phóng luận này bao gồm con đường thực tiễn được đưa ra để có thể đạt được mục đích cao đẹp. Ngài Long Thọ đã đưa ra những lời khuyên cụ thể về chánh kiến (nhìn rõ bản chất sự vật), quán sát (thấm đượm sự khổ qua chuỗi điều kiện nhân duyên, luân hồi) và hội nhập ý thức (cởi bỏ tâm phân biệt, tư duy, hoà nhập thể tính). Những lời khuyên về hành động chuyển nghiệp gồm có 10 điều liên hệ đến thân khẩu ý như không được uống rựợu, không được sát hại, nói sai sự thật, tránh tà kiến… và phải phát triển sở thích sống tinh tấn. Những hướng dẫn về thực hành đạo lý trong lối sống thường nhật như kính trọng cha mẹ, hiếu thảo với anh em và người ngoài đều được ngài nêu ra cho cư sĩ tại gia.Với tư cách tu sĩ thì phải giữ các hạnh giới như nhẫn nhục, không được ganh ghét, phải quan sát các giác quan của mình, đừng luôn luôn tự mãn. Về việc thực hành quán tưởng còn có những lời khuyên phải luôn luôn thức tỉnh để thấy rõ hoàn cảnh xung quanh của mình, nên tập thiền quán cũng như tập nhìn tất các sự việc trong sự toàn diện của nó và thử nghiệp để biết điều gì, hành động nào có thể đem đến an lành và hành động nào gây ra sự bất an và phải luôn luôn thâm nhập vào trong mỗi kinh nghiệm.

Nói tóm lại đạo đức học Phật giáo, không chỉ chú trọng đến giải thoát khỏi luân hồi mà còn đưa ra tất cả những lời khuyên bao gồm phương pháp thực hiện để đạt được một đời sống lợi lộc cho sự giải thoát khổ đau.

4b. Bồ Tát và mệnh lệnh phạm trù:

Có thể nói với hình ảnh con người hành động Bồ Tát thích hợp với khái niệm con người có ý chí tự do theo Kant. Với sự tự chủ và ý chí tự do, con người có thể xây dựng qui luật đạo đức và qui luật đó là bao gồm mệnh lệnh phạm trù. Qui luật phạm trù này cho phép con người rút ra bổn phận của mình trên nguyên tắc mà không bị điều kiện thường nghiệm hay vô thường chi phối. Theo Kant, chỉ khi nào ý chí không bị những ham muốn cảm tính thu hút, thì ý muốn có thể trở thành “bổn phận nên làm” có tính cách phạm trù đạo đức. Ý niệm của tự do được nổi bật qua tính độc lập của nó đối với một số nguyên nhân có được trong thế giới cảm năng. Ngoài ra, mệnh lệnh phạm trù còn được Kant nhấn mạnh là hoàn toàn độc lập với tất cả những mục đích ngay cả khi mục đích này là tính toàn diện hoàn hảo hay là hạnh phúc của con người. Một hành động đạo đức theo Kant chỉ được xem là thích hợp với hành động phạm trù khi hành động này hoàn toàn thuần tuý và không bị nhiểm bởi ý thức vụ lợi nào, ngay cả khi ý thức vụ lợi này là hạnh phúc chung cho nhân loại.

Từ nhận định trên, thoạt tiên dễ bị cám dỗ để phủ nhận tất cả những động cơ thúc đẩy cho một vị Bồ Tát hành động cứu khổ nhân loại, vì chúng vẫn còn là hành động được ấn định bởi một mục đích bên ngoài nhưng nếu chúng ta khảo sát sâu hơn ý niệm giải phóng của Phật giáo thì chúng ta sẽ thấy ý niệm giải phóng này là tiến trình của sự vươn tới cũng như thực hiện ý niệm tự do bởi vì Niết Bàn mà các vị Bồ Tát mong muốn cho tất cả chúng sinh đạt tới là môt Niết Bàn hoàn toàn độc lập không còn dính líu đến thực nghiệp. Sự giải phóng này được thực hiện khi con người thấy được tính không của tất cả các pháp (Dharma). Thấy được tính không hay nguyên nhân của khổ là điều kiện giúp con người đạt được hoà bình vĩnh cữu.

Hoà bình vĩnh cữu không phải là một ý niệm chính trị mà là một ý niệm hội nhập vào thể tính trong đó mọi con người đều đồng đẳng theo đúng với mệnh lệnh đạo đức đã được xem như là qui luật phổ quát: “điều gì ta không muốn làm cho mình thì cũng không nên làm cho người khác”. Châm ngôn này là một trong những châm ngôn làm thành qui luật phổ quát của nhân loại, được thực hiện bằng hạnh Bồ Tát cứu khổ.

Tương đương với mệnh lệnh phạm trù của hành động đạo đức trong nghĩa hoàn toàn độc lập với mục đích của chính hành động đạo đức, chúng ta cũng có thể tìm thấy trong Phật giáo điều kiện khả thể của hành động đạo đức qua lời phát biểu trong kinh Kim Cương:

Mỗi một đức hạnh được thực hiện đều nên được thực hiện với một ý niệm như sau:
“Bồ Tát bố thí cho chúng sanh nhưng khi bố thí lại không được dấy lên một ý nghĩ nào về người bố thí”. Điều đó có nghĩa, hành động bố thí chỉ nên được hoàn tất duy nhất từ ý chí tự do, tự do ngay cả đối với chủ thể là người hành động đạo đức. Bố thí trong trường hợp này mới chính là bố thí, trong đó “cho” và “nhận” đều bình đẳng.

Con người bình đẳng trong “sợ chết” cũng như trong thành tựu “đạt Niết Bàn”. Theo Đạo Phật đây mới là khái niệm tự do tuyệt đối mà con người vươn tới để có thể thiết lập một thế giới hoà bình bao gồm tương quan giữa cái ta với toàn thể vũ trụ.

Tất cả những suy nghĩ trên cho ta nhận thấy rằng tuy đi hai con đường Đông Tây khác nhau nhưng sự đòi hỏi hành động đạo đức rốt cùng cũng chỉ là một.

Trong đó: tự do của con người vừa là điều kiện vừa là mục đích của hành động đạo đức theo Kant và của hành trạng thể hiện Phật tính vì Phật tính trong mỗi chúng sinh đều không khác theo Đức Phật. Cơ hội thành Phật là của tất cả mọi chúng sinh. Cơ hội ấy con người có được tốt nhất khi trải nghiệm “nỗi khổ chung” của nhân quần và chúng sinh và phát tâm cứu độ chúng sinh.

Hoàn tất mùa Phật Đản 2011

1 K. Schmidt, Leer ist die Welt, Nxb Christiani, Konstanz, 1953. Tiểu luận “Leer ist die Welt”, Thái Kim Lan dịch Việt “Thế giới rỗng không” đã đăng trên trang talawas ngày 22. 4. 2004.
2 D. Hume (1711-1776, người Scottland), triết gia của học thuyết thường nghiêm Anh, cho rằng tương quan nhân quả là chuỗi liên hệ mà con người nhận ra do kinh nghiệm được lặp lại nhiều lần, từ đó do thói quen được huân tập lại, vì thế mang nhiều tính chủ quan hơn là tiên thiên và phổ quát.
3 Wie die Dinge, so erfaßt der Mensch auch sich selbst einerseits als zur "Sinnenwelt" gehörige "Erscheinung", anderseits denkt er sich als ein zur "intellektuellen Welt" gehörendes

_________________




Q9A1_THANG LONG_UNIVERSITY_FOREVER !!!


Về Đầu Trang Go down
http://q9a1-thanglong.friendhood.net
ADMIN
ADMIN_Q9A1
ADMIN_Q9A1
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 106
From : GREAT HEAVEN
Hobbies : MONEY
Registration date : 16/08/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Sự khác biệt giữa nghiệp và số mệnh ?   Mon Jun 20, 2011 9:48 am



Từ cái nhìn về phôi bào đến những quan điểm tái sanh, luân hồi và trợ tử theo Đạo Phật
16/03/2008 11:35 (GMT+7)


Các lý thuyết tôn giáo cũng như các nhà khoa học đã cố gắng đưa ra những lý giải khác nhau về nguồn gốc xuất hiện của con người trên trái đất này. Phải chăng con người là sản phẩm do Thượng Đế tạo dựng hay chỉ là một giống vượn người trải qua một chuổi quá trình tiến hoá lâu dài rồi biến thành người theo thuyết tiến hoá của Darwin?


Trước vấn đề này, Phật giáo vốn tin tưởng vào thuyết tái sanh, luân hồi, cho rằng tất cả các loài chúng sanh luôn quanh quẩn trong vòng luân hồi sinh tử (samsâra), và được tái sinh qua bốn cách thế khác nhau: noãn sinh - andaja, tức là sự sanh ra từ trứng; thai sinh - jatâbuja, tức là sanh ra từ bào thai của người mẹ; thấp sinh - samsedja, tức là sanh ra từ sự ẩm thấp hay từ rịn rỉ của các thành tố, đất, nước v.v... ; và hóa sinh - oppâtika, tức là do hóa hiện mà sanh ra, không phải trải qua các giai đoạn phôi thai; những con người đầu tiên là những chúng sanh thuộc loại hoá sinh này.
Cho dù khoa học ngày càng tiến bộ, đặc biệt là trên lãnh vực Sinh học với sự khám phá DNA, đã giải mả một số bí mật trong lãnh vực Di truyền học, cùng với những nghiên cứu sâu rộng về tế bào mầm và kỹ thuật nhân giống (cloning), câu hỏi về nguồn gốc con người cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Tuy nhiên một điều mà chắc hẵn mọi người đều đồng ý với nhau là, con người được sinh ra đời do kết quả của sự thụ tinh, từ đó phôi bào được hình thành, nuôi dưỡng và nảy nở trong tử cung của người mẹ trong một khoảng thời gian nào đó trước khi chào đời. Chúng ta tạm thời bắt đầu từ khởi điểm này, bởi vì từ điểm cốt lỏi này, nhân loại hôm nay đang đối diện với một vấn đề bao trùm trên khắp các mặt lương tâm, đạo đức, luân lý, và xã hội, một vấn đề hiện vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi và đôi khi dẫn đến đổ máu: Phôi bào có thể xem như là một con người? Nếu quan niệm phôi bào là một con người tại sao luật pháp của các xã hội lại chấp nhận chuyện phá thai, không xem đó là một tội ác sát nhân? Để ngăn ngừa tình trạng nhân mãn, trên thế giới - đặc biệt là tại các quốc gia hiện đang bị đe dọa bởi nạn nhân mãn như Trung quốc, Nhật Bản, Việt Nam,...- hàng năm đã có đến hàng triệu sinh mạng bị bóp chết ngay từ khi còn là một phôi bào. Như vậy, đạo đức Phật giáo quan niệm như thế nào về vấn đề này?
Quan Điểm của Phật Giáo Về Ngừa Thai, Phá Thai, Tái Sanh và Luân Hồi.
Trong dịp Đức Đạt Lai Lạt Ma viếng thăm Âu Châu hồi gần đây, khi tiếp xúc với những nhà trí thức phương Tây, một số nhà khoa học Pháp đã nêu lên câu hỏi: "Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài tin rằng vào thời điểm nào trong quá trình thụ thai của sinh vật bắt đầu hàm chứa những hạt mầm tinh thần hay dấu hiệu thiêng liêng của sự sống?"
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời rằng:
"Phật giáo quan niệm rằng ý thức xâm nhập vào sinh vật ngay từ phút giây đầu tiên của sự thụ thai, bởi lẽ đó mà phôi bào vẫn được coi như là một sinh vật. Cho nên chúng tôi xem hành động phá thai cũng giống như việc cướp đi sự sống của một con người và dĩ nhiên đây không phải là một việc làm chánh đáng. (1)
Quan niệm này đã được Ngài khẳng định lại một lần nữa khi người ta nêu lên câu hỏi về vấn đề kiểm soát dân số:
Thưa Ngài, quan niệm của Ngài như thế nào về việc kiểm soát sinh sản và Ngài có ý kiến gì về việc phá thai?
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời như sau:
"Để trả lời cho câu hỏi này tôi thường giải thích theo quan điểm của người Phật tử vốn quan niệm rằng đời sống của tất cả mọi loài chúng sanh, kể cả côn trùng sâu bọ và đặc biệt là con người, đều rất qúy giá. Nếu nhìn vấn đề như thế thì tất cả mọi hình thứckiểm soát sinh sản đều cần phải được ngăn cấm. Tuy nhiên những sinh mạng qúy giá đó nay đã đạt đến một số lượng đáng kể, thế nên chúng ta không thể không khẩn thiết kêu gọi mọi người phải quan tâm đến vấn đề hạn chế sinh sản một cách nghiêm túc, vì đó là phương cách duy nhất để hạn chế tình trạng gia tăng dân số. Như tôi đã từng đề cập, khi mà tài nguyên của trái đất đang khô kiệt dần, tôi chấp nhận chuyện hạn chế sinh sản một cách bất bạo động.
Còn phá thai là một chuyện khác, đó là một hành động sát nhân. Truyền thống Giới Luật Phật giáo chỉ rõ rằng ta không được giết hại con người, cho dù đó là một bào thai. (2)
Những phát biểu của Đức Đạt Lai Lạt Ma khi trả lời cuộc phỏng vấn nói trên, xem phôi bào như là một con người, đã phản ảnh một cách khá đầy đủ và đúng đắn quan điểm chính thức của Phật giáo đối với các vấn đề xã hội liên quan đến ngừa thai và phá thai. Nếu như khoa sinh vật học ngày nay đã chứng minh rằng phôi bào là sự kết hợp của hai thành tố, tinh trùng của người đàn ông và noãn châu của người đàn bà thì trong rất nhiều kinh điển Phật giáo, hình thức thai sanh-sanh ra từ bào thai của người mẹ- đã từng được đề cập đến, có thể tóm tắt như sau : "Chúng sanh đầu thai này (Gandhabha), kẻ mang tâm thức, nhân cơ hội giao phối giữa một nam và một nữ, nhập vào cái phôi thai được hình thành qua sự giao phối ấy." Như vậy, để một sự sống có thể được hình thành, trước tiên phải có một "chúng sanh đầu thai ", thế nên ngoài hai yếu tố tinh trùng và noãn châu, theo Phật giáo còn có một yếu tố quan trọng thứ ba, đó là cái thức tái sanh (patisandhivinnâna), hay theo cách gọi của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở trên, một cái ý thức, xuất hiện ngay chính vào lúc thụ thai.
Cái thức tái sanh này là gì và từ đâu ra, tại sao lại đợi đến lúc thụ tinh mới xuất hiện? Theo quan điểm của Phật giáo, đặc biệt là trường phái Duy Thức học, cái ý thức này còn được mang một cái tên khác là A Lại Da Thức, hay Tàng Thức. Tàng thức như tên gọi của nó qua suốt một đời người đã tích lũy, dồn chứa -tức là huân tập- một số lớn chủng tử (bija), cùng kết hợp với những chủng tữ được tích lũy từ các đời trước tạo thành một yếu tố tâm vật lý dưới dạng năng lực. Dạng năng lực này Phật giáo gọi là nghiệp lực trong đó một số chủng tử khi hội đủ các yếu tố trợ duyên, và được thúc đẩy bởi lòng khát ái (tanha), tức là lòng khao khát được hiện hữu đã làm sinh khởi, hình thành nên một đời sống mới của chúng sinh. Như vậy, chính nghiệp hay nghiệp lực là sức đẩy chính cho cái mầm chúng sanh đầu thai này đi tái sanh, hay nói một cách cụ thể hơn, khi những điều kiện di truyền được thể hiện trong hoàn cảnh thuận tiện, một hình thức tâm vật lý xâm nhập vào, và qua đó sự sống được tiếp nối. Tiến trình này đã được đức Phật thuyết giảng trong bộ Trung Bộ Kinh (MAJJHIMA NIKAYA,) phẩm AHATANHAKHAYA, số 38, tóm tắt như sau: Ở nơi nào ba thành tố nguyên thủy được cấu tạo chung thì mầm sống được gieo trồng nơi ấy. Trong sự giao hợp của cha mẹ, nếu không nhằm lúc thọ thai của người mẹ, và không có chúng sanh đầu thai, thì mầm sống không thể gieo trồng được. Nếu nhằm lúc thọ thai của người mẹ mà không có chúng sanh đầu thai thì mầm sống cũng không gieo trồng được. Nếu nhằm lúc thọ thai của người mẹ và chúng sanh đi đầu thai cũng có mặt trong lúc giao hợp, nếu hội đủ ba nhân: tinh-trùng, noãn bào và thức, thì mầm sống được gieo trồng: "Này các Tỳ-kheo, nơi nào có ba thành tố ấy hợp lại thì tại nơi đó một mầm sống được gieo".
Trong ba thành tố này, thức đóng một vai trò rất quan trọng nếu không nói là chủ yếu trong tiến trình đầu thai. Cuộc đối thoại sau đây giữa Đức Phật và Ngài A-nan đã làm nổi bật tính cách quan trọng này:
Này A-nan, nếu cái thức này không giáng nhập vào bụng người mẹ thì tâm và thân có hình thành trong bụng người mẹ không?
Bạch Thế Tôn, không.
Này A-nan, nếu thức ấy, sau khi đã giáng nhập vào bụng người mẹ mà lại bỏ chỗ này đi thì tâm và thức có tạo thành cái này hay cái nọ không?
Bạch Thế Tôn, không.
Này A-nan, còn nếu cái thức này đang ở trong một bé trai hay một bé gái khi mà các em này còn nhỏ, lại biến mất đi thì tâm và thân có tăng trưởng, phát triển và lớn lên không?
Bạch Thế Tôn, không. -- (Dn,II,63)
Với Phật giáo Tây Tạng, cái thức này còn được gọi dưới một tên khác là thần thức. Thần thức chính là một tổng hợp của tất cả năng lực, ý chí, khát vọng của một con người trải qua nhiều kiếp sống, và khi cái xác thân hiện tại mà nó nương náu đi vào chu kỳ hoại diệt thì lìa bỏ đi tìm một xác thân mới để đầu thai. Cuốn "Tạng Thư Sống Chết của người Tây Tạng" đã mô tả một cách khá chi tiết về tiến trình lựa chọn tử cung của thần thức trong giai đoạn thân trung ấm, còn được gọi là giai đoạn quá độ trước khi tái sanh, xảy ra trong vòng 49 ngày sau khi ta chết. Trong giai đoạn này, có những chúng sinh do vì nghiệp ác sâu dày, đã không vãng sanh đến được những cảnh giới tốt đẹp sau khi lìa đời, thần thức của họ sẽ phải lang thang đi tìm nơi chốn để đầu thai. Lúc này, do duyên may, nếu có một vị thầy với đạo lực vững chắc ở bên cạnh, hướng dẫn thực hiện năm phương pháp được gọi là đóng cửa tử cung, cũng có thể giúp cho thần thức một cơ hội cuối cùng để từ chối sự tái sanh. Nếu nỗ lực này thất bại vì có nhiều hạng người do nghiệp lực quá mạnh mẽ, đen tối và cũng vì trong quá khứ họ là những kẻ bất lương, đã không làm được những hành động tốt nên không thể đóng được cửa tử cung, thế nên họ đành phải chọn lựa cửa tử cung để tái sanh trở lại.
Tái sanh trở lại có nghĩa là thần thức của người chết sẽ đi vào một trong sáu cõi luân hồi: Trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ qủy, hay địa ngục. Lúc này, cũng theo cuốn Tạng Thư Sống Chết mô tả, các cảnh giới tái sanh sẽ xuất hiện. Thần thức của người chết có thể trông thấy một hồ nước, trên đó đang nổi trôi các con thiên nga đực và cái, hoặc là một hồ nước với những con ngựa đực và cái, hay là những bầy súc vật đang gặm cỏ trên bờ hồ, có những cây lớn chung quanh. Tạng Thư Sống Chết cảnh cáo rằng đây là những đại lục không tốt đẹp, vì thiếu vắng tôn giáo, thần thức không nên bước vào.
Cũng trong lúc này, những ai phải sinh làm A Tu La thì sẽ thấy, hoặc là một khu rừng tốt đẹp, hoặc là những vòng tròn lửa xoay ngược chiều nhau. Kẻ nào phải sinh làm súc sanh, sẽ thấy những hang đá, những lỗ sâu trong đất. Kẻ nào phải sinh làm ngạ qủy sẽ thấy những đồng bằng hiu quạnh, trống trơn, những hang động ít sâu, những rừng thưa trong rừng cấm, những vùng đất đầy rừng. Vào đó, sinh làm ngạ quỷ, sẽ phải chịu đói rét và đau khổ. Còn những người nào phải thác sinh vào cỏi địa ngục, sẽ nghe những tiếng như những lời than vãn và sẽ bị lôi kéo vào một cách không cưỡng lại được. Sẽ hiện ra những khoảng tối mù mịt, những nhà đen và trắng, những lỗ đen ngòm trong đất, những con đường tối om mà người ta sẽ phải đi theo. Vào đó tức là vào cảnh giới địa ngục, người ta sẽ phải đau khổ vì quá nóng hoặc quá lạnh và phải chịu đựng lâu dài khó thoát ra được.
Chỉ có hai cảnh giới mà thần thức cần lưu ý để bước vào: Cảnh giới loài người với những nhà cửa lớn, đẹp và cảnh giới của cõi trời với những đền đài xinh đẹp, xây dựng bằng kim loại qúy hiện ra. (3)
Đến đây một câu hỏi sẽ được đặt ra: Lý do nào khiến thần thức khó có thể lựa chọn được cảnh giới tái sanh tốt đẹp theo ý muốn trong lúc này? Cuốn Tạng Thư Sống Chết giải thích: "Bấy giờ những cảnh cuồng nộ sẽ hiện ra trước mắt, những kẻ hung ác như muốn đòi mạng sẽ lôi kéo dẫn đường, những bóng tối, gió dữ, những tiếng động kinh khủng, bảo tuyết và những cơn mưa đá, giông tố kinh hồn, những luồng gió rét buốt tận xương xảy đến làm thần thức sợ hãi khởi lên ý tưởng trốn chạy, tìm chỗ ẩn nấp. Họ tìm vào trong các nhà cửa, hang đá, lỗ đất đào, cánh rừng,... (như đã miêu tả ở trên) để ẩn trốn. Núp ở đây người ta thoát khỏi sự sợ hãi dày vò và không muốn rời xa chỗ đó vì nghĩ rằng "Ra khỏi đây bây giờ là không tốt." Chỗ đang ẩn trốn mà thần thức nghĩ là an toàn đó, chính là tử cung của người mẹ." (4)
Như vậy, do nghiệp dẫn dắt mà sinh ra thọ, để từ đó có thọ mạng và rồi theo luật thành, trụ, hoại, không những đời sống cứ tiếp nối mãi không ngừng như những lượn sóng của một đại dương. Sự liên tục tiếp nối mãi của sống chết, chết sống do nguồn năng lực của mỗi cá nhân tác động lên, được gọi là Luân-Hồi (samsàra).
Nhân Quả, Nghiệp Báo và Luân Hồi.
Thật ra lý thuyết về luân hồi tái sanh không phải là riêng của Phật giáo. Đây là gia sản tinh thần chung của cả nhân loại được kết tập lại qua hàng bao thế kỷ, Đức Phật chỉ là người với tuệ giác của mình đã lý giải vấn đề một cách rõ ràng sáng tỏ, chỉ rõ ra cho nhân sinh những điểm còn mê mờ vướng mắc, đặc biệt là một số tà kiến, hiểu biết sai lầm về nhân quả lưu hành trước đó và đương thời. Lúc bấy giờ người ta đã hiểu, quan niệm về luật nhân quả một cách đơn giản, hời hợt, và đôi khi cực đoan, chẳng hạn như cho rằng hễ gieo nhân nào thì gặt quả nấy, "trồng dưa hái dưa, trồng đậu hái đậu", không thể nào tránh khỏi. Nhận thức này có một tác dụng tâm lý là tạo nên sự sợ hãi ở tín đồ khiến họ làm lành lánh dữ với hy vọng được hưởng phước báu trong đời này hoặc đời sau, tuy nhiên lại làm nảy sinh ra một thái độ tiêu cực là con ngưòi sẽ thờ ơ, dửng dưng trước bất công xã hội và khổ đau của đồng loại. Người ta sẽ cho rằng, những kẻ làm ác nay phải gánh chịu hậu quả là đúng rồi, đâu có gì để họ phải than vãn, và như vậy tại sao ta phải bày tỏ sự quan tâm đến họ làm gì? Quan niệm như thế rõ ràng là đã phản lại tinh thần từ bi, không nắm vững đạo lý nhân quả theo quan điểm của Phật giáo. Bởi vì nếu hiểu theo tinh thần này thì những nỗ lực cá nhân nhằm thay đổi nghiệp quả trở nên phù phiếm, việc tu hành trở nên vô ích, và như vậy trong kinh sách Phật giáo còn được lưu truyền lại, làm gì có chuyện tướng cướp Vô Não phạm những tội ác đại nghịch, kể cả âm mưu định giết mẹ, chỉ một phút buông dao đã trở thành Bồ Tát, đắc quả A-la-hán ngay trong hiện kiếp?
Trên một khía cạnh nào đó thì luân hồi là hệ quả của luật nhân quả, thế nên muốn hiểu đúng luân hồi trước tiên phải hiểu đúng luật nhân quả. Theo quan điểm Phật giáo, luật nhân quả tựu trung bao hàm hai hệ thống được đan chồng vào nhau:
Đẳng lưu nhân quả: Tất cả vạn pháp hiện hành đều do những chủng tử của nó sinh khởi ra.
Dị thục nhân quả: Sự sống hiện hành là do nghiệp lực hiện khởi, vui là do nghiệp lực thiện, khổ là do nghiệp lực ác.
Nghiệp quả và luân hồi như vậy đã gắn bó chặt chẽ với nhau và trở thành một bộ phận quan trọng trong giáo lý của đạo Phật, một phần giúp lý giải sự hiện hữu của vạn pháp, mặt khác hình thành một nhân sinh quan đặc thù Phật giáo.
Thi hào Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều nổi tiếng đã từng cất lên một tiếng thở dài:
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách hẵn trời gần, trời xa.
Thế nên cuộc đời truân chuyên của nàng Kiều như đã được sắp sẵn, khó có thể cưỡng chống:
Ma đưa lối, qủy dẫn đường,
Cứ tìm những lối đoạn trường mà đi!
Nghiệp là cái gì mà theo cách nói của thi hào Nguyễn Du có vẻ như chi phối hoàn toàn định mệnh của một con người như thế? Phải chăng tất cả những gì của chúng ta hôm nay đều là kết quả hành động của chúng ta từ bao nhiêu kiếp trước, và nó được an bài chi li cụ thể đến độ "nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định" ? Thuở Đức Phật còn tại thế, có một chàng thanh niên tên Sudha, cũng đã mang những thắc mắc như chúng ta hôm nay và tìm đến bạch Phật rằng:
"Bạch Đức Thế Tôn, vì lý do nào và nguyên nhân nào trong đời có người yểu và có người thọ , người bệnh hoạn và người khoẻ mạnh , người xấu xa và người đẹp đẽ , có hạng người làm gì cũng không ai làm theo, nói chi cũng không ai nghe và hạng người có thế lực, làm gì cũng có người theo, nói chi cũng có người nghe, có người nghèo khổ và người giàu sang, có người sanh trưởng trong gia đình bần tiện và có người dòng dõi cao sang, có người ngu dốt và có người trí tuệ? "
Đức Phật đã trả lời vắn tắt như sau:
"Tất cả chúng sanh đều mang theo cái Nghiệp (Kamma) của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa. Chính vì cái nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa chúng sanh.(5)
Cái dị đồng này chính là quả báo tức là kết quả của các hành động và khuynh hướng của chúng ta trong quá khứ và trong hiện tại, tức là do nghiệp tạo ra. Như vậy, nghiệp là gì, đóng vai trò như thế nào trong tiến trình đầu thai, tái sanh của chúng sinh?
Nghiệp nguyên ngữ tiếng Phạn là Karma, P?li là Kamma và Trung quốc phiên âm thành Yết-ma, theo đúng nghĩa của danh từ, là hành động, hay việc làm, tức là hành vi tạo tác, là những gì đã tạo ra do tác dụng của ý chí v.v... Định nghĩa rốt ráo nhất của Nghiệp là Tác ý (cetana). Tư tưởng, lời nói, việc làm, thường khởi xuất là do "ý muốn làm" tạo nên động cơ. Phật Giáo gọi ý muốn làm ấy là Tác ý (cetana). Tất cả những hành động có tác ý, dầu biểu hiện bằng thân, khẩu, hay ý, đều tạo Nghiệp. Tất cả những hành động có tác ý, thiện hay bất thiện, đều tạo Nghiệp. Theo định nghĩa này thì những hành động không có chủ tâm, mặc dầu đã biểu hiện bằng lời nói hay việc làm, đều không tạo Nghiệp. Đó là nội dung lời dạy của Đức Phật: "Nầy hỡi các Tỳ Khưu, Như Lai xác nhận rằng chính Tác ý là Nghiệp. Do có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu hay ý. (6) Từ Tác ý phát sinh ra hành động được thể hiện qua thân xác, lời nói và ý tưởng, thế nên, Nghiệp bao gồm Thân Nghiệp, Khẩu Nghiệp và YÙ Nghiệp trong đó YÙ Nghiệp đóng vai trò trội bật vì như đã nói, Tác ý chính là Nghiệp. Một cách cụ thể, tất cả những tác nhân trong hiện tại đều được chỉ đạo bởi ý chí phát sinh ra trong tâm thức, hay những tác động tâm ý khiến cho thân và miệng làm theo ý chí sai khiến, cho nên trong Kinh Trung A-hàm 32, Đức Phật đã khẳng định điều đó một cách rõ ràng: "Trong ba nghiệp thân, khẩu và, ý thì ý nghiệp là tối quan trọng." (7)
Khi ta liệng một hòn đá vào cửa kính, cửa kính sẽ bị vỡ để lại một cái lỗ hỗng. Lỗ hỗng lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào viên đá mà ta ném lớn hay nhỏ. Đây là một thí dụ đơn giản nhất về luật nhân quả trong đó nhân là hành động ném đá và quả là lỗ hỗng ở trên cửa kính. Trong quá trình tạo nghiệp, theo định luật tự nhiên, tất cả các tác nhân đều đưa đến kết quả. Quả, theo điều kiện nhân duyên sẽ được chín mùi vào một thời điểm nào đó ở ngay trong hiện kiếp hoặc các kiếp tương lai. Quả báo như vậy luôn luôn tương ứng với tác nhân đã tạo ra, không thể nào tránh khỏi được. Như trong Tạp A-hàm, Ngũ Phần luật, Trường A-hàm kinh, Pháp cú (Dhammapada) 127, đức Phật đã dạy:
"Hết thảy cái có sinh đều có tử, thọ mệnh cuối cùng rồi cũng phải hết.
"Y vào nghiệp mà chịu duyên báo, thiện, ác đều có quả của nó.
"Tu phúc được sinh lên cõi trời, tạo ác thì phải vào địa ngục.
"Tu đạo thì dứt được sống, chết, mà nhập niết-bàn vĩnh viễn.
"Không ở trên không, không dưới biển, không trong rừng núi, không một chỗ nào trốn được cái chết.
"Ngay đến chư Phật Bồ-tát, Duyên giác, Thinh văn còn phải bỏ cái thân vô thường, huống nữa là phàm phu." (Cool
Các loại Nghiệp ảnh hưởng đến sự tái sanh.
Nghiệp như vậy gắn bó mật thiết với luật nhân quả. Tác nhân của những hành vi trong quá khứ, hình thành nên một năng lực liên tục cho đến ngày hôm nay thể hiện qua thọ quả. Từ nghiệp nhân đến nghiệp quả trải qua một dòng tương tục như là một ngọn lửa từ một ngọn đèn được truyền nối qua những ngọn đèn kế tiếp, đây chính là sức mạnh của nghiệp mà thường trong Phật giáo gọi là nghiệp lực. Khi cái thọ mệnh cuối cùng của một đời người chấm dứt, như đã nói ở trên, cái nghiệp lực này sẽ dẫn dắt "chúng sanh đầu thai" đi tìm chỗ tái sanh. Cái nghiệp thức này về mặt giáo nghĩa có thể đã được lý giải khác nhau tùy theo quan điểm của các bộ phái Phật giáo Tiểu thừa hay Đại thừa, bài viết này không có nhu cầu đi sâu vào việc nghiên cứu về chủ đề này, chỉ nhấn mạnh đến các loại Nghiệp đã có những tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ vào tiến trình đầu thai, đó là bốn loại Nghiệp tác động bao gồm Nghiệp Tái Tạo (Janaka Kamma), Nghiệp Trợ Duyên (Upatthambhaka Kamma), Nghiệp Bổ Đồng (Upapidaka Kamma), và Nghiệp Tiêu Diệt (Upaghataka Kamma); cùng bốn loại Nghiệp báo ứng bao gồm: Trọng Nghiệp (Garuka Kamma ), Cận Tử Nghiệp (Asanna Kamma ), Thường Nghiệp (Acinna Kamma ), và Tích Trữ Nghiệp (Katatta Kamma ).
Phật Giáo quan niệm rằng, những tư tưởng cuối cùng của con người trước phút lâm chung đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định cảnh giới tái sanh sắp tới. Đây là lúc mà Nghiệp lành hay dữ phát huy năng lực mạnh nhất tạo điều kiện cho sự đầu thai thế nên được gọi là Nghiệp Tái Tạo.Theo nhận thức thông thường, Nghiệp Tái Tạo này chính là những vốn liếng công đức, phẩm hạnh của cả một đời người, ai tích lũy thiện nghiệp sẽ được đầu thai về những cảnh giới tốt đẹp và ngược lại. Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy, đôi lúc vẫn có những đột biến bất ngờ xảy ra trước phút lâm chung. Có người suốt đời gieo trồng thiện nghiệp nhưng trước khi lìa đời do ảnh hưởng của ngoại cảnh, một niệm ác bỗng khởi lên đưa thần thức của họ đến những cảnh giới không tốt đẹp. Cũng có những trường hợp trái lại, một người suốt đời làm việc ác, nhưng trước phút lâm chung tỉnh ngộ và hối hận, tâm thức của họ khởi lên thiện niệm, họ liền hưởng được quả lành, thần thức nương vào đó mà được tái sanh vào những cảnh giới tốt đẹp hơn. Điều này giải thích tại sao một người trước phút lâm chung cần có một vị thầy hay một thiện hữu trí thức ở bên cạnh.
Tuy nhiên đến đây có người sẽ đặt vấn đề: Nếu cho rằng cảnh giới tái sanh tùy thuộc vào một niệm phát khởi trước phút lâm chung thì như vậy kẻ làm thiện hay ác đến phút cuối đời đâu có gì khác nhau? Về vấn đề này chúng ta phải nên hiểu rằng chuyện đột biến chỉ là những trường hợp cá biệt và cũng đều có nhân duyên của nó, hơn nữa cho dù có đột biến xảy ra bởi ngoại cảnh, những nghiệp lành hay dữ mà một cá nhân tích lũy trong kiếp sống sẽ không mất đi, nó trở thành Nghiệp quá khứ và tác động trở lại vào Nghiệp Tái Tạo khi hội đủ nhân duyên trong dòng luân hồi bất tận của một chúng sanh. Nếu Nghiệp quá khứ này chen vào hỗ trợ cho Nghiệp Tái Tạo trong chiều hướng tích cực tức là giúp thần thức đầu thai về những cảnh giới tốt đẹp hơn thì được gọi là "Nghiệp Trợ Duyên" còn nó làm ngăn trở, chướng ngại theo chiều hướng tiêu cực thì gọi là "Nghiệp Bổ Đồng". Ngoài ra, cũng trong giai đoạn quyết định này, đột nhiên một Nghiệp quá khứ khác nghịch chiều và mạnh hơn, xuất hiện một cách bất ngờ, có khả năng tiêu diệt hoàn toàn năng lực của các Nghiệp khác, tác động ngay vào tiến trình đầu thai thì được gọi là "Nghiệp Tiêu Diệt" (Upaghataka Kamma).
Về mặt Nghiệp quả, tức là khả năng báo ứng (vipakadanavasena), loại Nghiệp đầu tiên được nói đến là "Trọng Nghiệp" (Garuka Kamma ), tức là Nghiệp nặng, lành hay dữ, được gây ra do một hành động đặc biệt nghiêm trọng. Loại Nghiệp này sẽ tạ nên một hậu quả tức thời ngay trong hiện kiếp hoặc trở thành nhân tố chính dẫn đến sự tái sanh trong kiếp kế tiếp. Nếu lúc tái sanh mà không có một Trọng Nghiệp làm điều kiện cho sự đầu thai vào kiếp kế tiếp thì "Cận Tử Nghiệp" (Asanna Kamma ) sẽ là nghiệp lực dắt dẫn thần thức đi thọ sanh. Cận Tử Nghiệp là hành vi cuối cùng, hay cũng có thể là bất cứ hình ảnh, ý niệm nào mà chập tư tưởng cuối cùng nhớ đến trước khi lâm chung. Về mặt tác dụng, loại Cận Tử Nghiệp này gần giống với loại Nghiệp Tái Tạo như đã nói ở trên. Trong giai đoạn thân trung ấm, nếu tiến trình đầu thai không bị tác động bởi hai loại Nghiệp trên thì loại nghiệp thứ ba tức là "Thường Nghiệp" (Acinna Kamma) sẽ phát huy tác dụng. Thường Nghiệp là tất cả những hành động, việc làm, thói quen mà ta thường lập đi lập lại trong đời sống hằng ngày, un đúc trở thành tập khí, tâm tánh của mỗi con người. Đó cũng là những điều mà ta thường tưởng nhớ đến hoặc ưa thích hơn hết trong kiếp sống hiện tại, chẳng hạn như những tình cảm yêu thương gắn bó trong mối liên hệ gia đình, cha mẹ, vợ chồng, con cái,? và rồi trong phút lâm chung chúng sẽ trở nên những hình ảnh gắn bó với thần thức, tạo nên tác động ảnh hưởng vào tiến trình đầu thai. Cuối cùng những trường hợp nào không thuộc vào một trong ba loại nghiệp kể trên thì đưọc gom chung lại thành một loại là Nghiệp Tích Trữ (Katatta Kamma) tức là cái vốn dự trữ của một cá nhân.
Tạm Kết Luận
Chúng ta đã đi qua một số khái niệm cơ bản về luật nhân quả, nghiệp báo và luân hồi làm nền tảng cho lý thuyết đầu thai, tái sanh theo quan điểm Phật giáo. Tuy nhiên để tạm thời kết thúc vấn đề này có ba điểm mà chúng ta không thể không lưu ý:
Thứ nhất, thuyết tái sanh luân hồi không phải là một học thuyết của riêng Phật giáo. Như đã trình bày ở trên, đây là một gia sản tinh thần của nhân loại được chia xẻ bởi hầu hết các tôn giáo lớn trên địa cầu. Ngay cả Cơ Đốc Giáo, niềm tin này cũng đã phảng phất trong Thánh kinh Tân Ước, cụ thể như trong "Tin Lành Theo Thánh Ma-Thi-Ơ":
Khi Jêsus đến trong địa phận Sê-sa-rê Phi-líp bèn hỏi môn đồ rằng : " Người ta nói Con người là ai ? "
Họ thưa rằng : " Người thì nói Giăng Báp-Tít, kẻ thì nói Ê-li, kẻ khác lại nói Giê-rê-mi hay là một tiên tri nào đó. " (Matthew 16 :13-14) 42.
Hoặc một đoạn trong " Tin Lành Theo Thánh Giăng " :
Khi Jêsus đi qua, thấy một người mù từ thuở sanh ra. Môn đồ hỏi Ngài rằng : " Ra-bi, ai đã phạm tội, người này hay là cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù? "
Jêsus đáp rằng : " Người này không phạm tội, cha mẹ người cũng không, nhưng ấy để cho công việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người. " (John 9 :1-2) 256
Thứ hai, định luật Nghiệp Báo của Phật giáo hoàn toàn khác biệt với Thuyết Định Mệnh hay Tiền Định ở một số tín ngưỡng khác. Với Phật giáo, số phận của một con người không hề được an bài, sắp đặt bởi bàn tay của một đấng chủ tể hay Thượng Đế nào, và do đó không ai có thể cãi đổi được. Tuy cho rằng nguyên nhân tạo nên hoàn cảnh chênh lệch trong đời sống của con người là sự khác biệt giữa cái Nghiệp mỗi chúng sanh tạo ra, nhưng Phật Giáo không bao giờ xem Nghiệp là một nguyên nhân duy nhất và điều quan trọng hơn, Phật giáo còn quan niệm rằng dòng sinh mệnh của một con người là một dòng chảy liên tục và sống động mà mỗi con người có khả năng góp phần vào làm chuyển đổi dòng chảy đó ngay trong kiếp sống này. Tinh thần này đã được thể hiện rõ ràng trong lời Đức Phật phê phán về sự hiểu biết về Nghiệp và luật nhân quả một cách cứng ngắt:
"Nếu luận như vậy và quả quyết rằng do những hành động trong quá khứ mà con người trở thành sát nhân, trộm cướp, dâm loàn, láo xược, thô lỗ, nhảm nhí, tham lam, xảo quyệt, hư hèn, thì ta có lý do để ỷ lại, dựa trên quá khứ mà không muốn thực hiện, không cố gắng thực hiện,và cũng không cần thiết phải thực hiện, hay không thực hiện, một hành động, dầu hành động ấy có đáng thực hiện hay không. "
Trên cơ sở của những học thuyết và niềm tin về giáo lý tái sanh, luân hồi, Phật giáo xem phôi bào là một sinh mệnh, vì đây là một " chúng sanh đầu thai ". Gần đây, qua những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi, mà nổi bật nhất là của BS/GS Ian Stevenson, Khoa trưởng Phân Khoa Thần Kinh và Phân Tâm, Đại Học Y Khoa Virginia, HK (1957-1967), đã đưa ra rất nhiều những bằng chứng có tính thuyết phục, vấn đề tái sanh, đầu thai, tiền kiếp, hậu kiếp trong thời đại ngày nay đã không còn là chuyện mê tín, hoang đường. Viện thống kê Gallup danh tiếng của Hoa Kỳ trong năm 1999 đã thực hiện một cuộc thăm dò về đề tài này, kết quả cho thấy đã có đến trên 20% người Cơ Đốc tin tưởng vào chuyện tái sanh. Dr. Christopher Bache tác giả cuốn "Life Cycles: Reincarnation and the Web of Life" và đồng thời cũng là Giáo sư giảng dạy bộ môn tôn giáo tại Trưòng Đại học Youngstown State University trong một cuộc phỏng vấn đặc biệt dành cho hãng AOL mới đây, đã khẳng định rằng, "Với các chứng nghiệm càng ngày càng mạnh mẽ hơn, các nhà thờ rồi đây sẽ phải chấp nhận chuyện này như là một vấn đề đơn giản trong cuộc sống. " (9) Phát xuất từ những công trình nghiên cứu này mà một phương thức trị liệu mới được chấp nhận để điều trị những căn bệnh bất trị, những căn bệnh mà các phương tiện y khoa hiện đại đã bó tay không tìm ra nguyên nhân, đó là bộ môn THÔI MIÊN TRỊ LIỆU PHÁP, qua đó những chuyên gia về thôi miên có thể giúp bệnh nhân đi trở ngược lại quá khứ, nhận ra rằng căn bệnh của họ có nguyên nhân từ những kiếp trước và nhờ thế được chữa khỏi bệnh.
Thứ ba, khi đã hiểu rõ vấn đề tái sanh, đầu thai, luân hồi, nghiệp quả theo quan điểm Phật giáo, người ta sẽ rất dễ dàng hiểu được cái chết là gì và ý nghĩa của nó trong chu kỳ thành, trụ, hoại, không của vạn pháp. Bồ tát Thế Thân trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharmakosha), cho rằng cuộc sống là cái giá nâng đỡ của nhiệt và tâm thức, sự dừng lại của hoạt động này là cái chết. Thời gian thân thể vật chất và tâm thức kết hợp là đời sống, sự tách lìa chúng tạo ra cái chết. Về ba mức độ biểu lộ của thân và tâm, tức là mức độ thô, tế và rất vi tế, cái chết là sự chia lìa giữa tâm thức và thân xác bởi vì không thể có sự chia lìa giữa tâm thức vi tế nhất và yếu tố vật chất vi tế nhất. Nhận định này đã góp phần vào việc lý giải lời Phật dạy trong Trung Bộ Kinh đã được trích dẫn ở trên: "Nếu nhằm lúc thọ thai của người mẹ và chúng sanh đi đầu thai cũng có mặt trong lúc giao hợp, nếu hội đủ ba nhân: tinh-trùng, noãn bào và thức, thì mầm sống được gieo trồng: "Này các Tỳ-kheo, nơi nào có ba thành tố ấy hợp lại thì tại nơi đó một mầm sống được gieo". Từ cách nhìn của Phật giáo, cái chết như vậy bao gồm 2 yếu tố: sự tan rã của sắc uẩn được báo hiệu bằng sự giá lạnh của cơ thể (không còn nhiệt) và sự chấp nhận của thức rời bỏ thể xác cũ để đi vào cảnh giới mới hay giai đoạn thân trung ấm. Trong hai yếu tố này, sự hiểu biết của nhà khoa học -cụ thể là người thầy thuốc- về tâm thức, hay thần thức cho đến nay vẫn chỉ là một con số không, thế nên họ không có đủ tư cách để can thiệp vào việc quyết định dòng sinh mệnh hay cái chết của một con người. Ngay cả đối với những trường hợp mà giới y khoa cho là " chết não bộ " hay " tình trạng cây cỏ ", việc chấm dứt thọ mạng của những chúng sanh này dù dưới bất cứ chiêu bài, nhãn hiệu nào đều là một hành vi sát nhân. Tham dự vào công việc này, là Phật tử bạn còn phạm một tội ác khác, đó là cản trở tiến trình đầu thai của một chúng sinh, bởi lẽ làm sao bạn biết được lúc nào thì thần thức chuẩn bị rời bỏ thân xác, nhất là khi thân xác vẫn còn nóng ấm, nghĩa là chưa chết? Chúng ta chưa có đủ trí tuệ của một đấng Giác Ngộ, nói về chuyện trợ tử thì cũng chỉ là những người mù nói chuyện về ánh sáng, tuy nhiên căn cứ vào những lời dạy của Ngài còn để lại, ta vẫn có thể có được những ánh sáng soi đường...
CHÚ THÍCH -.
(1) Beyond Dogma, HH the Dalai Lama. Rupa & Co., 1996. P. 11.
(2) Beyond Dogma, HH the Dalai Lama .Rupa & Co., 1996. P. 43.
(3) The Tibetan Book of The Dead, Evans Wentz, p.p.183-184.
(4) The Tibetan Book of The Dead, Evans Wentz, p.186.
(5) Atthasalini, trang 63; The Expositor, phần I, trang 91."LÝ NHÂN QUẢ, Nàrada Mahà Thera. Phạm Kim Khánh dịch -(Trích "Đức Phật và Phật Pháp", Chương 18-21)"
(6) Anguttara Nikaya, iii, 415; The Expositor phần I, trang 117; Atthasalini, trang 88 "LÝ NHÂN QUẢ, Nàrada Mahà Thera. Phạm Kim Khánh dịch -(Trích "Đức Phật và Phật Pháp", Chương 18-21)"
(7) Trung A-hàm 32, Đ. 1
(Cool Tạp A-hàm 3, tr.891, Ngũ Phần luật, Đ.21, trang: 28a. Trường A-hàm, Đại 1, tr.127.
(9) Laura Sheahen phỏng vấn Life Cycles: Reincarnation and the Web of Life
SÁCH, TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bên Kia Cửa Tử -Trần Ngọc Anh
- Bí Ẩn Về Tiền Kiếp Hậu Kiếp - Đoàn Văn Thông
- Kinh Thánh - The Gideons International.
- Kinh Trường A Hàm - Thích Thiện Siêu
- Luật Quả Báo - Đoàn Văn Thông
- Past Lives, Future Lives - Dr. Bruce Goldberg
- Sự Sống và Sự Chết trong Phật Giáo - Thích Thiện Châu
- Một nhận định về A-lại-da Thức - Hòa thượng Walpola Ràhula - Tỳ kheo Giác Nguyên dịch Việt
- Luân hồi, nghiệp báo - Thích Đức Thắng
- Nhân Quả - Thích Đức Thắng
- Giáo lý Phật giáo về sự Tái Sanh - Đại Đức Narada Maha Thera - Bác sĩ Nguyễn Trạch Thiện dịch
- Chết là gì? - Tenzin Gyatso- Thiện Tri Thức dịch

_________________




Q9A1_THANG LONG_UNIVERSITY_FOREVER !!!


Về Đầu Trang Go down
http://q9a1-thanglong.friendhood.net
khach
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Bí ẩn của linh hồn   Sun Jul 03, 2011 8:34 pm



Bí ẩn của linh hồn

Tháng sáu 17, 2011
Posted in: Bí Ẩn-Siêu Thường

Bạn có tin ở linh hồn? Bạn không tin ở linh hồn? Thật khó trả lời, vì đó là một khái niệm mà chưa bao giờ con người thực sự làm chủ. Nhưng giải thích sự tồn tại và vận động của thế giới xung quanh và thậm chí là của chính bản thân mình là nhu cầu không bao giờ vơi cạn của con người. Vì thế, các nhà khoa học vẫn luôn nỗ lực tìm kiếm câu trả lời về linh hồn
>>Liệu linh hồn có tồn tại hay không?

Từ một câu chuyện kỳ lạ tại Tây Tạng

Tại vùng đất huyền bí nhất trên thế giới, Tây Tạng cho đến ngày nay vẫn còn lưu truyền một sự kiện hết sức kỳ lạ về “Người cầu vồng“. Sự kiện xảy ra năm 1998 tại Kham, khu vực hẻo lánh phía đông Tây Tạng, sự biến mất kỳ lạ của vị Lạt ma Khenpo A-chos. Ông là một trong các vị Lạt ma có uy tín nhất trong vùng, thường xuyên thuyết giảng về đạo Phật dù Chính phủ Trung Quốc có những quy định rất khắt khe về việc này. Vào tuổi 80 vị Lạt ma vẫn hoàn toàn khoẻ mạnh. Một hôm, Lạt ma Khenpo A-chos lên nằm trên giường của mình, miệng lẩm bẩm câu thần chú Tây Tạng “Om mani padme hum” và qua đời. Ngay sau đó, cầu vồng xuất hiện trên căn phòng nhỏ của ông suốt cả ngày.

Những người học trò của Khenpo A-chos tổ chức lễ cầu kinh để linh hồn người thầy siêu thoát. Nhưng hiện tượng lạ thường xảy ra: da thịt của vị Lạt ma bắt đầu hồng hào trở lại. Dường như Khenpo A-chos đang từ từ tái sinh. Học trò của ông đi hỏi ý kiến một vị Lạt ma và được lời khuyên hãy bọc thi thể của thầy lại và tiếp tục cầu kinh. Họ làm đúng như lời chỉ dẫn. Một tuần sau, khi mở tấm áo bọc thi thể vị Lạt ma, người ta chỉ thấy vài sợi tóc còn sót lại trên gối, thi thể của Khenpo A-chos đã hoàn toàn biến mất. Từ đó người Tây Tạng gọi ông là “Người cầu vồng“.


Bức tranh Ascend in the Empyrean của hoạ sĩ Hieronymus Bosch miêu tả linh hồn về trời (Ảnh: apocalyptic-theories)



Câu chuyện thần bí lan ra khắp nơi. Cha Francis Tiso – một cha đạo dòng thánh Benedict tại Mỹ cũng nghe được câu chuyện kỳ bí này. Ông là một trong những chuyên gia nghiên cứu về đạo Phật và đã có học vị tiến sĩ trong lĩnh vực này. Cha Francis Tiso tổ chức một chuyến đi đến Kham để ghi lại lời kể của những người đã chứng kiến sự kiện. Người mà cha Tiso muốn gặp nhất là vị Lạt ma đã được các học trò của Lạt ma A-chos hỏi ý kiến. Vị Lạt ma nói với cha Tiso rằng sự biến mất của Lạt ma A-chos là do một lực vật chất xuất phát từ trong linh hồn của ông ấy. Đây không phải là một câu nói mang hàm ý triết học hoặc ẩn dụ, điều ông muốn nói ở đây là một sự thực đã xảy ra. Vị Lạt ma đưa cho cha Tiso xem một bức ảnh của Lạt ma A-chos khi ông đã qua đời. Bằng mắt thường có thể nhìn thấy rất rõ một luồng ánh sáng phát ra từ thân thể của Lạt ma A-chos. Xem bức ảnh, cha Tiso thốt lên: “Đây là sự giao hoà giữa cái có thể và không thể, giữa một con người hiện hữu và con người siêu phàm. Một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm được cơ sở để chứng minh rằng nó có thật“.

Điều mà cha Tiso muốn tìm trong sự kiện xảy ra tại Kham cũng nằm trong vấn đề lớn mà ông đang nghiên cứu, đó là có hay không sự tồn tại của linh hồn con người. Hiện nay, những cuộc tranh cãi xung quanh vấn đề này vẫn diễn ra quyết liệt. Mấu chốt của vấn đề nằm ở chỗ, nếu có sự tồn tại của linh hồn thì làm sao để xác định được. Những người cho rằng linh hồn là có thật dựa vào các tài liệu tôn g

Một Lạt ma ở Kham, vùng đất đầy bí ẩn của Tây Tạng (Ảnh: SGTT)



iáo để chứng minh cho sự tồn tại của nó, còn người phản đối thì cho rằng các lập luận đó quá mơ hồ và không thể đủ độ tin cậy khi được kiểm chứng bằng các nghiên cứu khoa học.

Những kiểm chứng khoa học

Nhiều người đã cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng các thí nghiệm khoa học. Một trong số đó là bác sĩ Duncan MacDougall. Sau khi tiến hành thí nghiệm trên 7 người chết, ông phát hiện rằng ngay sau khi qua đời, cân nặng của người chết giảm đi từ 11 đến 43g. Ông cho rằng đó là phần vật chất mà người ta thường gọi là linh hồn thoát ra khỏi thi thể. Sau này, nhiều người khác cũng thử lặp lại thí nghiệm của Duncan, nhưng câu trả lời cho sự tồn tại của linh hồn vẫn chưa được làm sáng tỏ. Phần trọng lượng bị mất đi đó của con người sau khi chết được giải thích chỉ đơn giản là sự bốc hơi của lượng nước có sẵn bên trong cơ thể.

Một bác sĩ khác cũng cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng những thí nghiệm khoa học, đó làGerard Nahum, giám đốc bộ phận nghiên cứu của công ty dược phẩm Berlex. Ông đã bỏ ra 20 năm chỉ để nghiên cứu lĩnh vực này. Theo Nahum, vấn đề khó nhất để xác định sự tồn tại của linh hồn là phải tìm được những chuỗi điện từ phát ra từ thi thể người chết. Ông đặt hàng loạt những máy dò hiện đại xung quanh thi thể (máy viba, máy dò tia hồng ngoại, tia gama, điện từ,…) để tìm ra “linh hồn“. Nahum chắc chắn rằng sau khi chết, tất cả những gì thuộc về người đó khi họ còn sống không thể ngay lập tức mất đi hoàn toàn được. Nó sẽ phải qua một quá trình chuyển biến đến một nơi nào đó trong không gian. Tại những nơi đó, chúng sẽ được giữ gìn và tồn tại vĩnh cửu. Nhưng khi ông thử trình bày ý tưởng của mình với các trường đại học tại Mỹ thì tất cả đều từ chối. Ngay cả nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng không chấp nhận tài trợ cho những nghiên cứu của Nahum. Vì thế những nỗ lực của nhà khoa học này giậm chân tại chỗ…“Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất” - Lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói.


Tại Đại học Virginia, một chuyên gia tâm thần học là Gruce Greysoncũng có các nghiên cứu liên quan đến sự tồn tại của linh hồn. Greyson là người đầu tiên tập trung vào tâm lý của những người đang ở ranh giới của sự sống và cái chết. Ông phát hiện ra rằng một vài người đang hấp hối đều nhìn thấy một luồng ánh sáng xanh rất mạnh, và cảm thấy một đường hầm đang dẫn họ về phía trước. Nhưng thực ra Greyson lại không hoàn toàn tin tưởng vào sự tồn tại của linh hồn. Ông cho rằng, phải có nhiều nghiên cứu nữa thì mới chứng tỏ được sự tồn tại hay không tồn tại của linh hồn.

Những câu trả lời có căn cứ từ khoa học hoặc tôn giáo hiện nay vẫn chưa thể coi là thoả đáng. Qua 30 năm tìm hiểu về trạng thái tâm thần của người hấp hối, ông đã phát hiện thấy khoảng 10% số người trong số các bệnh nhân suy tim đều có dấu hiệu hoạt động của não trong khi họ đang bất tỉnh. Sau khi được cứu chữa và tỉnh lại, những bệnh nhân này cho biết họ thấy những hoạt động của bác sĩ và y tá ở một điểm cao hơn. Tiếp tục nghiên cứu, Greyson cho đặt một màn hình với những giao diện khác nhau bên ngoài phòng cấp cứu bệnh nhân bị suy tim. Ông cho rằng, nếu thật sự có sự tồn tại của linh hồn, thì những người bị suy tim sau khi tỉnh lại sẽ biết được màu sắc của màn hình đặt tại phòng bên cạnh. 50 người đã được thử nghiệm, nhưng không một ai biết được màn hình có màu gì. Nhà khoa học giải thích rằng đó là do tác dụng của thuốc gây mê đã cản trở sự thoát ra của linh hồn.

Pim van Lommel, bác sĩ chuyên khoa tim người Đan Mạch cũng đồng ý với quan điểm của Greyson. Lommel cho rằng con người không chỉ có một ý thức, trong khi họ đang ở trong tình trạng hấp hối thì những ý thức khác hoạt động và mở rộng phạm vi của nó nhiều hơn so với bất cứ thời điểm nào trước đó. Lúc đó họ có thể hồi tưởng lại những khoảng thời gian xa xôi nhất trong quá khứ và cảm nhận được một cách rõ ràng hơn bình thường sự vật và con người xung quanh. Trong khi đó, thần kinh trung ương của họ vẫn đang ngừng hoạt động.

Linh hồn tồn tại ở dạng nào? Và linh hồn sẽ đi về đâu sau cái chết? (Ảnh: SGTT)



Những giả thiết trên đã đặt ra một sự nghi ngờ đối với kiến thức mà chúng ta đã biết và thừa nhận từ lâu: Ý thức là sản phẩm của não bộ. Điều đó giờ đây có thể không còn chính xác nữa. Bởi vì nếu như vậy, ý thức sẽ không thể tồn tại nếu não bộ ngừng hoạt động. Nhưng các thí nghiệm ở trên thì đều chứng minh cho điều ngược lại.

Còn hai học giả của trường Oxford là Stuart Hameroff và Roger Penrose lại giải thích sự tồn tại của linh hồn bằng quá trình lượng tử. Theo hai ông, não bộ con người được chia ra làm hàng tỉ ô siêu nhỏ, các ô này liên kết với nhau thông qua một quá trình di chuyển của các lượng tử. Khi cơ thể một người ngừng hoạt động, máu sẽ không được chuyển đến các ô này, và chúng cũng ngừng hoạt động. Nhưng sự di chuyển của các lượng tử thì không mất đi. Chúng sẽ thoát ra bên ngoài não bộ và ghi nhận những gì tồn tại ở không gian xung quanh. Nếu người đó tỉnh lại, các lượng tử sẽ quay trở lại não và hoạt động với chức năng thông thường của chúng. Những gì chúng ghi lại được khi thoát ra bên ngoài cũng được não bộ tiếp nhận. Và đó là lý do tại sao một người hấp hối nhưng sau đó được cứu sống lại có thể biết được những sự kiện mà anh ta không hề tận mắt chứng kiến hoặc được nghe kể lại.

Vậy nếu người đó không tỉnh lại được nữa thì các chuỗi lượng tử đó sẽ di chuyển đi đâu? Tiếp tục mở rộng giả thuyết của Hameroff và Penrose, bác sĩ Ian Stevenson đã nghiên cứu về khả năng các chuỗi lượng tử đó sẽ được tiếp nhận trong bộ não của trẻ sơ sinh, hay nói cách khác đó chính là sự tái sinh! Sau khi Ian Stevenson mất, con trai ông là Tucker tiếp tục theo đuổi giả thuyết này. Tucker tiến hành phỏng vấn rất nhiều trẻ em, trong số đó ông đã tập hợp được 1.400 em có khả năng biết được những sự kiện xảy ra trước khi chúng sinh. Thậm chí một vài em còn có thể kể rất rõ những sự kiện trong cả các giai đoạn phát triển rất sớm của lịch sử loài người.

Thực tế cho đến nay, dù có tập hợp được tất cả các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này thì chúng ta cũng không thể nào biết được chính xác liệu có sự tồn tại của linh hồn hay không, và nếu có tồn tại thì chúng sẽ tồn tại ở dạng nào. Có lẽ khoa học không phải lúc nào cũng là giải pháp tối ưu cho tất cả mọi vấn đề. Như lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói: “Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất.”
Về Đầu Trang Go down
tu vi
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Thế giới vong linh và việc hóa giải duyên nghiệp   Sat Jul 09, 2011 10:44 am



Tử vi và thế giới vong linh

I Đạo và Thuật


Trong "đạo" có "thuật". "Đạo" là nền tảng tri thức hướng dẫn căn bản, "thuật" là công cụ để bảo vệ, giúp phát triển & mở mang hiểu biết và sức mạnh của "đạo" hay người học "đạo". Ví dụ, kungfu Thiếu Lâm Tự là "thuật" dùng để cường thân luyện thể, giúp các sư sãi được tu tập tốt hơn và tự bảo vệ mình cũng như những người xung quanh trong các điều kiện khó khăn hay khắc nghiệt. Môn Tử Vi cũng là một "thuật" trong "đạo" lý nhân sinh.
Không hiểu biết về "đạo", hay có "đạo" không đến nơi đến chốn thì không nên học "thuật", vì có "thuật" mà vô "đạo" sẽ: nhẹ thì, dễ bị "tẩu hỏa nhập ma" mang hại cho chính mình, nặng thì là nghiệp chướng nguy hiểm khôn lường của xã hội, là "tà đạo" - đúng như anh đã chia xẻ. Vì thế, những người mưu cầu tìm "thuật" mà không học "đạo" kết cục sẽ không tốt. Như tôi đã nhắc đi nhắc lại ở nhiều bài trước mà chắc các bạn đã đọc qua: mọi sự do "duyên" và nên để tùy "duyên". Không phải ai học "đạo" sẽ biết "thuật" và ngược lại. Trên con đường của "đạo", "thuật" đến với mình hay không là do "duyên".
Trong đạo Thiên Chúa có các phép cầu nguyện sức mạnh (power prayer), mời gọi Thánh Linh (Spirit), ơn tứ nói tiếng lạ (Speak in Tongue), tiên tri (Prophecy), trị và trục quỷ (Exorcism) khi chúng ám hại con người, nhưng không phải hầu hết mục sư hay linh mục nào cũng biết hay làm tốt (skillful) những "thuật" này. Trong đạo Phật cũng có nhiều "thuật" tương tự hay phong phú hơn, và không phải người tu hành nào cũng biết hay thông thạo những "thuật" đó. Và từ đó sinh ra giữa những người cùng "đạo" với nhau: có lắm trường hợp "ghen tị ganh ghét" giữa người có "thuật" và người không biết "thuật"! Và cũng có người mạo nhận rằng mình biết "thuật" để tạo ra "uy tín" riêng cho mình giữa các bạn đồng "đạo" đó.

Khi các bạn học "đạo" đến một mức độ tương đối, và muốn tiến xa trên con đường học "đạo" đó (dù là bạn chọn bất kỳ "chánh đạo" nào), việc tiên khởi là tâm bạn "không chấp" (Thiên Không) và hòa nhã vui vẻ với tình yêu thương (Hồng Loan) trong bất kỳ mọi việc: học hành, câu nói, đối xử với cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, bạn bè, đồng nghiệp và những người xung quanh. Khi "tâm" bạn đã "nhập" được Thiên Không, lúc đó cung Huynh của bạn sẽ xuất hiện Thái Tuế, và Nô sẽ dĩ nhiên là Tuế Phá - sẽ có cật vấn, lý luận, phản biện, bài bác, chỉ trích v.v... của mọi người "Huynh-Nô" đó xung quanh bạn, nhưng không sợ !

II Thế giới vong Linh


Tuy mỗi hệ thống tôn giáo trên thế giới đều "bất đồng ý kiến" về sự sinh hoạt & mục đích của các Vong Linh (VL) (bạn có thể tham khảo nhanh tài liệu tiếng Anh: đa số đều công nhận sự "tồn tại" chung của VL & các giới "thiện" & "ác" song song với quá trình "sanh" & "tử" của con người. Theo tôi biết thì VL cũng chia ra nhiều chủng tộc như thế giới con người. Nếu như các VL gốc "Việt nam" có vị thánh cai quản sự sống & chết, thì các VL gốc "ngoại quốc" cũng có vị có chức năng tương tự ! Rồi sự "khác biệt ngôn ngữ" giữa các chủng tộc VL, tuy đều là có sự liên thông chung ít nhiều về "tâm". Thế giới VL là có thật, nhưng tùy theo tôn giáo & văn hóa, và cả sự "văn minh" của các dân tộc trên thế giới mà hiểu biết về thế giới VL này bị giới hạn, bóp méo hay thông thoáng. Với trí thức ngày càng được nâng cao trong thế giới "con người", chúng ta sẽ càng có nhiều phương tiện & thông tin để giúp chúng ta tìm hiểu ngược về nguồn gốc của chúng ta trên đời này - về thế giới VL.
VL là một thể dạng có tính chất đầy đủ nhất của một "người" & như tôi đã nói, không bị gò bó bởi chướng ngại vật lý khi dịch chuyển trong thế giới con người. Khi chúng ta được "đầu thai" làm kiếp người này bằng xương bằng thịt, thì VL trong cái xác con người đó đã bị ức chế khá nhiều - giống như 1 cỗ máy bị tắt đi một số chức năng. Bởi thế đã có câu than vãn: "con người không hoàn hảo". Cũng dễ hiểu thôi, xác con người là một vật thể tập hợp bởi hóa chất (hormone) và các phân tử và tế bào, chịu sự giới hạn & ảnh hưởng vật lý trong cái "khung cấu trúc" đó, cho nên VL khi đầu thai vào cái xác đó thì cần thiết phải "điều chỉnh" các "thông số" nhất định để VL có thể "hoạt động" trong suốt "chu kỳ tồn tại" - hay còn gọi là "tuổi đời" - của cái thân xác đó. Chính vì bị "tắt" / "ức chế" đi phần nhiều các "thông số" sau khi "đầu thai", cho nên các VL trong xác con người đó bị "quên" đi mình là ai, kiếp trước (lúc còn ở dạng VL) mình đã làm gì, ở đâu, quen với ai v.v... Trong một số huyền thoại, người ta cho là VL bị "uống thuốc lú" để quên đi mọi thứ trước khi làm người !


Tử vi giống như 1 "bản đồ" giúp chúng ta hiểu được phần nào bí mật của VL trong thân xác con người. Có rất nhiều "bản đồ" (Tử Bình, Mai Hoa, Dịch số, Tướng số v.v...), mỗi môn cho ta thấy 1 khía cạnh khác nhau về "cái nghiệp", "tính chất" & "sứ mệnh" của VL đó trong cuộc đời này. Không bản đồ nào hoàn hảo cả, & các bản đồ đều "hỗ trợ" cho nhau, phác họa mỗi kiểu về chân dung con người đó, và cả VL trong đó nữa. Và như tôi cũng đã nói, không có một "bản đồ" nào trên đời này, dù "hay" đến mấy, có thể vượt qua được "thiên cơ tối hậu". Bạn hiểu được điều này là coi như bạn đã hiểu Tử Vi được 1/3 đoạn đường ! "Thiên Cơ tối hậu", tôi nói nôm na là "kết quả thật sự sau cùng", là 1 điều rất kỳ diệu. Tôi đã thấy nhiều trường hợp mọi môn huyền bí (tử vi, chỉ tay, tử bình v.v...) đều tập trung nói người đó "chết", nhưng người đó vẫn "sống" hây hây đến đầu bạc răng long. Nhiều trường hợp khác thì ngược lại ... v.v...
Trở lại chuyện VL bị ức chế trong hình dạng con người ... Sự ức chế có khi không "tuyệt đối" và trong nhiều trường hợp thì có "kẽ hở" ... "Kẽ hở" đó chính là những gì mà chúng ta thấy trong "tiềm thức", hay những "quán tính" mà chúng ta không tự giải thích được. Ví dụ, khi ta gặp một người hay một tình huống hoàn cảnh nào đó thấy thật "quen" và thân thuộc làm sao (nhưng thật sự ta chưa bao giờ gặp hay trải qua trong đời người!) - déja vu - thì đó thường là những gì mà chúng ta từng trải qua trong dạng VL. Một số bạn có lẽ đã biết nhiều về hiện tượng "tiền kiếp" của những đứa bé sinh ra rồi bộc lộ những suy nghĩ, câu chuyện, cảm xúc của 1 người nào đó đã quá cố.
Ngoài ra, khoa học đã tuyên bố rằng đa số con người không sử dụng hết 1/10 bộ óc của mình trong đời, và đã nhiều năm nay dù đã cố gắng rất nhiều, người ta vẫn không sao có cách "khui" được & "trưng dụng" được cái 9/10 phần bộ óc còn lại trông có vẻ như là "phung phí" kia ! Điều này rất hợp lý, vì bộ óc là "căn cứ địa" của 1 linh hồn / VL trong thân xác người đó. 9/10 phần đó chính là những phần đã bị "ức chế" trước khi "đầu thai" rồi ... Tôi nghĩ nếu mà "khui" được thì không khéo con người sẽ trở thành ... "cái xác không hồn" mất thôi !



Vong linh (VL) cũng là người, khi ta chết thì ta thành VL. Khi ta chào đời thì đó là 1 quá trình luân hồi từ VL sang hình thể con người – ta còn gọi là “đầu thai”. Ngoài VL, ta còn có Thần, Thánh, Phật v.v... là những vị khách đặc biệt ở tầng lớp cao hơn VL, thỉnh thoảng "xẹt" qua chỗ ta ở trong 1 số trường hợp - nói nôm na như vậy cho dễ hiểu. Ta không nên gọi VL là “m...”, mà “VL” là tên gọi đúng đắn kính trọng nhất.
Nói về khoa học, giữa thế giới 3 chiều vật chất mà chúng ta đang sống & thấy được, có 1 chiều thứ 4 nữa, và đó là chiều không gian mà các VL đang tồn tại. Chúng ta không thấy được không gian thứ 4, nhưng các VL ở đó lại có thể thấy chúng ta. Giống như ta đứng nhìn con cá dưới ao: nếu con cá gần mặt nước thì ta thấy con cá, nhưng nếu con cá lặn sâu thì ta không thấy cá nữa, nhưng con cá thì dù lặn hay không lặn dưới nước thì cá vẫn đều thấy chúng ta trên bờ ! VL thấy chúng ta cũng giống như con cá nhìn lên bờ vậy đó. Khi VL muốn chúng ta “thấy” họ thì VL đó đi đến gần chỗ giao nhau giữa các chiều không gian, cũng giống như con cá kia nổi lên gần mặt nước hơn.



Và cả Avatar của chủ blog này, cũng thể hiện higher dimension

Thường thì các VL ở chiều không gian thứ 4 không được “can thiệp” trực tiếp vào cuộc sống của con người. Họ chỉ có thể “độ trì” để tạo phúc cho những lần luân hồi sắp đến. Càng tạo phúc thì sự luân hồi (lên tầng cao hơn, gần hơn với các bậc Thánh, Thần, Phật v...) sẽ đến nhanh hơn ... Tuy nhiên có những trường hợp VL có sự day dứt, ân oán hay tư thù với người nào đó từ 1 hay nhiều kiếp trước, hoặc người đó trong đời này tạo ra nghiệp chướng mới (giết người, đụng xe, chiếm đất mộ xây nhà, tự tử v.v...) dù là cố ý hay vô tình, thì VL đó sẽ “xé rào” bất chấp mọi hậu quả (trong vòng luật luân hồi) để tác động vào thế giới con người xác thịt như: “ám”, “nhập” vào người nào đó, “khiến” một sự việc xảy ra, hay “hiện thân” (làm “bóng ma”) vào thế giới 3 chiều của con người. Có những VL là bậc cha mẹ vẫn còn lo lắng cho cuộc sống con cái trên trần thế và họ quyết định đi theo để “độ” cho bầy con đó cho tới khi họ thành công. Có những VL bị tước mất quyền sống 1 cách oan uổng (cướp, bạo lực) thì họ đi theo thủ phạm để có ngày lật mặt nạ hắn ra v.v...











Có người xấu người tốt thì cũng có VL xấu VL tốt – và dù tốt hay xấu thì người hay VL đều phải tiếp tục tu tập cho tâm được tốt để được luân hồi ở những vòng cao hơn. Do quy luật chung “âm dương cách biệt” cho nên đa số mọi người sống đều thiếu hiểu biết đúng đắn về vấn đề VL, cũng như “thế giới bên kia”, nên xã hội sinh ra nhiều tệ nạn mê tín dị đoan chủ yếu là để lừa bịp nhau. Số người biết đúng về thế giới VL hiện nay rất ít, chỉ đếm trên đầu ngón tay – đa số trong số họ không có trong một “hội đoàn ngoại cảm” nào cả.

Về vật lý, họ chỉ có khác với người là không bị giới hạn bởi vật chất như bê tông cốt sắt, cho nên họ rất tự do trong việc đi lại. Sau khi căn nhà được giải tỏa & kiến trúc mới được xây dựng lên, VL vẫn có thể còn ở đó hoặc đi nơi khác, hoặc thậm chí có thêm những VL mới đến cư ngụ. Điều này giải thích tại sao có một số những kiến trúc (nhà cửa, căn hộ, cầu đường, vườn đất, bệnh viện v.v...) dù là mới toanh mùi sơn bóng láng, nhưng vẫn có thể có những khu vực trong đó có tụ tập nhiều "âm khí".
Và cũng vì thế, đối với VL, "nhà" của họ không bị giới hạn bởi "nhà" của chúng ta ... Nếu nhà của bạn là 4m x 20m ở địa chỉ 20X đường YY, quận ZZ, thì điều đó không có nghĩa là "nhà" của các VL (ngay cả VL trong gia đình của bạn) cũng là ở ngay địa chỉ tọa độ đó. "Nhà" của VL ở một "địa chỉ" khác, trong chiều không gian khác với chúng ta. Như bạn TNT cũng có chia sẻ, VL trong nhà thường là các VL của gia đình nhà đó, điều này đúng, nhưng cũng không hẳn lúc nào cũng vậy. Tôi xin phép xác định là: VL về nhà mình là để "độ" hay "thăm" mình (thích thì về thường xuyên hơn), nhưng phần nhiều là "nhà" của họ ở 1 chỗ khác. Vì VL di chuyển rất nhanh, như tốc độ ánh sáng, việc hiện diện từ nơi này qua nơi khác chỉ xảy ra trong tích tắc.

Ngoài ra, nếu nhà nào cũng thờ cúng ngọn ngành đầy đủ chuyên tâm thì nhà đó thường có "khách quý", là những vị bậc cao hơn VL thường xẹt qua "thăm", có vậy thôi. Dĩ nhiên, nhà có "khách quý" như vậy hoài thì VL lạ làm sao dám vào phá ?! Giống như nhà bạn đang ở thường có mấy chú công an ghé qua uống nước, tên trộm nào để ý thì cũng hơi ngán, có phải không ? Nhưng thực tế không phải nhà nào cũng có nếp sống như vậy.
Còn về VL trong cửu huyền tại sao có khi về và có khi không về nhà đó ? Đơn giản là con cháu họ hàng trong nhà đó có "tâm" để tưởng nhớ đến họ hay không ? Có những VL rất tốt, dù bị con cháu "bỏ rơi" lâu năm nhưng vẫn phò độ cho chúng, có khi là tai qua nạn khỏi, có khi là làm ăn phát đạt, có khi là xoay chuyển tâm ác v.v... Tuy vậy vẫn có những VL thì quyết định đi tu, hoặc đi đâu đó thật xa, không còn bận tâm đến duyên nợ hay liên hệ gì với người sống nữa.



Có nhiều lần tôi hỏi qua nhiều VL rằng nhà của họ ở đâu, tiền bạc, ăn uống, dịch vụ họ sinh hoạt như thế nào thì chỉ nhận được 1 câu trả lời như nhau: "Hỏi làm chi vậy !?" Qua tiếp xúc nhiều lần với nhiều VL, tôi quan sát & chỉ hiểu được rằng, các VL có 1 xã hội cũng rất phong phú như chúng ta ở một chiều không gian khác song song với chiều không gian của chúng ta. Họ ăn rất ít, sống rất đơn giản, cũng có những chi tiêu trong sinh hoạt. Họ cũng có bệnh, cũng được chữa khỏi, cũng thèm hút thuốc, cũng nhớ thịt quay v.v... Tất cả đều có "bán" trong thế giới VL và đều "mua" được bằng "tiền" ... Có VL ăn cơm chay mãi trong chùa ... ngán quá (!) bèn đi ra ngoài ăn đồ mặn ... Sinh hoạt hết sức bình thường ...

Nhưng tóm lại, tôi thấy việc “xem tử vi” để đoán “nhà có VL” là một việc quá bao đồng, không đúng thực tế, vì VL có ở mọi nơi như con người vậy thôi. Việc gán gép tử vi để xem chuyện VL trong lá số của người sống nào đó thì cũng cần phải xem lại, vì ngay cả mỗi VL cũng có 1 lá số!

III Vong Linh Nhập


Từ trước tới nay, có rất nhiều người có may mắn được VL "nhập" vào mình, thường là để giúp "độ", báo trước một việc xảy ra trong tương lai, và thường là tương lai gần. VL của người mới qua đời có khi cũng "nhập" ngay vào 1 người thân, hoặc 1 người "có duyên" đứng gần đó, cũng chỉ là để muốn bày tỏ chuyện gì đó mà lúc trước họ đã không có cơ hội, hoặc còn day dứt chưa giải quyết xong.
Còn về cái tính "tò mò" của chúng ta “muốn biết ngày mai xảy ra chuyện gì” thì mình xin thưa với các bạn, VL không phải lúc nào cũng “báo” trước chính xác sự việc cho bạn đâu. VL chỉ có thể biết khoảng 10-60% sự việc mà thôi, còn lại là do “thiên cơ” quyết định . Trong thế giới tâm linh, VL chỉ cao hơn con người chúng ta 1 bậc, có thể biết được chút ít về tương lai gần, có vậy thôi. Còn việc “tối hậu” kết quả ra sao thì tùy ở “thiên cơ” và cũng do quyết định của chính con người trong hoàn cảnh đó. Chỉ có các bậc Thánh, Thần, Phật mới có thẩm quyền trên “thiên cơ” và dĩ nhiên những vị này không bao giờ bỗng nhiên “bật mí” ra cho VL hay con người biết cả. Cứ nhớ rằng tâm bạn tốt thì sẽ gặp chuyện tốt, nhân duyên cũng sẽ tốt. Còn nếu tâm ta tốt, nhưng cuộc đời đầy dẫy những bất công, thì cũng đừng quá buồn – tất cả là do chữ “nghiệp”, nếu tâm ta vẫn 1 lòng hướng thiện thì trước sau gì trong cái vòng luân hồi này thì ta cũng sẽ gặp cái “quả” đền bù xứng đáng.
Cho nên bạn thấy, 99.9% những người “nhập vong” & lấy tiền thân chủ thường thấy ở VN (bên Mỹ cũng vậy) đa số là ... xạo ! Nhiều người "thầy" đúng là có "vong" nhập vào, tưởng là có thể biết được nhiều chuyện, nhưng đa số những thân chủ đó đâu hiểu được giới hạn của VL như mình vừa nói với các bạn đâu! Có rất nhiều, nếu không muốn nói đến chữ "hầu như", các trường hợp là VL "nhập" về theo kiểu "thương mại" đó hoàn toàn không phải là VL của thân nhân quá cố mà thân chủ muốn gặp, mà là 1 VL nào đó khác - có thể trong gia đình, "hàng xóm" hoặc ngoại tộc với người "thầy cho mượn xác" đó - "nhập" về. VL này lợi dụng sự tương thông về tinh thần giữa các VL với nhau để nhanh chóng "hỏi thăm" các VL khác về hoàn cảnh cũng như tình hình sự việc, rồi có thể tự mình hoặc nhân danh "đóng vai" thân nhân của người thân chủ để trả lời cho thân chủ biết ! Thật là 1 trò lừa đảo chỉ mang nghiệp chướng cho cả đôi bên: người "thầy" và VL đó ... Có lúc chính tôi cũng rất bức xúc, nhưng nghĩ lại thì cũng có tình lý của nó: có nhiều khi VL làm vậy chỉ để giúp đỡ về tài chánh qua ngày cho người thầy nghèo khổ đó. Chỉ tội nghiệp & đôi lúc nực cười cho các thân chủ phải lặn lội đường xa, chen chúc "xếp hàng", tốn "tiền tổ" cũng như tiền mua nước ngồi chờ + tiền cho mấy anh chị bán vé số dạo + tiền xăng xe cộ v.v... để rồi chỉ để chứng kiến cái trò lừa đảo tâm linh một cách tinh vi này !
Nói thêm về mức độ chính xác của VL, tôi đã nói chỉ khoảng 10%-60%, và điều này luôn luôn đúng. Điều này có nghĩa là cứ 10 chuyện, sẽ có 1 cho đến 6 chuyện trên 10 chuyện đó xảy ra đúng 100%. Nếu độ chính xác cao hơn, như 100% trong trường hợp của 1 số người (nghĩa là đúng hết 10 chuyện), thì đó là chắc chắn do có 1 vị có bậc cao hơn VL đó đứng sau mách bảo, hoặc cho phép VL đó nói ra hết sự thật. Ngay cả sự chính xác 100% cũng có tính chất rất "tương đối" - y như thuyết "tương đối" của nhà bác học Einstein. Tóm lại theo quy luật định sẵn, VL không thể biết đến "thiên cơ tối hậu" (ngay cả tử vi cũng vậy), và nếu có biết thì VL không được "tiết lộ thiên cơ" nếu không được phép của 1 vị có thẩm quyền cao hơn. Ngay cả việc VL "nhập" vào 1 người lắm khi cũng có sự đồng ý của 1 vị cao hơn, không phải VL nào cũng được quyền tùy tiện muốn "nhập" lúc nào là "nhập". Thế giới VL xem vậy nhưng cũng là 1 xã hội có tổ chức rất chặt chẽ.

Câu hỏi: - Ở chỗ mẹ con đăng ký giao lưu thì các VL nhà mình cứ ra rồi nhập vào chỉ 1người sống là thành viên trong nhà hay trong họ thôi ạ. Nhưng như con đọc bài thì thường mỗi VL chỉ hợp có 1 người .
Tôi xin nói thêm phần này:
Nghe đến chữ "đăng ký giao lưu" (ĐKGL), tôi nghĩ đến ngay 1 chỗ "cầu hồn" có tính chất thương mại. Như tôi đã trình bày, bạn nên cẩn thận với các nơi này vì theo tôi quan sát, 99.9% là giả mạo + lừa bịp tâm lý, và thường là nạn nhân chỉ biết mình bị bịp SAU KHI chuyện đã xảy ra, sự đã rồi, tiền đã mất, tật đã mang. Có rất nhiều cách để nhận ra, nhưng có 1 quy luật bất di bất dịch đó là: tự hỏi mình xem bạn sẽ "tốn" bao nhiêu sau khi đến những chỗ ĐKGL này ???
Nếu VL nhập vào một người nào đó bạn chưa từng gặp qua, rồi bảo đó là "ông nội" của bạn ... Nếu thật sự là "ông nội" thì "ông" không giúp "cháu" có thêm tiền thì thôi, chứ sao lại lấy tiền của "cháu", nhất là khi cháu đang ... nghèo (!), và tiền đó chạy thẳng vào túi của người cho "mượn xác" không quen không biết đó ! Có nhiều trường hợp VL nhập vào người "cho mượn xác" và "bắt" cho thân chủ phải "cúng ngay" 1 số lễ vật hay "nhang đèn" rất đắt tiền, và thường các thân chủ bị "cho giá" đắt hơn giá trị thật sự (ngoài thị trường) của các món đồ cần phải "cúng", có khi là vượt ngoài khả năng của thân chủ v.v... Nói chung, càng mua đồ cúng thì thân chủ càng "nghèo" thêm, và có vẻ như "ông nội" hoàn toàn vô tâm không biết gì về hoàn cảnh thực tế của "cháu"! Thấy "cháu" ăn mặt sạch sẽ quá, đi xe "láng" quá, làm "nội" tưởng cháu là "đại gia" hay Việt kiều (VK) gì đó nên "nội" ... chặt đẹp ! Cho dù bạn có là "đại gia" hay VK thật, việc cúng kiến đắt tiền trên giá trị thật sự cũng đã nói lên phần nào sự bịp bợm của những chỗ ĐKGL này ! "Hồn (tiên) xuất ra, thì ta xuất tiền" - đó là quy luật lừa đảo về tâm linh của những chỗ này.
Nếu VL theo độ bạn thật sự, ngoài việc cúng kiến trong những ngày rằm (mỗi tháng) hay giỗ (mỗi năm) để tỏ lòng kính trọng thương nhớ trong khả năng kinh tế và thời gian của bạn, bạn có thể mời VL đó cùng ăn với bạn trong các bữa ăn mỗi ngày. Mời VL "ăn" trước, trước khi bạn cầm đũa lên. Và không nên mời đồ ăn đã cũ đã dùng qua 1 bữa. Mời xong cũng nên chừa chút thời gian để cho "người ta ăn", không nên vừa dứt lời mời đã cầm đũa "xực" liền ! Đây là một cách "cúng" rất thực tế, rẻ tiền, không cần nhang đèn gì cả, và phù hợp với mọi người ở bất kỳ nơi nào. Nói như vậy là không có nghĩa là không cần đến những nghi thức như cúng rằm, giỗ v.v... Đây là tùy ở "tâm" của bạn. "Tâm" bạn có thiện chí thì VL sẽ thấy ngay & rất quý điều đó, cho dù bạn không đủ khả năng kinh tế hay có gì sơ suất trong nghi lễ mà bạn làm. Như tôi cũng đã nói ở các ngày trước, "tâm" là quan trọng trên hết trong thế giới VL.
Nếu VL giúp, thường là sẽ giúp một cách "vô vụ lợi", hoặc không ngoài khả năng của chúng ta, chủ yếu nhắm vào chữ "tâm" (chứ không làm cho chúng ta trở nên "cuồng tín" hay "sùng đạo" rồi làm những hành động bất thường, trái với sinh hoạt bình thường của một con người!). Giống như trước bàn thờ Phật, một cây nhang với "tâm" thành quý hơn một người khác cầm cả bó nhang nghi ngút để khấn vái: bộ định dùng bó nhang để ... "hối lộ" Phật à ??? Nếu VL có cần gì chúng ta giúp họ (như sửa mộ, lập bàn thờ, cúng 1 số đồ ăn mà họ thích khi còn sống với chúng ta), thì VL cũng yêu cầu rất tế nhị và không bao giờ ngoài khả năng của chúng ta, vì bạn luôn nhớ rằng VL lúc nào cũng thấy xuyên vào trong tâm thức của chúng ta đang nghĩ gì và đang gặp khó khăn gì v.v...
Một trong những cách nhận biết việc VL nhập giả hay thật đó là qua cặp mắt. Trong tử vi, đó là "Thái Dương" & "Thái Âm" các bạn đã biết, ... Như người ta thường nói, đôi mắt là "cửa sổ của tâm hồn" - chính xác là như vậy. Trái với suy nghĩ của nhiều người, khi VL nhập vào thì người đó thường nhắm mắt (nhập trên 50%), không có việc mở mắt trân trân lơ láo phân tâm với mọi việc xung quanh - nhất là trông chừng ... công an ! Và nếu có mở mắt (nhập dưới 50%) thì mắt sẽ bị ửng đỏ hoe, "long" lên bất thường, giống như mắt của người bị thiếu ngủ, và mắt đó sẽ trở lại bình thường ngay lập tức sau khi VL "xuất" ra.
Cho nên, có lần trên mạng tôi thấy có đoạn video nói về 1 bà nào đó được "bác Hồ" nhập vào, rồi mở mắt ra bình thường, nói chuyện chính trị thao thao bất tuyệt. Nói chung, quan sát thái độ của bà này, tôi thấy thật buồn cười cho những ai không biết mà tin vào những người như vậy !
Nghe bạn giải thích thêm về nơi giao lưu này, tôi lại hình dung nó giống trong cái show "Vietnamese Idol" quá ! Tìm người có sẵn khả năng, hay huấn luyện "tập thể" để có nhiều người mới từ từ có khả năng ?!? Tinh thần "truyền bá" & "phổ biến cộng đồng" là một điều tốt, nhưng không phải lúc nào cũng áp dụng được, nhất là trong lãnh vực tiếp xúc với VL này. Theo tôi thấy, tổ chức "huấn luyện" kiểu "xưởng đẻ" này dễ sinh ra nhiều tiêu cực lắm, mặc dù những "thủ tục nhập vong" mà bạn "nguyenhongvan" mô tả đúng là một số quy luật "sơ đẳng" để mời VL "về". Trạng thái "không biết gì" sau khi VL đã "xuất" ra cũng rất chính xác khi VL nhập vào trên 80%. Điều bạn kể về nơi này giải thích tại sao hiện nay tràn lan ở VN và một số nơi ở hải ngoại, có rất nhiều người chỉ hiểu vấn đề tâm linh ở mức độ rất "vỡ lòng", nhưng đã "xưng hùm xưng bá" tại địa phương mà họ ở - già trẻ lớn bé đều đủ cả ! (rồi tạo ra biết bao tệ nạn mê tín dị đoan méo mó lường gạt) Theo "điều tra" riêng của tôi cho thấy, họ dường như cùng xuất xứ từ một "lò", "hội đoàn" hay một luồng "phong trào" nào đó ở VN ... Cả một loạt vô số các "thầy" bói bài ở VN cũng vậy.
Việc VL nhập vào, hay người có khả năng tự nhiên mời VL nhập, hoặc người có cơ hội được người khác truyền dạy cho khả năng là một việc do "duyên", hơn là 1 sự "cưỡng ép giáo dục" tựa như hình thức ta phải "đi học ở trường, có bạn bè, và thầy cô giáo dạy". Nếu bạn thật sự đã có "duyên" với chuyện VL này, thì đến 1 lúc nào đó trong cuộc đời bạn, việc tiếp xúc với VL sẽ xảy ra rất ngẫu nhiên, không cần phải chủ ý "đi học". Đến lúc đó, bạn không muốn biết thì bạn cũng sẽ biết, bạn không muốn học thì cũng có người tự nhiên truyền dạy cho bạn, bạn không cần cầu kiếm VL mà lúc đó VL sẽ kiếm bạn & "xin" được đi theo hay "vào" bạn ! Người ta vận động "nhân điện" gì đó, hay ngồi "thiền" ... cả đời (!) mới chỉ biết ti tí về vấn đề + khả năng tâm linh, trong khi thực tế chỉ cần nhiều nhất là vài năm để nắm vững xuất sắc các môn pháp về tâm linh một khi bạn được hướng dẫn và học đúng "chính quy". Trong các môn pháp tâm linh này (căn bản đều dựa trên Phật Pháp), "tâm đức" và ngộ tánh ("huệ căn") càng cao thì sự học tập chuyện sâu & khả năng càng "xuất thần" ! Giống như chuyện kiếm hiệp có một số anh hùng võ thuật cao cường do học được các "bí kiếp" từ các "quý nhân" một cách bất đắc dĩ ngoài ý muốn. Thật sự cái lý "duyên" ở đời này là như vậy. Không "duyên" thì ta đừng "miễn cưỡng" ! Ngoài ra, không phải ai ngồi "thiền" hay mời VL nhập vào mình thì cũng sẽ được VL nhập, và không phải ai được VL nhập vào rồi thì cũng "nhập" đúng người mình cần "nhập" - và đây chính là "con dao hai lưỡi" rất nguy hiểm đối với người "học vỡ lòng" chưa hiểu chưa biết đến nơi đến chốn, hoặc được hướng dẫn có bài bản. Tôi đã gặp khá nhiều trường hợp VL trong gia đình đó không ("thèm") nhập vào, nhưng nhờ "bạn bè" của VL đó, hay ai khác lảng vảng gần đó có "nhã hứng" thì "nhập dùm" (!), vì đơn giản là VL đó không thích chính người đó hay việc gặp lại người dương, hay vì một lý do nào khác.

Câu hỏi:Nhưng bác ơi làm sao để biết có người theo mình ạ.Vì con chưa bao giờ nhìn thấy ạ. Kể cả lần đi giao lưu đó.
Thấy chưa ? Nguy hiểm là ở chỗ đó. Thật ra có hẳn 1 môn học riêng để giúp ta tận mắt "thấy" được VL "đối tác" của mình đang tiếp xúc là ai. Khổ nỗi, tôi biết có một số người biết cái môn pháp này (và họ thường dùng nó trong việc "tìm mộ"), nhưng lại rất kém sở trường ở những môn khác, ít người tổng hợp được & giỏi đồng đều (người "giỏi" không những biết "pháp" mà còn phải có "đức" nữa!). "Thấy" & nhận diện VL được rồi thì làm sao nữa ? Nếu "thấy quen" thì làm sao, và "thấy lạ" thì phải làm sao ? Tất cả các "tình huống" đều có "môn pháp" để "xử lý".

Các môn pháp cũng vậy, chia ra làm 2 phe chính "chánh" & "tà", và một số trung lập. Các môn của phe "chánh" khi học xong thì bạn vẫn có thể sống, giúp đỡ người khác (vô vị lợi) & sinh hoạt trong đời thường, không nhất thiết phải trở thành "tu sĩ". Còn các môn thuộc phe "tà" - thường thấy ở VN - khi học xong thì sẽ có "hậu quả hy sinh" hoặc làm chuyện "tà đạo" ác độc (vì thiếu "đức"): có người đang có vợ thì bỏ vợ trở thành "pê đê", có người phải chịu 1 số thương tật không phải bẩm sinh, có người ban ngày sống bình thường còn ban đêm thì "sinh hoạt tình dục" với VL (trả lời thắc mắc cho bạn TNT rồi nhé ), có người sinh chứng "dê" dụ dỗ đàn bà thiếu nữ (nếu là nam) hay "trai tơ" (nếu là đàn bà) làm "nô lệ tình dục" cho mình, có người tạo hẳn cho mình một đạo quân "âm binh" chuyên đi làm chuyện ác hoặc dò la tin tức, v.v...

Phổ biến là có rất nhiều thầy bói cũng biết chút ít "tà đạo" về VL để phục vụ cho "uy tín" của mình, tôi cũng xin tản mạn kể một số ví dụ "giở chiêu" của các "thầy" ở đây. Đầu tiên, họ xem bói bài (hoặc tử vi gì đó) gọi là "qua loa" một chút "huyền bí" cho thân chủ. Do có chút "nghề" & kết hợp quan hệ với VL nên họ cũng biết chuyện xấu/tốt sắp xảy ra với người đó. Họ báo cho thân chủ biết về những chuyện "hay" & "tốt" trước để "làm tin" cho thân chủ. Sau khi thân chủ về rồi, họ sẽ dùng bùa chú, hay sai khiến "âm binh" (là một nhóm VL bị làm "nô lệ") để làm cho thân chủ bị "xui" đi để thân chủ đó "thấy ông thầy đó đoán đúng quá", rồi lại phải trở lại để được "tư vấn" tiếp. Có khi không cần tới bùa chú hay VL, "nghề" của họ cũng có khi thấy được "chu kỳ xui" của thân chủ, rồi tùy đó mà các thầy "ứng biến". Trở lại "xem quẻ" vài ba lần mà vẫn "xui" thì họ "bày" qua chuyện "cúng sao" hay "giải hạn", thường là 1 trò lừa đảo để moi tiền thân chủ. Có người "giải hạn" liên tục nhiều lần trong 1 tháng mà vẫn thấy toàn ... "xui" vẫn hoàn "xui" !??! Hoặc họ phán rằng "cô/bà có vong theo phá" nên cần phải được "giải vong" ! Nếu các bạn đã đọc & hiểu qua những gì tôi đã viết trong chủ đề này thì bạn thấy ngay, đây là chuyện hết sức nhảm nhí !!! "Giải vong" rồi thì ai "giải quyết" cái bụng bầu to chướng do thầy "tác giả" trong người em đây? Các VL "âm binh" & vị "thầy" kia hẳn sẽ lãnh một nghiệp quả rất nặng, không ở ngay trong đời này thì cũng là đời sau ...


Trở lại đề tài trên, nguy hiểm cũng rình rập trong trường hợp "nhập" vào rồi thích quá (!) nên VL không chịu ... "ra" (!), vậy thì phải làm sao đây ? Dĩ nhiên là có vài môn pháp để giải quyết cái vấn đề này một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng & đơn giản, nhưng cũng rất hiếm người có khả năng, hay dù có khả năng nhưng lại thiếu chữ "đức" (của Phật Pháp), nên đa số các "thầy" thường giải quyết bằng "vũ lực" mà tôi đã nói, tạo thêm hậu quả "nghiệp" cho mình và cho VL đó. Cũng y như các tầng tâm linh của Phật Pháp, tưởng tu được 1 tầng đã là xong, nhưng lúc nào cũng có tầng cao hơn, hay tưởng lâu nay ta là "Phật tử ưu tú": "coi như" cũng đã có "Phật Pháp đầy mình" thì chính cái lúc "tự mãn" đó thì ta đã không hiểu biết gì về "Phật Pháp" cả - "thái cực bĩ lai" cũng là như thế!

Quan trọng vẫn là do "tâm". Bạn "thiền" vì lý do gì ? Vì lợi ích "cường thân luyện thể" hay vì một quyết tâm "phải học" cho được khả năng mời VL "nhập" ??? Nhìn lại chữ "tâm", thiết nghĩ khi trưởng thành, ta cũng phải hiểu rõ ta sinh ra và có mặt trên đời này để làm gì: là để sống sinh hoạt bình thường như một người "dương" (như lá số Tử Vi cho thấy ), hay lại phải liên tục tìm cầu đến thế giới người "âm" để rồi nhờ họ đáp ứng các "yêu cầu" của chúng ta trong đời sống hàng ngày ??? Tuy VL có ở khắp mọi nơi, con người chúng ta có dịp tiếp xúc với VL ít nhiều gì thì cũng đã là 1 "đặc ân", và "đặc ân" này không phải ai muốn cũng có được. Điều kỳ diệu của "đặc ân" đó là: bạn càng "không muốn" nó, thì bạn sẽ "có nó". Hậu quả thường là không tốt (nếu không muốn nói chữ "khủng khiếp"!) khi điều ngược lại xảy ra (lúc bạn "muốn nó" - phạm vào chữ "chấp" trong Phật Pháp). Nếu đã không có "duyên" với "đặc ân" đó, tốt nhất là ta nên "thủ" lui về chính bản thân mình với ý niệm căn bản "ta sinh ra để làm gì ?" & hãy sống vui vẻ với nó. Còn chuyện gì khác, "có duyên sẽ gặp lại". Nhớ chữ "duyên" nhé, và có "gặp" ai cũng vậy thôi, người trần mắt thịt, hay VL, dù là lúc ta còn "sống", hay khi chúng ta "phải đi qua thế giới khác".

IV Dùng Chú đại bi để siêu độ vong linh





Cũng như người, mọi việc làm của VL đều có nguyên nhân sâu xa, và các “thầy” có hiểu biết về tâm linh nên tìm hiểu, ngoại giao & thương lượng với các VL để tìm ra giải pháp chung, có lợi cho cả đôi bên VL & người sống. Đọc Chú Đại Bi (CĐB) chỉ là 1 cách giải nghiệp, chứng tỏ thành ý tu tập của người đọc, hy vọng các bậc Thần Thánh Phật sẽ chứng và các VL sẽ “nể tình” mà “tha cho”. Nhưng nếu đọc CĐB như con vẹt, đeo tượng Phật hay bùa đầy cổ mà tâm vẫn tà, tay vẫn làm điều ác, lại mời thầy làm điều bậy bắt ép các VL mà không giúp cho họ 1 giải pháp thì nghiệp tội của người sống đó sẽ càng nặng thêm sau này (trong đời này hay kiếp sau). .

Trong đoạn đầu khi mình nói về việc đọc Chú Đại Bi thì người đó phải có "tâm" tốt, ví dụ như không nên nghĩ là đọc chú như là một thứ “vũ khí” để “trị” cái VL đó khỏi phá phách đến mình – “trị” cái gì ? Kinh là kinh Phật, Phật không hại loài người, chẳng lẽ đi hại VL ? Chú thì ai cũng có thể đọc, nhưng khác nhau ở chỗ cái “tâm” đó. Đọc chú thì cũng nên hiểu chú đó nói gì – việc này thì các sư ở chùa sẽ giúp, hay tìm trên Google cũng sẽ ra rất nhiều tài liệu hay. Đã hiểu mục đích & ý nghĩa của chú, thì thái độ, hay “tâm” phải khác: là để giúp cho ta và giúp cho cả VL đó.
Ngay cả đeo tượng hay những vật khác cũng vậy – đeo vì mục đích gì ? Để “giúp” ai ? Và để “hại” ai ? Phải xác định mục đích từ trong “tâm”: nếu thấy đã có chữ “hại” đâu đó thì chắc chắn sẽ mang thêm “nghiệp” cho người đó. Mục đích phải là “đôi bên cùng có lợi” thì mới không tạo nên “nghiệp”. Thật ra VL cũng không “vui sướng” gì khi phá hại ai đó, nhưng vì họ không “có”, hay không “thấy” sự chọn lựa nào khác nên mới phải như vậy mà thôi.
Ở phần trích dẫn sau, bạn nói rất đúng, dĩ nhiên VL may mắn có duyên số gặp được vị sư tốt, hay người nào đó trần tục hơn (không nhất thiết phải là “sư”) như bạn và tôi thì cũng được, miễn là có “tâm” để giúp đỡ cho VL đó.
Trái với suy nghĩ nhiều người, không phải mượn sư ở chùa tụng kinh để sau 49 hay 100 ngày người đó được đầu thai liền đó là sai ! Tôi thấy nhiều gia đình có thái độ rất “vô trách nhiệm” với người thân quá cố của mình, nhất là sau khi xong tang lễ & các “thủ tục cúng kiến” ở chùa. Lúc người đó còn sống thì chưa chắc đã quan tâm, lúc quá cố thì tổ chức rình rang để sau đó thì “phủi tay” chẳng lo cầu nguyện, đọc kinh gì cả, hay làm qua loa “cho có lệ”. Ở VN thì những buổi giỗ hàng năm thì ở nhiều gia đình biến thành những “buổi nhậu tập thể” hay karaoke, hơn là suy nghĩ, tưởng nhớ sâu sắc gì đến tình trạng VL của người quá cố đó. Quá nhiều tiêu cực để nhắc đến. Cũng có khi là do thiếu hiểu biết về các vấn đề tâm linh, ngay cả một số nhà sư trong chùa ngày nay cũng vậy.
Tùy theo nghiệp của mỗi người, VL có thể đầu thai rất nhanh trong vòng vài ngày, hay rất nhiều năm sau đó. Thời gian và địa điểm được đầu thai là 1 bí mật chỉ có bậc Thánh trở lên mới biết chính xác và VL chỉ được biết “lờ mờ” khi gần đến mà thôi. Trung bình 1 VL có chu kỳ đầu thai là 75 năm cho đến 150 năm – nếu không có gì “trục trặc”. Tùy theo nguyên nhân chết của 1 người mà ta có thể biết được phần nào người đó có sớm được đầu thai hay không. Các VL là nạn nhân của việc nạo phá thai thì không được đầu thai, và thường quanh quẩn suốt đời bên mẹ của chúng. Hay các vụ tự tử, đụng xe, rớt máy bay, chìm thuyền, hay con người hãm hại lẫn nhau (vụ án, thanh toán, chiến tranh) cũng vậy, rất khó được đầu thai. Chỉ khi nào có người nào đó giúp họ bằng cách tụng kinh, cầu nguyện hay mở những buổi đặc biệt ở chùa như lễ Chẩn Tế cho họ thì mới mong giúp họ sớm được đầu thai. Và dĩ nhiên, cũng một phần do sự chuyên tâm tu tập của VL đó.

V Về Bùa ngải


Tôi không tin vào những phương pháp thô bạo của một số người khi mời các “thầy” dùng pháp thuật để “đuổi” các VL đang “phá phách” tại một nơi nào đó. Đối với VL, “bùa chú” chỉ là “trò hề”, vì các VL có thể làm “vô hiệu hóa” các “đồ chơi” đó dễ dàng !!! Còn các việc thỉnh Thần thỉnh Thánh cũng chỉ qua là hù dọa VL đi chỗ khác, nhưng cũng đồng thời bất lợi cho người sống vì khi Thãn Thánh về mà thấy “thân chủ” sống bầy hầy quá thì nghiệp chướng của “thân chủ” đó sau này sẽ càng nặng thêm. Nhiều khi đuổi VL đi, lại vô tình đuổi luôn các VL tốt (là ông bà, cha mẹ, cửu huyền của thân chủ) đang trì hộ trong căn nhà đó, hoặc cho người nào đó thì hậu quả sẽ càng tệ hơn ! Một số “thầy” thì “dụ” VL bằng cách hứa hẹn về sự “đầu thai” qua kinh kệ, thần chú ... nhưng đó là lừa dối, kết quả sẽ không bền lâu.
Tại sao lại gọi là “đuổi” VL đi ??? ... Nói về lý thì mình đã sai, vì rõ ràng là VL đã có hiện diện ở đó từ trước, tại lỗi mình không thấy, không biết nên dọn vào ở, hay xây nhà lên ngay chỗ đó mà không “xin phép” ! Ngoài ra, ta gởi tiền cho người bán nhà, nhưng chưa “đưa tiền” cho VL ! Và nếu đưa cũng phải biết cách cho họ vui lòng & đúng đối tượng.



“Bùa chú” chỉ gây hại và tạo nghiệp cho chính người sử dụng chúng hoặc một số đối tượng bị hại. Nói “một số đối tượng” ở đây là vì không phải ai cũng bị “ép phê” vì bùa chú ... Nếu có thì quân đội Mỹ đã sử dụng lâu rồi, vừa rẻ vừa hiệu quả, đâu cần phải tốn hàng trăm nghìn triệu $ mỗi ngày để đánh Iraq và Afgan ??? Một trong những cách giải bùa chú hiệu nghiệm nhất, đó chính là “cầu viện” sự giúp đỡ của VL, nhất là trong cửu huyền – gia đình của mình. Còn nếu dùng “bùa” để giải “bùa” thì cũng là tự tạo thêm nghiệp chướng. Tôi từng thấy chính mắt một “đội” VL giúp 1 người đẩy các bùa ngải ngấm trong máu đã lâu 2-3 năm thành những ... cục phân tròn và đen trong vòng 2-3 ngày (!!!), và các VL còn cho biết rằng những cái gì mà người bỏ bùa đó đã gây ra thì sẽ được “trả” về lại cho người đó. Kết quả người bỏ bùa sau 1 vài năm từ từ bị bệnh điên, rồi đến bệnh ung thư ... bao nhiêu tiền bạc mà người đó bỏ bùa để chiếm đoạt từ người kia đều bị mất hết, nhất là vào tiền thuốc men để chữa chạy bệnh ung thư của mình ... Có câu nói “khi tâm linh suy yếu thì ma quỷ lộng hành” – đúng như vậy, “ma quỷ” ở đây chính là các bùa chú lợi dụng thời cơ để hại người.

Chùa chiền là “đất thánh” đối với VL khi các sư sãi ở đó tu tập tốt. Trong thế giới VL cũng có rất nhiều ban bậc tổ chức rõ ràng và chùa tốt thường là nơi có quyền lực mạnh nhất – giống như 1 chính quyền địa phương không tham nhũng hay tiêu cực thì cũng có ảnh hưởng quyền lực mạnh trên địa phương đó ... Về việc VL khó đến chùa, đó là vì các chùa ngày nay ít tổ chức các buổi lễ Chẩn Tế. Để tổ chức các buổi lễ này hiệu quả, cần phải có một số điều kiện như: các nhà hảo tâm tài trợ (vì lễ này tốn kém hơn bình thường!), mục đích làm lễ là nhắm đến các đối tượng nào (ví dụ, trong đại nạn hay tai nạn nào) hay ở địa phương nào ... Và giá như các địa phương cùng đồng loạt tổ chức được thì hay biết mấy ! (điều này cũng hơi khó về nhân sự khi thực thi)

VI Cầu Tài


Chúng ta cần phân biệt rõ ràng về tài lộc ở đây:
1) Tài lộc đến do đi làm, kinh doanh do mình có đầu tư, hoặc bỏ công bỏ sức ra và,
2) Tài lộc đến KHÔNG do mình bỏ sức ra - điển hình là "trúng số".
Người ta thường lầm lẫn hay lạm dụng chữ "cầu tài" với tài lộc "loại 1", nhưng chính xác chữ "cầu tài" mà tôi biết là "loại 2".

Khi bạn cầu xin VL, thần thánh (VLTT) phò hộ cho công việc của bạn được thuận lợi rồi sinh ra lợi tức thì điều đó là "cầu may" hơn là "cầu tài", vì đây đơn thuần chỉ là bạn xin sự "may mắn" trong công việc của bạn (mà bao nhiêu người khác cũng đang làm), để được thuận buồm xuôi gió và "vượt trội" hơn đồng nghiệp, bạn hàng, các công ty khác v.v... Điều bạn xin có thể được VLTT chấp nhận, hay không chấp nhận. Có khi VLTT muốn giúp bạn, nhưng tổ chức & thực lực của bạn kém quá, làm sao giúp được ?! Nếu bạn đã có khả năng, nhưng trước giờ chưa có tiến triển rõ rệt mà đáng ra nó đã phải có kết quả, thì khi VLTT giúp sẽ tạo cho bạn có nhiều "cơ hội" hay "duyên" tốt để bạn tiến lên và từ đó lương bổng hay doanh thu sẽ tăng lên.
Khi bạn nghĩ đến việc "vay mượn" các "Chúa Xứ", "Chúa Kho", thì ngay từ chính tâm đó, bạn đã tạo cho mình một điều kiện với các vị đó rồi: "có vay thì có trả" ... Hứa với các vị đó sao, thì trả y như vậy. Tôi cũng không nghĩ đây là "cầu tài", vì hình thức đây giống như "nhà băng" vậy thôi, chỉ có khác đây là "nhà băng tâm linh" ! Có người "vay mượn" một lần không nói gì, có người sao lại phải "vay mượn" ... dài dài ?! Lại càng không phải "cầu tài". Và cũng y như trong nhà băng, có khi người "đi vay" lại không được "cho mượn" như ý!

Trong môn "cầu tài" mà tôi đã học, bạn phải nói chuyện nhiều với VL và nhiều vị khác nhau trong các tầng lớp Phật, Thánh & Thần. Tôi không muốn nói đến danh xưng cụ thể của các vị đó ở đây, nhưng nếu các bạn đã đi nhiều chùa hiển nhiên là đã gặp sự thờ phượng suy tôn các vị đó khắp nơi. Từ một người chẳng biết gì cả cho đến lúc tiếp xúc với VL, rồi từ đó phải "được cho phép" để tiếp xúc với các vị cao hơn, tất cả là một quá trình. Do tôi đã có "duyên" từ trước (dù chưa biết 1 quyển kinh Phật!), việc tu học của tôi được rút ngắn khá nhanh, vượt ngoài sức tưởng tượng của sư phụ của tôi, dù tôi cũng chẳng có "ham muốn" gì với môn học "cầu tài" bỗng nhiên đến với mình này - tới đâu thì hay tới đó ...

Các bạn đã có nghe qua, các VL rất ư là nóng tính, nhưng bạn có biết là các vị thần thánh lại càng nóng hơn nhiều !!! Nếu VL nóng tính là 1 thì các vị ấy nóng gấp 10 gấp 100 lần. Riêng các vị Phật lại rất hiền dịu, từ tốn, ngọt ngào khác biệt với các vị thần thánh. Mỗi vị oai phong và thánh thiện mỗi kiểu. Sự thông minh của họ thật tuyệt vời làm tôi luôn "xuýt xoa" chiêm ngưỡng & bái phục ! Một khi đã tiếp xúc với các vị đó rồi, tôi lại thấy chuyện "cầu tài" của bao con người đang "thèm muốn" lại trở thành một chuyện quá sức nhỏ nhoi trần tục, và dĩ nhiên, càng không phải là mục đích "sống" của đời này - tôi nhận thấy như vậy. "Xin" bao nhiêu mới là "đủ" ? Và "xin" để làm gì ? Nếu để "làm phúc" thì hiện giờ tôi chưa "rảnh" vì công việc cơm áo còn bận rộn. Công việc tôi nuôi sống bao nhiêu người khác, cũng là một dạng "làm phúc", không thể bỏ được, nhất là lúc này.

"Trúng số" là một cách gom tiền của "bá tánh" để làm tiền của mình. Với sự đồng ý của các VL & các vị thần linh, đây là chuyện rất dễ dàng nhanh chóng. Qua môn học, tôi hiểu rằng tiền "bá tánh" thì phải dùng cho việc của "bá tánh", cùng lắm một phần trong đó là để trả công "cà phê" cho người quản lý số tiền đó mà thôi, không được sinh lòng "tham" ! Khi đã tiếp xúc với các vị thần thánh & phật rồi, tôi cũng nhận thấy rằng, cuộc đời ở cõi ta bà này chỉ là tạm bợ, bấp bênh, và chúng ta chính là hiện thân của những VL trong kiếp này, và chúng ta đã & sẽ còn có nhiều "vòng đời" phía trước đang chờ đợi chúng ta. Vậy thì "đời sống này" chưa chắc là nơi mà chúng ta phải dồn sức "đầu tư", hay sẽ chịu khổ mãi mãi.

Ở một phương diện, tiền bạc cũng chỉ là một "phương tiện" để con người ... làm khổ nhau mà thôi! Người này giàu quá thì đâu đó sẽ có người khổ hơn. Ai cũng muốn cái "giàu" về hết phần mình, nhưng trong thực tế, một nền kinh tế "khỏe mạnh" thì đồng tiền phải xoay vòng, không nên tụ lại 1 chỗ quá nhiều. Tốt nhất khi ta có được tiền thì nên tự "cởi trói" mình, để giúp những người thiếu thốn & khổ hơn mình, do chiến tranh, bệnh tật, thiếu giáo dục, thiếu phương tiện v.v... Con người thật mong manh, có thể "đứt bóng" bất kỳ lúc nào. "Hôm qua tui thấy anh 'trên này', hôm nay đã 'ở dưới'!" Có bao nhiêu mét vuông hay héc ta đất đầu tư đi nữa tôi cũng không ở hết. Có tiền cho nhiều cũng ngày ăn 3 bữa, giấc ngủ 8 tiếng, đi thì trên 1 chiếc xe mà thôi, không hơn không thiếu. Còn "yêu nhiều thì ốm, ôm nhiều thì ...yếu", sức lực con người vỏn vẹn có thế - xài nhanh thì mau hết ... Phô trương thì mau ... chết!
Tóm lại, "cầu tài" không có mục đích nào khác thiết thực và ý nghĩa hơn là để làm từ thiện, tạo ra sự cân bằng tốt đẹp giữa cung Phúc & cung Tài cho người đó, và "trời phật" cũng đồng lòng!

VII Giá của việc cầu tài


Tất cả các "phương pháp cầu tài" hay ai cầu tài cũng có thể thành công, nhưng đều có cái "giá" của nó, và đúng như bạn nói, cái "giá" rất khủng khiếp (!) nếu không làm phúc. Số đã nghèo thì nên cố gắng lao động (trí óc hay chân tay) theo tôi nghĩ thì sẽ tốt hơn. "Cầu tài" lúc nào cũng liên quan đến nhiều "nhân vật" tâm linh, không chỉ là VL, và bạn cũng hiểu tiền "cầu tài" là tiền của "bá tánh". Mỗi vụ "cầu tài" đều có điều kiện giữa người "cầu tài" và các VL cũng như các vị phật hay thánh thần, và 100% đều liên quan đến việc làm từ thiện với phần lớn số tiền. Nếu người "cầu tài" có tâm "tham nhũng" khi sử dụng số tiền đó, nhất là khi làm từ thiện nhếch nhác, qua loa cho có lệ, hoặc giúp đỡ không đúng người, tiếp tay "nối giáo cho giặc" bằng tài chánh thì chắc chắn trước sau sẽ phải trả giá.

Tôi bắt đầu học "cầu tài" bằng cách chứng kiến ... hậu quả của nó! Một số năm sau đó, cho đến cái ngày mà tôi thấu hiểu ra được "cái giá" phải trả thì cũng là ngày tôi được "tốt nghiệp". Môn "cầu tài" tôi đã học có xuất nguồn từ Phật giáo Ấn Độ di cư qua hướng Thái lan. Khả năng đã học, tôi vẫn còn đó, nhưng từ lúc "tốt nghiệp" đến nay, tôi chưa bao giờ dám sử dụng nó để "cải thiện tình hình tài chánh" của mình mặc dù có những lúc khó khăn đầy "cám dỗ", và thay vào đó là tôi cố gắng chăm lo doanh nghiệp riêng của mình để vượt qua tình hình kinh tế khó khăn chung hiện nay là chính.

Cung Tài tuy "nghèo", nhưng "Mệnh" còn hơi thở sống, có "Quan" để đi làm, có "Phúc" để tai qua nạn khỏi, có "Tử tức" ngoan hiền học giỏi làm ta hãnh diện với đời, có "Phu Thê" chung thủy tình yêu, có "Tật" sức khỏe tốt không bị bệnh nan y, có "Di" hay "Nô" vui vẻ làm bạn thân láng giềng, có "Điền" nhà cửa hoặc họ hàng sung túc, có "Huynh" hay "Phụ Mẫu" ấm cúng bảo bọc ... tất cả không quý hơn sao ? Nếu có tiền rồi ta mất hết những điều kia thì tiền bạc có ích hay nghĩa lý gì ? Ai cũng biết, có nhiều thứ trên đời cần "tiền tài", nhưng có "tiền tài" thì chưa chắc có mọi thứ kia.

Định nghĩa về Lộc Tồn & Hóa Lộc theo tôi cũng rất "truyền thống", sách vở đã ghi rồi. Riêng Hóa Lộc tùy theo thiên can mà đứng với 1 chính tinh, là "hóa khí" của chính tinh đó, nên tính chất & ý nghĩa của Hóa Lộc cũng thay đổi tùy theo chính tinh hóa ra.

Việc "cầu tài" không những liên quan đến 2 sao "Lộc Tồn" & "Hóa Lộc", mà còn có các sao khác khá quan trọng tập hợp như Hóa Quyền, Đế Vượng, Tang Môn & các chính tinh Thiên Cơ (quan trọng nhất!), Thiên Lương (nhì), Vũ Khúc (ba) và Thiên Phủ (tư). Người có "khiếu" hay có duyên với việc "cầu tài" phải có tối thiểu các sao này tụ tập tại các cường cung như Mệnh, Quan, Tài, Phúc & Thân. Nếu một số trong các sao trên tụ hợp với cung Tật, thì vận hạn (đại/tiểu) khi đến đó cũng có cơ hội để "cầu tài". Tuy nhiên có lá số Tử Vi hợp cách chỉ mới là 1 điều kiện sơ khởi trong việc "cầu tài" vì đây còn là "thiên cơ" - trời chọn ai nấy dạ, không thể đoán được bằng Tử Vi hay dịch số.
Môn "cầu tài" trong Phật Pháp mục đích chính là để làm phúc, không phải để mưu cầu danh lợi. Uy lực của nó rất lớn, tiền tài sẽ đến rất nhanh, cần bao nhiêu đến bấy nhiêu, nhưng nếu người "cầu tài" lạm dụng môn pháp này để dùng việc khác hay mục đích thất đức thì hậu quả rất xấu, chết cũng còn quá nhẹ, tai ương ập đến tùy theo Không Kiếp & vận hạn người đó đang ở đâu trong lá số, mọi tiền tài có được sẽ tiêu tán một cách bí ẩn - y như là "của thiên trả địa" !

VIII Việc hóa giải số



Dòng chảy số phận và việc cải số



Nguyên lý "giải sao" mà tôi nói đến không chỉ dừng ở việc dùng các sao "đang có" trong một lá số để hóa giải các sao khác. Tử Vi là một "tâm pháp". Khi "thiếu sao", hoặc "không có sao" thì đương số có thể uyển chuyển dùng "tâm" để sinh ra "sao" mà đắp vào chỗ thiếu. Đơn giản có thế. Và tuyệt diệu cũng ở chỗ đó!

Đa số người ta khi bị "thiếu sao" trong lá số mình và có chút hiểu biết tâm linh thì tìm đến những môn, ví dụ như Phong Thủy, để hóa giải. Thật ra Phong Thủy cũng có cơ chế "bù vào chỗ thiếu" như tôi nói, qua sự sắp xếp vật lý & môi trường xung quanh của đương số. Nếu các bạn đã biết về Tử Vi thì tại sao không dùng Tử Vi ? Một lần nữa, chìa khóa nằm sờ sờ ngay trước mặt chúng ta đó thôi.

Dĩ nhiên, sự "giải sao" vẫn không tránh khỏi một số nguyên tắc của "thiên cơ". Ta không tránh được trời mưa. Trời sẽ mưa và ta sẽ phải gặp mưa. Nhưng ta sẽ không bị ướt áo nếu ta đã chuẩn bị trước bằng cách đem dù / ô, hay áo mưa.

Biết tử vi & áp dụng đúng là một ưu thế vượt trội. Người không biết không hiểu thì không biết cách tránh, cách giải, số mình sao thì cam chịu vậy. Còn người biết sẽ có thể phòng tránh và vượt qua, hoặc ứng dụng để tạo lợi thế cho công việc cuộc sống của mình, hoặc giúp đỡ cho nhiều người khác, tạo phúc đức cho chính mình. Tôi đã nhấn mạnh nhiều lần, cách giải Tử Vi mà tôi đã chia xẻ tóm tắt với các bạn có thể áp dụng cho cả vận mệnh hay vận hạn, và chính tôi cũng và đang sử dụng trong cuộc sống của mình thấy ứng nghiệm rất chính xác. Có thể bây giờ có bạn chưa hiểu, nhưng sẽ có lúc bạn sẽ hiểu, khi trình độ tử vi của bạn đạt tới cảnh giới cao hơn.

Tôi xin chia xẻ một ví dụ khác:Khách quan mà nói (gạt chuyện "chính trị chính em" qua một bên), HCM (người mà tên ông được đặt cho Sài gòn bây giờ) là một nhà Tử Vi rất giỏi, và biết áp dụng thực tiễn cho công việc & mục đích của ông từng ly từng tí lúc còn sống (lá số Tân Mão). Một trong những giai thoại chắc các bạn có đọc qua, đó là cách giải mệnh của ông khi tự mình nằm bệnh viện để trị bệnh đồng thời tránh hạn ở tù (thông minh!). Hoặc các kế hoạch chiến trận hay "gây quỹ" của ông đều dùng thời điểm & thế lực theo Tử Vi. Ông vận dụng tối đa cung Tử Tức "con cháu" với bộ Âm Dương trong chính sách để tạo dựng một "legacy" chế độ chính trị mà vẫn còn dư âm & kết quả cho đến ngày nay, và dĩ nhiên, dân tộc Việt Nam khắp nơi trên thế giới có người thích và không thích, đồng ý hâm mộ hay chỉ trích quan điểm "Sát Tuần" của ông hay các việc làm của ông (do bộ Âm Dương giao tranh hỗn loạn tại cung Sửu).

Bộ Tử Tướng Triệt tại Mệnh thường nói về một người lãnh đạo và quản lý giỏi biết lợi dụng tối đa "tình cảm" để người khác hết lòng làm việc có lợi cho mình, có khi thành thủ đoạn có vẻ như nhẫn tâm (+ Thiên Không) bất chấp sự cực khổ lao công hy sinh của người khác (người lãnh đạo giỏi không ai không có thủ đoạn riêng của mình!). Ngoài ra, ông dùng bộ Cơ Cự ở Huynh đệ, trong anh em bằng hữu + kết nghĩa "đồng chí", văn bằng ký kết (+ Thái Tuế), thời cơ tính toán & khởi điểm, kỹ thuật "du kích" v.v... để kiểm soát Phá Quân chờ chực lăm le gây hấn ở cung Di. Nếu xem cung Di là đối tượng "Mỹ, Pháp" hay chính quyền miền Nam khi xưa thì ông cũng dùng "Lộc tồn" ở cung Nô ở thế lục hại, tức tài lực viện trợ của các "bạn bè" Trung Cộng, Liên xô cũ, kết hợp tính chất của Cơ Cự, để tạo thế lấn ép Phá Quân. Tuy nhiên, cung an Thân của ông cũng đồng thời ở Di, cho nên, càng kiểm soát lực lượng Phá Quân ở Di chừng nào thì đồng thời ông cũng bị tổn phá "nguyên khí" của chính ông chừng đó, và ông ra đi trong một cơn bệnh nặng. Vì bộ Cơ Cự Phi Liêm ở Huynh cũng ở thế lục hại với Tử Tướng ở Mệnh, chính các nội bộ "anh em đồng chí" của ông cũng không hoàn toàn đoàn kết hậu thuẫn cho ông, tạo ra các phe phái ngầm chống đối nhau trong thời ông còn sống và cả khi sau khi ông mất (Trung Quốc 1979, Hoàng Sa, Trường Sa v.v...) - điều này các bạn tự nghiệm lịch sử thì sẽ rõ.

IX Duyên Nghiệp trong Tử Vi

Trong các quan hệ của con người, gặp nhau đã là cái "duyên". Dù là ngoài đường, trường học, công sở hay trên mạng. Nhưng phản ứng của chúng ta, hay làm gì với cái "duyên" đó thì mỗi người mỗi kiểu. Có những "duyên" đến với ta 1 lần, vài lần hay nhiều lần. Có những "duyên" đến, chỉ 1 lần là đủ. Có những "duyên" đến quá nhiều lần vẫn chưa đủ ! Và cũng có những "duyên" đến làm ta ước gì "duyên" đó ... chưa bao giờ đến !

Có người hoàn cảnh cho phép biết nắm bắt cơ hội, hay "duyên", để kết quả của "duyên" được tiến xa hơn. Có người do phân tâm việc khác (quan trọng hơn) mà bỏ qua nhiều "duyên" tốt. Cũng có người lại nhút nhát, thiếu sự hướng dẫn / giáo dục trong giao tế, thiếu tự tin, thiếu "tầm nhìn xa" v.v... để rồi không có khả năng nắm bắt cái "duyên". Có người lại cần người khác để làm "chất xúc tác" để "tạo tình huống" để mới có "duyên" để quen được người thứ ba, dù trong công việc hay tình cảm.

Theo tôi biết thì KHÔNG có vị thần thánh phật nào "đặc trách" vấn đề "duyên" cả, đơn giản là vì ai cũng có "power" / khả năng tạo ra "duyên" để giúp đỡ cho con người, mỗi vị có cấp bậc và "phạm vi hoạt động" khác nhau. "Cầu duyên" theo tôi thấy cũng không được thực tế cho lắm, hên xui may rủi, vì nhiều lý do như tôi đã tóm tắt ở trên - do người, hay do ta ? Chẳng lẽ nếu một người xấu tính xấu nết trong xã hội lại đi "cầu duyên", vị thần thánh nào đó cứ tùy tiện giúp tạo "duyên" cho người ấy thì chưa biết ai sẽ là ... "nạn nhân" của "cái vụ duyên nợ" này, rồi biết đâu kết quả lại còn sinh ra ... nghiệp chướng sau đó ?!

"Duyên" là một hiện tượng rất ngẫu nhiên ai cũng gặp mọi nơi mọi lúc, nhưng cũng có quy luật. Ví dụ nếu có "duyên" từ trước (trong quá khứ, tiền kiếp v.v...), thì có thể kiếp này sẽ gặp lại, hay kiếp sau, hay sau nữa. Còn "duyên" thì còn gặp, hết "duyên" sẽ tan. Trong tình cảm, cũng có
Về Đầu Trang Go down
facebook
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Quan điểm về vong linh và giả vong của các nhà nghiên cứu    Sat Jul 09, 2011 12:12 pm


Quan điểm về vong linh và giả vong của các nhà nghiên cứu
1. Quan điểm của Trụ trì chùa Trấn Quốc

Thượng tọa Thích Thanh Nhã hiện là Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó Ban trị sự Thành hội Phật giáo Hà Nội, Chánh ban Đại diện Phật giáo quận Tây Hồ. Thượng tọa đang trụ trì chùa Trấn Quốc.
Nhà ngoại cảm phải có tâm sáng
Mở đầu câu chuyện với PLVN, vị Trụ trì chùa Trấn Quốc nói: “Theo quan điểm của nhà Phật, việc tồn tại thế giới tâm linh là có. Con người ta sau khi chết đi, có người được siêu thoát về thế giới cực lạc, sau 49 ngày thì chuyển nghiệp, đầu thai làm kiếp khác. Tuy nhiên, cũng có người không thể siêu thoát mà ở lại cõi trần 1 năm, 2 năm hoặc thậm chí đến cả trăm năm. Đó gọi là những linh hồn, hương hồn, vong, hay chính xác hơn là vong linh.
Về chuyện tìm mộ liệt sỹ bằng ngoại cảm, các nhà ngoại cảm có năng lực thật sự là những người có cảm ứng đạo giao với những liệt sỹ đã hy sinh nên tìm ra được. Song tâm linh nó còn là cái duyên, đâu phải muốn gặp lúc nào cũng được? Và vì một nhà ngoại cảm chỉ bám vào cái khung của mình nên không thể luôn đúng được mà sẽ có những cái sai. Phải hết sức đề phòng điều này”.



Thượng tọa Thích Thanh Nhã - Trụ trì chùa Trấn Quốc.

Theo Thượng tọa, cái sai của nhà ngoại cảm còn có thể do nguyên nhân khách quan bởi tính chất của thế giới tâm linh là không hề đơn giản. Theo quan niệm của nhà Phật, trong cõi tâm linh, bên cạnh Đức Phật có sự tồn tại của 96 vị thần. Bên dưới các vị thần lại có hằng hà sa số các vong linh ở dương gian.
Trong các vong linh, không ít trường hợp cầu bơ, cầu bất, không được ai thờ tự nên thấy nơi nào có duyên là đến, tự ngộ nhận trở thành hồn của người đã mất đang được kêu cầu. Theo lẽ này, khi các vong lang thang biết nhà ngoại cảm cầu cúng ở đâu thì chúng đến trước, rồi nhập vào nhà ngoại cảm hoặc nhập vào thân nhân người đã khuất. Từ đây, thông điệp của nhà ngoại cảm đến với người dân đã bị xuyên tạc.
Dưới góc nhìn của nhà tu hành, nhà ngoại cảm dù có siêu năng lực nhưng không có cái tâm sáng, không có tính “Thiên Chân” thì sẽ không hoàn thành được vai trò “cầu nối âm dương” của mình và như vậy là phụ bạc nguyện vọng của đông đảo người dân đến nhờ cậy. Thượng tọa chỉ rõ: Chính những lúc nguyện cầu, nếu nhà ngoại cảm có tà tâm thì cái tâm không sáng ấy sẽ là mảnh đất cho các vong linh lang thang, các tà thần nhập vào. Trong tình huống này, nhà ngoại cảm bị sai khiến để rồi đưa ra những nhận định, chỉ dẫn không có cơ sở hoặc không có thực.

2. Tiến sỹ Vũ Thế Khanh (Tổng Giám đốc Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật Tin học ứng dụng - UIA):
Cảnh giác với nhà ngoại cảm “rởm“ và vong giả


Ông Vũ Thế Khanh: “Điều kinh khủng nhất khi đi tìm mộ bằng ngoại cảm là gặp phải ma giả vong!”.

Sau bà Nguyễn Ngọc Hoài, một nhà khoa học có tiếng nói trọng lượng trong lĩnh vực ngoại cảm là Tiến sỹ Vũ Thế Khanh cũng lên tiếng về vấn nạn ông cốt, bà đồng đang mọc lên như nấm sau mưa với những siêu năng lực... tự phong.
Ngoại cảm rởm, siêu nhân rởm nhiều... nhan nhản!
Giống như Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thì Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật và Tin học ứng dụng nơi ông Vũ Thế Khanh giữ chức vụ Tổng Giám đốc cũng là một địa chỉ đã phát hiện ra siêu năng lực của nhiều người Việt Nam, trong đó có khả năng ngoại cảm.
Trao đổi với PLVN, ông Khanh cho biết hiện nay số lượng nhà ngoại cảm rởm, siêu nhân rởm đang nhiều nhan nhan: “Gần 20 năm hoạt động trong lĩnh vực này, chúng tôi đã tiếp nhận vài trăm hồ sơ của những người tự nhận mình có khả năng đặc biệt như ngoại cảm, triệu vong, chữa bệnh... Tuy nhiên, qua thẩm định hồ sơ, khảo nghiệm thực tế của chúng tôi thì số người thực sự có siêu năng lực chỉ đếm được trên đầu ngón tay”.
“Khi đến UIA để nộp hồ sơ xin chứng nhận có siêu năng lực, nhiều trường hợp đem theo những lý lịch rất hoàng tráng, thậm chí họ còn đưa ra cả những bài báo ca ngợi về khả năng đặc biệt của mình. Nhưng khi gặp chúng tôi, trong đại đa số các trường hợp, siêu năng lực của họ đều... biến mất!” - ông Khanh nói thêm.
Ông Khanh lý giải về hiện tượng “siêu năng lực mất hút” như sau: “Sau khi tiếp nhận một bộ hồ sơ của người được cho là có siêu năng lực, UIA sẽ tiến hành thâm nhập thực tế vào “đại bản doanh” của người đó. Nếu phát hiện có mờ ám, chúng tôi loại hồ sơ đó ngay! Nếu kết quả xác minh cho thấy dấu hiệu của siêu năng lực, chúng tôi sẽ mời “siêu nhân” về trung tâm để giám định kỹ lưỡng khả năng đặc biệt của họ”.
Quy trình tiếp theo còn ngặt nghèo hơn, ông Khanh nói: “Theo đó, một Hội đồng giám định sẽ được thành lập để làm công tác giám định, trong đó gồm có sự tham gia của cơ quan tôi, Viện Khoa học hình sự và một cơ quan nữa. Người được cho là có siêu năng lực sẽ phải thể hiện khả năng của mình trên những khách thể ngẫu nhiên.
Ví dụ, nếu “siêu nhân” có khả năng gọi hồn thì Hội đồng giám định sẽ chọn ngẫu nhiên một số trường hợp người dân đến làm thí nghiệm. Việc “tác nghiệp” của “siêu nhân” sẽ được diễn ra trong một không gian riêng, có sự giám sát chặt chẽ bằng cả những phương tiện khoa học, kỹ thuật hình sự hiện đại. Nếu kết quả khảo nghiệm là tốt, Hội đồng giám định sẽ họp để thảo luận thêm trước khi làm thủ tục đề nghị công nhận danh hiệu “Có năng lực đặc biệt” hoặc danh hiệu “Nhà ngoại cảm” cho trường hợp đó”.
Cảnh giác gặp ma giả vong
Nói sâu về “phần chìm” của thế giới triệu vong, gọi hồn, Giám đốc UIA thẳng thắn bày tỏ: “Số lượng người có siêu năng lực là rất hữu hạn. Còn số lượng nhà ngoại cảm rởm sử dụng các thủ thuật tinh vi để lừa bịp người dân thì rất nhiều! Thông qua quá trình thâm nhập thực tế “cứ địa” của các nhà ngoại cảm này, tôi đã quan sát và tổng kết được một số thủ đoạn lừa bịp phổ biến của họ”.
“Đầu tiên là việc sử dụng “chân gỗ”. Nghĩa là, các nhà ngoại cảm “rởm” nuôi một đội quân chuyên đi nghe ngóng thông tin của các gia đình đi tìm mộ. Sau đó, đội “chân gỗ” báo cáo lại thông tin thu thập được cho “nhà ngoại cảm”. Nhà ngoại cảm rởm lại dùng những thông tin này để “ra đòn” phủ đầu với tín chủ. Sau khi khiến tín chủ “choáng”, nhà ngoại cảm rởm tiếp tục dựng ra những vở kịch để dẫn đường nạn nhân” - ông Khanh nói về thủ đoạn mà ông xem là phổ biến nhất của các nhà ngoại cảm “bịp”.
Thủ đoạn nêu trên dẫu khiến người ta hoài công, tốn của nhưng không nguy hại đến sức khỏe, tính mạng. Ông Khanh nói tiếp: “Ngoài ra, tôi cũng biết được một thủ đoạn khác là dùng hóa chất, dược liệu để đánh lừa cảm giác, đánh gục ý thức của người đến xem. Nếu dùng quá liều sẽ gây những tác dụng phụ rất lớn”.
Chưa hết, ông Khanh còn hé lộ về một thủ đoạn nữa mà ông gọi là “điều kinh khủng nhất”. “Đôi khi người ta có khả năng gọi vong về nhưng vong đó là vong giả. Có nghĩa là ngoài trường hợp người giả vong thì có cả ma giả vong nữa. Đây mới là điều kinh khủng nhất!” - ông Khanh nhấn mạnh từng từ khi trao đổi với phóng viên.
“Sau khi từ biệt dương thế, có rất nhiều vong hồn vất vưởng trên cõi trần và tồn tại một cách cô đơn, lay lắt, đói khát. Thế nên, khi thấy có người triệu vong thì nhưng vong hồn vất vưởng này đã đóng giả là người đã khuất đang được tìm về. Qua đó, họ được thờ cúng. Người đi tìm mộ không biết đã đành, nhiều ông đồng bà cốt cũng không biết được chuyện này. Ngoài ra, có ông đồng bà cốt hoặc cao hơn là nhà ngoại cảm rởm còn lợi dụng lực lượng vong vất vưởng này để lừa mị người dân” - ông Khanh phân tích.
Giám đốc UIA kết lại: “Thế nên, ở chỗ chúng tôi, khi triệu vong, gọi hồn các vong linh liệt sỹ thì chúng tôi đã phải tạo ra một không gian tâm linh trong sạch và có hội đồng giám sát chặt chẽ. Người đến xin triệu vong được hướng dẫn thành tâm hướng về người đã khuất để vong nhà mình tự về và nhập vào người thân trong trạng thái tinh thần tỉnh táo. Ở đây, chúng tôi không cho dùng vàng, mã gì hết nhưng xác suất triệu vong thành công vẫn cao”.

3. Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài lên tiếng

Sau khi đọc loạt bài “Nhà ngoại cảm với biệt tài... gây tai họa” trên Báo Pháp luật Việt Nam, một nhà ngoại cảm nổi tiếng là bà Nguyễn Ngọc Hoài đã tỏ thái độ bức xúc trước vấn nạn dùng năng lực ngoại cảm “bịp” để tìm mộ liệt sỹ và nói thêm về hoạt động tìm mộ bằng ngoại cảm.

Bà Nguyễn Ngọc Hoài trong buổi giao lưu với các thân nhân liệt sỹ.

Bà Hoài khẳng định, đối lập với các nhà ngoại cảm “bịp” là những nhà ngoại cảm chân chính, nhưng ngay cả khi có siêu năng lực thì các nhà ngoại cảm cũng không phải là những “ông thần, bà thánh”!
Xác suất tìm mộ phụ thuộc 80% vào thân nhân liệt sỹ
Mở đầu cho loạt ý kiến của mình với tư cách “người trong cuộc” ở lĩnh vực tìm mộ bằng năng lực ngoại cảm, bà Nguyễn Ngọc Hoài nói: “Trước tiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng nhà ngoại cảm là những người có năng lực đặc biệt (siêu năng lực - PV).
Họ am hiểu và có thể nhận biết nhiều điều về thế giới tâm linh. Họ đã và đang sử dụng siêu năng lực ấy để giúp các thân nhân liệt sĩ tìm mộ người đã khuất. Tuy vậy, điều này không đồng nghĩa với việc các nhà ngoại cảm là những “ông thần, bà thánh”. Thế nên, trên thực tế, xác suất tìm được - tìm đúng mộ phụ thuộc 80% vào gia đình người đã khuất, còn nhà ngoại cảm chỉ chiếm 20% vai trò trong công cuộc này”.
Theo bà Hoài, để việc tìm mộ đạt hiệu quả cao, nhà ngoại cảm nhất quyết phải có năng lực đặc biệt nhưng nếu chỉ có năng lực không thôi thì chưa đủ. Bà Hoài phân tích: “Kể cả khi có siêu năng lực trong lĩnh vực tâm linh thì nhà ngoại cảm cũng cần phải biết kết hợp năng lực ấy với những căn cứ thực tế, tri thức khoa học thì mới “dẫn đường”cho người khác được.
Vì không xác định và tuân theo nguyên lý cơ bản này nên không ít trường hợp nhà ngoại cảm đã hoang tưởng về khả năng của mình hoặc không làm chủ được khả năng đó, dẫn đến những sai sót đáng tiếc hoặc nghiêm trọng hơn, lạc vào mê cung của sự mê tín”.
“Bạn thấy đấy, những nhà ngoại cảm nổi tiếng, thành công nhất đều là dân trí thức như chị Phan Thị Bích Hằng, anh Nguyễn Văn Nhã chẳng hạn” - bà Hoài nêu dẫn chứng.
Quy trình tìm mộ
Dựa trên những trải nghiệm của mình qua các cuộc tìm mộ, bà Hoài giới thiệu về hành trình và hành trang mà thân nhân đi tìm mộ cần phải có: “Việc đi tìm mộ liệt sỹ phải bắt đầu bằng giấy báo tử vì trong đó có ghi kí hiệu, phiên hiệu đơn vị của liệt sỹ. Từ tư liệu tối quan trọng ấy, thân nhân liệt sỹ có thể viết thư gửi các phòng, ban chính sách thuộc các Quân khu mà liệt sỹ trực thuộc lúc sinh thời.
Căn cứ vào đơn thư và giấy báo tử của thân nhân liệt sỹ, các Cuân khu sẽ phúc đáp cho gia đình biết thông tin về liệt sỹ mà gia đình đang tìm. Ngoài ra, thân nhân liệt sỹ nên thu thập thông tin về liệt sỹ và nơi chôn liệt sỹ theo nhiều hướng khác như tìm hỏi các cựu chiến binh, các nhân chứng sống, các đội quy tập liệt sỹ... Cuối cùng, từ những thông tin này, người nhà của liệt sỹ có thể trực tiếp đi tìm mộ hoặc cùng chia sẻ với nhà ngoại cảm để khởi hành đi tìm mộ”.
"Đơn cử như quá trình đi tìm mộ của tôi, tôi luôn cố gắng huy động tất cả những thông tin trên từ gia đình. Sau khi có được thông tin thì thân nhân liệt sỹ và nhà ngoại cảm phải tìm cách kiểm chứng thông tin. Nếu những thông tin đó chính xác từ 70% trở lên, tôi sẽ vẽ sơ đồ nơi có phần mộ của liệt sĩ cho thân nhân liệt sỹ đi tìm. Từ sơ đồ này, thân nhân liệt sỹ sẽ có địa danh nơi có mộ của liệt sỹ. Trong quá trình đi tìm mộ, gia đình người đã khuất và tôi phải liên tục liên lạc qua điện thoại để nhận các hướng dẫn của tôi thì mới có thể tìm được mộ” - bà Hoài giải thích.
Tìm thấy mộ: Chưa xong!
Tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố tri thức, khoa học trong việc tìm mộ, bà Hoài cho hay: “Sau khi tìm thấy mộ liệt sỹ theo hướng dẫn của nhà ngoại cảm, công cuộc tìm mộ chưa chấm dứt.
Thân nhân liệt sỹ không được bỏ qua một công đoạn cuối cùng nhưng rất quan trọng đó là kiểm chứng các thông tin về ngôi mộ và hài cốt được tìm thấy. Chúng ta có thể kiểm chứng các thông tin này bằng khoa học và bằng ký ức như tiến hành giám định AND của hài cốt liệt sỹ với thân nhân, kiểm chứng dấu hiệu đặc biệt như thương tích hoặc đặc điểm dị biệt (nếu có) của hài cốt hoặc nhận dạng các kỷ vật mà liệt sỹ còn lưu lại. Làm như vậy tuy tốn kém công sức, tiền của nhưng mối hồ nghi về nấm mồ được tìm thấy sẽ được dẹp bỏ hoàn toàn!”.
Cuối cùng, bà Hoài đưa ra lời nhắn nhủ cho những người dân còn đang có người thân bị thất lạc hài cốt: “Người nhà liệt sỹ không nên quá nôn nóng, ào ào đi tìm mộ liệt sỹ qua những lời đồn thổi. Bởi lẽ tìm được mộ là một điều rất tốt. Nhưng giả dụ không có duyên tìm được thì thân nhân liệt sỹ hãy thành tâm mà hướng về người đã khuất. Điều quan trọng nhất trong cuộc đời này là cái gì?
Tôi nghĩ, đó là việc con người ta không bao giờ lãng quên nhau. Là cái tình con người. Là sự nối kết của hai cõi âm dương. Là sự hiểu nhau. Có lẽ người đã khuất không bao giờ sợ bị mất hài cốt, bởi rằng những thứ đó sẽ dần trở về với cát bụi, người chết chỉ sợ những người còn sống lãng quên họ mà thôi”.

Thông tin về nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài:
Bà Hoài sinh năm 1964, tại Điện Biên, đang cư trú tại quận 9, TP.Hồ Chí Minh. Hiện nay, bà Hoài công tác tại Hội Liên hiệp Khoa học Công nghệ và Tin học ứng dụng (UIA). Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài được nhiều người biết đến qua việc tìm thấy và chụp ảnh một vong linh liệt sỹ hy sinh tại chiến trường Lào. Cuộc tìm mộ này do Trung tâm nhắn tìm đồng đội tổ chức.

Về Đầu Trang Go down
Dalai La
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Tương lai ở trong tay ta   Sat Jul 09, 2011 12:39 pm



CÁI CHẾT

HH.Dalai Lama 14

Đức Phật đã nói rằng trong tất cả những mùa khác nhau để cày cấy, mùa thu là mùa tốt nhất, trong tất cả những loại nhiên liệu để đốt, thì phân bò là tốt nhất, và trong tất cả những loại tỉnh giác khác nhau, sự tỉnh giác về sự vô thường và cái chết thì hữu hiệu nhất.

Cái chết là điều nhất định, nhưng khi nào nó giáng xuống thì bất định. Nếu chúng ta thực sự đương đầu với sự việc, chúng ta không biết được cái gì sẽ tới trước – ngày mai hay cái chết. Chúng ta không thể hoàn toàn quả quyết rằng người già sẽ chết trước và người trẻ còn ở lại phía sau.

Thái độ thực tế nhất mà ta có thể nuôi dưỡng là hy vọng điều tốt đẹp nhất nhưng chuẩn bị điều tồi tệ nhất. Nếu điều xấu nhất không xảy ra thì mọi sự đều tốt đẹp, nhưng nếu nó xảy ra, nó sẽ không tấn công chúng ta bất ngờ.

Điều này cũng ứng dụng cho sự thực hành Pháp: chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất vì không ai trong chúng ta biết được khi nào mình chết. Mỗi ngày chúng ta biết tin về cái chết trong báo chí hay cái chết của một người bạn, của người nào đó mà ta biết mang máng, hay của một người thân. Đôi khi chúng ta cảm thấy mất mát, đôi lúc chúng ta hầu như vui sướng, nhưng một cách nào đó, chúng ta vẫn còn bám chặt vào ý tưởng rằng điều đó sẽ không xảy ra cho ta.

Chúng ta nghĩ rằng mình được miễn trừ đối với sự vô thường, và vì thế chúng ta trì hỗn sự tu hành tâm linh (nó có thể chuẩn bị cho chúng ta trước cái chết), và cho rằng ta sẽ còn thời gian trong tương lai. Khi thời điểm không thể tránh khỏi xảy tới, điều duy nhất chúng ta phải mang đi là niềm hối tiếc. Chúng ta cần phải đi vào sự thực hành ngay lập tức để dù cái chết có tới sớm thế nào chăng nữa, chúng ta cũng sẽ sẵn sàng.

Khi cái chết đến, không điều gì có thể ngăn cản nó. Dù bạn có loại thân thể nào, dù bạn có thể trơ trơ đối với bệnh tật thế nào chăng nữa, cái chết sẽ chắc chắn giáng xuống. Nếu chúng ta ngẫm nghĩ về cuộc đời của chư Phật và Bồ Tát trong quá khứ thì nay các Ngài chỉ còn là một ký ức. Các Đạo sư Ấn Độ vĩ đại như ngài Nagarjuna (Long Thọ) và Asanga (Vô Trước) đã có những đóng góp to lớn cho Pháp và làm việc vì lợi lạc của chúng sinh, nhưng giờ đây tất cả những gì còn lại của các ngài chỉ là những cái tên. Đối với những nhà cai trị và các nhà lãnh đạo chính trị thì cũng thế.

Tiểu sử của các vị sống động đến nỗi hầu như họ vẫn còn sống. Khi chúng ta đi hành hương Ấn Độ, ta thấy những nơi như Đại Tu viện Nalanda, là nơi các bậc Thầy vĩ đại như Nagarjuna và Asanga đã học tập và dạy dỗ. Ngày nay Nalanda đã đổ nát. Khi nhìn những dấu tích để lại của những nhân vật vĩ đại trong lịch sử, cảnh điêu tàn chỉ cho ta thấy bản chất của sự vô thường.

Như những Phật ngôn cổ xưa nói, dù ta chui xuống lòng đất hay đi vào biển cả hoặc vào không gian, chúng ta sẽ không bao giờ tránh được cái chết. Những người trong chính gia đình chúng ta chẳng sớm thì muộn sẽ chia lìa nhau như đám lá bị gió thổi tung. Trong một hai tháng tới, vài người trong chúng ta sẽ chết, và những người khác sẽ chết trong ít năm.

Trong tám mươi hay chín mươi năm, tất cả chúng ta, kể cả Đạt Lai Lạt Ma sẽ chết. Khi ấy, chỉ có những sự thấu suốt tâm linh của ta là giúp ích được cho ta. Không ai sau khi sinh ra mà càng lúc càng cách xa cái chết. Thay vào đó, mỗi ngày chúng ta tới gần cái chết hơn, giống như súc vật đang bị dẫn tới lò sát sinh. Giống như những người chăn bò đánh đập bò của họ và dẫn chúng về chuồng, chúng ta cũng bị hành hạ bởi những nỗi đau khổ của sinh, lão, bệnh, tử, luôn luôn tiến gần tới lúc kết thúc của đời ta. Mọi sự trong vũ trụ này bị lệ thuộc vào lẽ vô thường và cuối cùng sẽ bị tan rã.

Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ bảy đã nói, những thanh thiếu niên trông rất mạnh mẽ và khỏe khoắn nhưng lại chết trẻ là những vị Thầy thực sự dạy cho chúng ta về sự vô thường. Trong tất cả những người chúng ta biết hay nhìn thấy, sẽ không ai còn sống trong một trăm năm nữa. Cái chết không thể bị đẩy lui bởi các mật chú hay bởi tìm kiếm sự nương tựa ở một nhà lãnh đạo chính trị tài ba. Trải qua những năm tháng cuộc đời, tôi đã gặp gỡ rất nhiều người. Giờ đây họ chỉ còn là những hình bóng trong ký ức tôi.

Ngày nay tôi lại gặp thêm những người mới. Thật giống như xem một vở kịch: sau khi đóng xong vai tuồng của mình, người ta thay đổi xiêm y và lại xuất hiện. Nếu chúng ta tiêu phí cuộc đời ngắn ngủi của mình dưới ảnh hưởng của sự tham luyến và oán ghét, nếu vì lợi ích của những cuộc đời ngắn ngủi đó mà chúng ta tăng trưởng những mê lầm của mình thì mối tai họa chúng ta tạo tác sẽ rất lâu dài, vì nó phá hủy những triển vọng thành tựu hạnh phúc tối hậu của chúng ta. Nếu đôi lúc chúng ta không thành đạt trong những vấn đề thế tục tầm thường, điều đó không quan trọng lắm, nhưng nếu chúng ta lãng phí cơ may quý báu có được nhờ đời người này, thì bản thân chúng ta sẽ bị trầm luân trong thời gian dài.

Tương lai ở trong tay ta – dù chúng ta muốn trải qua sự đau khổ cùng cực do rơi vào những cõi luân hồi phi-nhân, hay ta muốn thành tựu những hình thức cao hơn của sự tái sinh, hoặc ta muốn đạt tới trạng thái giác ngộ. Ngài Shantideva nói rằng trong đời này chúng ta có cơ hội, trách nhiệm, có khả năng lựa chọn và quyết định những đời tương lai của ta sẽ như thế nào.

Chúng ta nên tu hành tâm thức của mình để cuộc đời ta sẽ không bị lãng phí – không lãng phí ngay cả một tháng hay một ngày – và chuẩn bị khi cái chết đến. Nếu chúng ta có thể nuôi dưỡng sự hiểu biết đó thì động lực cho thực hành tâm linh sẽ phát sinh – đó là động lực mạnh mẽ nhất. Geshe Sharawa (1070-1141) nói rằng vị Thầy tốt nhất của ngài là sự thiền định về lẽ vô thường.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy trong giáo huấn đầu tiên của ngài rằng nền tảng của sự đau khổ là vô thường. Khi phải đối diện với cái chết, các hành giả lỗi lạc nhất sẽ hoan hỉ, các hành giả trung bình sẽ được chuẩn bị tốt đẹp, và ngay cả các hành giả hạ căn nhất sẽ không có gì để hối tiếc. Khi chúng ta đi tới ngày cuối cùng của đời mình, điều tối quan trọng là đừng có ngay cả một day dứt của sự hối tiếc, hoặc điều tiêu cực mà chúng ta kinh nghiệm khi hấp hối có thể ảnh hưởng tới sự tái sinh kế tiếp của ta.

Phương cách tốt nhất để làm cho cuộc đời có ý nghĩa là sống theo con đường của lòng bi mẫn. Nếu bạn nghĩ tưởng về cái chết và sự vô thường, bạn sẽ bắt đầu làm cho cuộc đời bạn có ý nghĩa. Bạn có thể cho rằng vì sớm muộn gì bạn cũng phải chết thì không cần cố gắng nghĩ về cái chết vào lúc này, bởi nó sẽ chỉ khiến bạn ngã lòng và lo lắng. Nhưng sự tỉnh giác về cái chết và lẽ vô thường có thể có những lợi lạc to lớn. Nếu tâm thức chúng ta bị vướng mắc bởi cảm tưởng rằng mình không bị lệ thuộc vào cái chết, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghiêm túc trong sự thực hành của mình và chẳng bao giờ tiến bộ trên con đường tâm linh.

Sự tin tưởng rằng bạn sẽ không chết là chướng ngại to lớn nhất cho tiến bộ tâm linh của bạn: bạn sẽ không nhớ tới Pháp, bạn sẽ không tuân theo Pháp mặc dù bạn có thể nhớ tới nó, và bạn sẽ không tuân theo Pháp hết lòng dù bạn có thể tuân thủ nó ở một mức độ nào đó. Nếu bạn không thiền định về cái chết thì bạn sẽ chẳng bao giờ thực hành một cách nghiêm cẩn. Chịu bó tay trước sự lười biếng, bạn sẽ thiếu cố gắng và xung lực trong việc thực hành, và bạn sẽ bị sự kiệt sức vây khốn. Bạn sẽ bị trói chặt vào danh vọng, của cải và sự thành đạt. Khi suy nghĩ quá nhiều về cuộc đời này, ta có khuynh hướng làm việc cho những gì mình yêu quý – những thân quyến và bằng hữu của chúng ta – và ta nỗ lực để làm vui lòng họ. Rồi khi có ai làm điều tổn hại cho họ, lập tức chúng ta liệt những người này là kẻ thù của mình.

Trong cách này các mê lầm như sự ham muốn và oán ghét tăng tiến như một dòng sông ngập lụt vào mùa hè. Một cách tự nhiên, những lầm lạc này khiến cho chúng ta mê đắm trong mọi thứ hành động tiêu cực mà hậu quả của chúng sẽ là sự tái sinh trong những hình thức thấp của sự sinh tử trong tương lai. Nhờ sự tích tập công đức nhỏ bé, chúng ta đã có được một đời người quý báu. Bất kỳ công đức nào đang tồn tại cũng sẽ biểu lộ như một vài mức độ thành đạt tương đối trong đời này.

Như vậy vốn liếng ít ỏi mà chúng ta có sẽ bị tiêu đi mất, và nếu ta không tích tập công đức nào mới thì giống như ta tiêu hết tiền để dành mà không có tiền mới gửi vào. Nếu chúng ta chỉ làm cạn kiệt sự tích lũy công đức của mình thì sớm muộn gì chúng ta sẽ bị đắm chìm vào một đời sau còn đau khổ ghê gớm hơn nữa.

Người ta nói rằng nếu không có một sự tỉnh giác đúng đắn về cái chết thì chúng ta sẽ chết trong sự áp chế của sợ hãi và hối tiếc. Mối xúc cảm đó có thể đưa chúng ta đi vào các cõi thấp. Nhiều người tránh đề cập tới cái chết. Họ tránh né nghĩ tới điều tồi tệ nhất, vì vậy khi nó thực sự xảy tới họ bị bất ngờ và hoàn toàn không sẵn sàng. Sự thực hành Phật giáo khuyên chúng ta đừng nên không biết tới các bất hạnh và phải hiểu biết và đối mặt với chúng, chuẩn bị cho chúng ngay từ lúc bắt đầu. Nhờ đó, khi chúng ta thực sự kinh nghiệm nỗi đau khổ thì nó không phải là cái gì hoàn toàn không chịu đựng được.

Chỉ né tránh một vấn đề sẽ không giúp giải quyết nó mà thực ra có thể làm vấn đề tệ hại hơn. Một số người nhận xét rằng thực hành Phật giáo dường như nhấn mạnh tới sự đau khổ và tính chất bi quan. Tôi cho rằng điều này thật sai lầm. Thực hành Phật giáo thực sự cố gắng để chúng ta có được một sự an lạc vĩnh cửu – là điều không thể suy lường nổi đối với một tâm trí bình thường

– và tiệt trừ những đau khổ một lần cho mãi mãi. Các Phật tử không hài lòng với sự thành đạt chỉ duy trong đời này hay triển vọng của sự thành đạt trong những đời sau, mà thay vào đó, họ tìm kiếm một hạnh phúc tối hậu. Vì đau khổ là một thực tại do đó quan điểm căn bản của Phật giáo cho rằng sẽ không giải quyết được vấn đề nếu ta chỉ tránh né nó qua quýt. Điều nên làm là đối mặt với đau khổ, nhìn vào nó và phân tích, khảo sát nó, xác định các nguyên nhân của nó và tìm ra phương cách tốt nhất để có thể đối phó với nó. Những người né tránh nghĩ tới điều bất hạnh thực ra lại bị nó tấn công, họ không được chuẩn bị và sẽ đau khổ hơn những người bản thân họ đã làm quen với những đau khổ, nguồn gốc của chúng và cách chúng phát khởi.

Một hành giả của Pháp nghĩ tưởng mỗi ngày về cái chết, quán chiếu về những nỗi khổ của con người, nỗi khổ của lúc sinh ra, nỗi khổ của sự già đi, nỗi khổ của bệnh tật, và nỗi khổ của sự chết. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức mỗi ngày một lần. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Nếu bạn phải đi qua một vùng rất nguy hiểm và ghê sợ, bạn nên tìm hiểu về những sự nguy hiểm và cách xử sự với chúng trước đó. Không tiên liệu về chúng là ngu dại. Dù có thích hay không bạn cũng phải đi tới đó, vì thế tốt nhất là chuẩn bị sẵn sàng để biết cách xử sự khi những khó khăn xuất hiện. Nếu bạn có một sự tỉnh thức hoàn hảo về sự chết thì bạn sẽ cảm thấy chắc chắn rằng bạn sắp chết một ngày gần đây. Như vậy nếu khám phá ra rằng mình sắp chết trong ngày hôm nay hay ngày mai, nhờ sự thực hành tâm linh, bạn sẽ nỗ lực tự tháo gỡ mình ra khỏi các đối tượng trói buộc bằng cách vất bỏ những thứ sở hữu và coi mọi sự thành công thế tục như không có bất kỳ bản chất hay ý nghĩa nào.

Lợi lạc của sự tỉnh thức về cái chết là nó làm cho cuộc đời có ý nghĩa và nhờ cảm thấy hoan hỉ khi giờ chết tới gần, bạn sẽ chết không chút hối tiếc. Khi bạn quán chiếu về sự chắc chắn của cái chết nói chung và sự bất định của giờ chết, bạn sẽ làm mọi nỗ lực để tự chuẩn bị cho tương lai. Bạn sẽ nhận ra rằng sự thành đạt và những hoạt động của đời này không có bản chất và không quan trọng. Như vậy, sự làm việc cho lợi lạc lâu dài của bản thân bạn và những người khác sẽ có vẻ quan trọng nhiều hơn nữa, và cuộc đời bạn sẽ được dẫn dắt bởi nhận thức đó. Như Đức Milarepa đã nói, bởi chẳng sớm thì muộn bạn phải bỏ lại mọi sự sau lưng, thì tại sao không từ bỏ nó ngay bây giờ ?

Mặc dù mọi nỗ lực của chúng ta, kể cả việc dùng thuốc men hay việc cử hành những lễ trường thọ, không ai có thể hứa hẹn sẽ sống quá một trăm năm. Có một vài trường hợp ngoại lệ, nhưng sau sáu mươi hay bảy mươi năm nữa, hầu hết những người đọc quyển sách này sẽ không còn sống. Sau một trăm năm, người ta sẽ nghĩ về thời đại chúng ta chỉ như một phần của lịch sử. Khi cái chết đến, điều duy nhất có thể giúp ích là lòng bi mẫn và sự thấu suốt về bản tánh của thực tại mà người ta đã đạt tới. Về lãnh vực này, khảo sát xem có một đời sống sau khi chết hay không là điều hết sức quan trọng.

Những đời quá khứ và tương lai hiện hữu vì những lý lẽ sau đây. Những kiểu suy nghĩ nào đó từ năm ngoái, từ năm trước nữa, và ngay cả từ thời thơ ấu có thể được nhớ lại vào lúc này. Điều này chỉ rõ cho ta thấy là một cái biết đã hiện hữu trước cái biết hiện tại. Khoảnh khắc ý thức đầu tiên trong đời này không được sinh khởi mà không có một nguyên nhân, cũng không được sinh ra từ cái gì thường hằng hay vô tri. Một khoảnh khắc của tâm là cái gì trong sáng và thấu biết. Bởi thế cái có trước nó phải là cái gì đó trong sáng và thấu biết, là khoảnh khắc trước của tâm (tiền niệm). Chỉ có thể tin được rằng khoảnh khắc đầu tiên của tâm trong đời này đến từ không cái gì khác hơn là một đời trước.

Mặc dù thân xác vật lý có thể hành xử như một nguyên nhân thứ yếu của những biến đổi vi tế trong tâm, nhưng nó không thể là nguyên nhân chính yếu. Vật chất không bao giờ chuyển hóa thành tâm thức, và tâm thức không thể chuyển hóa thành vật chất. Vì thế, tâm thức phải đến từ tâm thức. Tâm thức của cuộc đời hiện tại này đến từ tâm thức của đời trước và là nguyên nhân của tâm thức trong đời sau. Khi bạn quán chiếu về sự chết và thường xuyên tỉnh thức về nó, đời bạn sẽ trở nên có ý nghĩa. Nhận ra những bất lợi to lớn của việc bám chấp có tính cách bản năng của chúng ta vào sự thường hằng, ta phải chống trả lại nó và tỉnh thức miên mật trước cái chết để ta sẽ được thúc đẩy thực hành Pháp nghiêm cẩn hơn nữa. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng tầm quan trọng của sự tỉnh thức về cái chết không chỉ hạn chế ở giai đoạn bắt đầu.

Nó quan trọng suốt mọi giai đoạn của con đường; nó quan trọng ở lúc bắt đầu, ở giai đoạn giữa và cả ở giai đoạn cuối. Sự tỉnh thức về cái chết mà chúng ta phải nuôi dưỡng không phải là nỗi sợ hãi thông thường, bất lực về việc phải chia ly với những người thân và tài sản của chúng ta. Đúng đắn hơn, chúng ta phải học sợ hãi rằng ta sẽ chết mà chưa chấm dứt được các nguyên nhân của sự tái sinh trong các cõi thấp của luân hồi và sẽ chết mà không tích tập những nguyên nhân và điều kiện cần thiết cho sự tái sinh thuận lợi trong tương lai. Nếu chúng ta chưa hoàn thành được hai mục đích này, thì vào lúc chết, chúng ta sẽ bị áp chế bởi nỗi sợ hãi và ân hận ghê gớm.

Nếu chúng ta tiêu phí toàn bộ đời mình để miệt mài trong những hành động xấu xa phát sinh từ sự oán ghét và ham muốn, thì chúng ta gây nên tai họa không chỉ nhất thời mà còn dài lâu. Đó là bởi ta tích lũy và tàng trữ một khối lượng khổng lồ những nguyên nhân và điều kiện (duyên) cho sự đọa lạc của chính chúng ta trong những đời sau. Nỗi sợ hãi về điều đó sẽ kích động chúng ta để biến mỗi ngày trong cuộc đời mình thành cái gì có ý nghĩa. Khi đã có sự thức tỉnh về cái chết, chúng ta sẽ thấy được sự thành công và mọi sự của cuộc đời này thì không quan trọng, và sẽ làm việc cho một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là mục đích của sự thiền định về cái chết. Giờ đây, nếu chúng ta sợ hãi cái chết, chúng ta sẽ nỗ lực tìm kiếm một phương pháp chiến thắng nỗi sợ hãi và hối tiếc của mình khi chết.

Còn ngay bây giờ, nếu ta cứ tránh né nỗi sợ chết thì khi chết, chúng ta sẽ bị trói chặt bởi nỗi ân hận. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng khi sự tham thiền của chúng ta về lẽ vô thường trở nên hết sức vững chắc và kiên cố thì mọi sự chúng ta gặp gỡ đều sẽ dạy chúng ta về sự vô thường. Ngài nói rằng tiến trình đi đến cái chết bắt đầu ngay từ khi thụ thai, và khi còn sống, cuộc đời chúng ta thường xuyên bị hành hạ bởi bệnh tật và sự già yếu. Khi còn khoẻ mạnh và tràn đầy sức sống, chúng ta không nên bị lừa phỉnh khi nghĩ rằng mình sẽ không chết.

Chúng ta không nên vui thú trong sự quên lãng khi chúng ta còn khoẻ; cách tốt nhất là chuẩn bị cho số phận tương lai của ta. Ví dụ như người đang rơi từ một dốc đá thật cao sẽ không sung sướng gì trước khi họ chạm đất. Ngay cả khi chúng ta còn sống, có rất ít thời gian cho sự thực hành Pháp. Dù cho chúng ta quả quyết là mình có thể trường thọ, có lẽ một trăm năm, nhưng ta đừng bao giờ nhượng bộ cái cảm tưởng là ta sẽ có thời gian để thực hành Pháp sau này. Chúng ta không nên bị chi phối bởi sự lần lữa, nó là một hình thức của tính lười biếng.

Một nửa đời người bị tiêu mất trong việc ngủ, và phần lớn thời gian còn lại chúng ta bị phóng tâm bởi những hoạt động thế gian. Khi ta già đi, sức mạnh thể chất và tinh thần giảm sút, và mặc dù chúng ta có thể mong muốn thực hành, nhưng đã quá muộn bởi chúng ta sẽ không có năng lực để thực hành Pháp. Đúng như một bản Kinh nói, nửa đời người tiêu phí trong giấc ngủ, mất mười năm khi ta còn nhỏ và hai mươi năm khi ta già, và thời gian ở khoảng giữa thì bị dày vò bởi những lo lắng, buồn phiền, đau khổ và thất vọng, vì thế khó có thời gian nào để cho sự thực hành Pháp. Nếu ta sống một cuộc đời sáu mươi năm và suy nghĩ về tất cả thời gian ta trải qua khi còn bé, tất cả thời gian dùng để ngủ, và thời gian khi ta quá già, thì ta sẽ nhận ra rằng chỉ còn khoảng năm năm để ta có thể hiến mình cho sự thực hành nghiêm cẩn Phật Pháp.

Nếu chúng ta không dùng một nỗ lực cẩn trọng để thực hành Giáo Pháp, mà cứ sống như ta sống đời thường, thì chắc chắn là ta tiêu phí đời mình trong sự lười nhác không mục đích. Gung-thang Rinpoche nói, có phần diễu cợt: “Tôi mất hai mươi năm không nghĩ gì về việc thực hành Pháp, và sau đó mất hai mươi năm nữa để nghĩ về việc sẽ thực hành sau này, và rồi mất mười năm nghĩ về việc đã bỏ lỡ cơ may thực hành Pháp như thế nào.” Khi tôi còn là một đứa trẻ, không có gì đáng nói. Vào khoảng mười bốn hay mười lăm tuổi, tôi bắt đầu quan tâm một cách đứng đắn về Pháp. Rồi người Trung Hoa đến, và tôi mất nhiều năm trong mọi thứ rối loạn chính trị.

Tôi đi Trung Hoa và viếng Thăm Ấn Độ năm 1956. Sau đó tôi trở về Tây Tạng và lại mất thêm một ít thời gian trong chính sự. Điều tốt nhất tôi có thể nhớ lại là cuộc thi tôi lấy bằng Geshe (học vị hàn lâm cao nhất trong các trường Đại học tu viện Tây Tạng), sau đó tôi phải rời bỏ quê hương mình. Giờ đây, tôi đã sống lưu vong hơn ba mươi năm, và mặc dù có được một ít học tập và thực hành, phần lớn đời tôi đã bị lãng phí một cách lười biếng không lợi lạc gì nhiều. Tuy nhiên tôi không đến nỗi phải hối tiếc rằng mình đã không thực hành.

Nếu tôi nghĩ về phương diện thực hành Tantra Du Già Tối thượng thì có những khía cạnh nào đó của con đường tôi không thể thực hành vì những cơ cấu thân thể của tôi bắt đầu suy thoái cùng tuổi tác. Thời gian để thực hành Pháp không đến một cách tự nhiên mà phải được sắp xếp có chủ đích. Nếu bạn phải khởi hành trên một hành trình lâu dài thì ở một lúc nào đó, cần phải làm những sự chuẩn bị. Như tôi thường thích nói, chúng ta nên dùng năm mươi phần trăm thời gian và năng lực cho những mối quan tâm về đời sau của mình, và khoảng năm mươi phần trăm cho những công việc của đời này.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết và rất ít nguyên nhân để sống còn. Hơn nữa, những gì chúng ta thường coi là để củng cố đời sống, như thực phẩm và thuốc men, có thể trở thành những nguyên nhân của cái chết. Ngày nay, nhiều bệnh tật được cho là do bởi chế độ ăn uống của chúng ta. Những hóa chất thường giúp tăng trưởng mùa màng và chăn nuôi súc vật đã góp phần làm sức khỏe suy yếu đi và gây nên sự mất quân bình trong thân thể. Thân người quá nhạy cảm, quá tinh tế khiến nếu nó quá mập thì bạn có mọi thứ vấn đề: bạn không thể đi đứng ngay ngắn, bị cao huyết áp, và thể bạn trở thành một gánh nặng.

Trái lại, nếu bạn quá gầy ốm, bạn ít mạnh khỏe hay khả năng chịu đựng, nó dẫn tới mọi thứ phiền não khác. Khi bạn còn trẻ, bạn lo lắng không được kể đến trong số những người lớn, và khi quá già thì bạn có cảm tưởng như bị xua đuổi ra khỏi xã hội. Đây là bản chất sự hiện hữu của chúng ta. Nếu mối họa hại là một thứ gì tác động từ bên ngoài, thì bạn có thể bằng cách này hay cách khác né tránh nó; bạn có thể chui xuống lòng đất hay lặn sâu trong đại dương. Nhưng khi hiểm họa đến từ bên trong thì bạn không thể làm gì hết. Trong khi chúng ta còn tự do đối với sự bệnh hoạn và khó khăn, và ta có một thân thể khỏe mạnh, chúng ta phải lợi dụng điều đó và rút ra được cốt tủy của nó. Rút ra được cốt tủy (bản chất) của cuộc sống là nỗ lực để thành tựu một trạng thái hoàn toàn giải thoát khỏi bệnh tật, cái chết, sự suy sụp và nỗi sợ – đó là, một trạng thái của giải thoát và toàn trí.

Người giàu có nhất trong thế giới không thể mang theo một vật sở hữu duy nhất khi chết. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng nếu chúng ta phải để lại đằng sau thân xác này, là thứ mà ta rất thân thiết, coi như của riêng mình và là cái từng đồng hành với ta từ lúc sinh ra như người bạn già nua nhất, thì làm gì có chuyện không phải bỏ lại những của cải vật chất. Hầu hết mọi người đều mất quá nhiều năng lực và thời gian chỉ để cố gắng có được một ít thành đạt và hạnh phúc trong đời này. Nhưng vào lúc chết, mọi hoạt động thế tục của ta, như sự chăm sóc những người thân và bằng hữu, và sự đua tranh với những đối thủ, đành phải bỏ lại dang dở.

Mặc dù bạn có thể có đủ thực phẩm để dùng trong một trăm năm, lúc chết bạn sẽ phải chịu đói, và mặc dù bạn có thể có quần áo đủ mặc trong một trăm năm, nhưng khi chết bạn sẽ phải trần truồng. Khi cái chết tấn công, không có sự khác biệt giữa cách chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cách chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy. Bạn nên cố gắng tưởng tượng một tình huống trong đó bạn bị bệnh. Hãy tưởng tượng là bạn bị trọng bệnh và toàn thể sức khỏe thể xác đã ra đi; bạn cảm thấy kiệt sức, và ngay cả thuốc men cũng không giúp được gì. Đến lúc hấp hối bác sĩ sẽ nói bằng hai cách: với người bệnh thì ông nói: “Đừng lo lắng, bạn sẽ khá hơn.

Không có gì phải lo âu; chỉ cần tĩnh dưỡng.” Với gia đình thì ông nói: “Tình huống rất trầm trọng. Quý vị nên sắp xếp để cử hành những nghi lễ cuối cùng.” Vào thời điểm đó bạn sẽ không có cơ hội nào để hoàn tất công việc dở dang hay để hoàn thiện việc nghiên cứu của bạn. Khi nằm đó, thân thể bạn sẽ quá yếu khiến bạn cử động khó khăn. Rồi hơi nóng của thân từ từ phân tán và bạn cảm thấy thân mình trở nên cứng đơ, như một khúc cây rơi trên giường bạn. Bạn sẽ thực sự bắt đầu nhìn thấy tử thi của chính mình.

Những lời sau cùng của bạn nghe thều thào và những người ở xung quanh phải ráng sức mới hiểu bạn nói gì. Thực phẩm cuối cùng bạn ăn không phải là một bữa ăn ngon lành mà là một nắm thuốc mà bạn sẽ không còn sức để nuốt trôi. Bạn sẽ phải rời bỏ những bằng hữu thân thiết nhất, dường như phải mất nhiều kiếp bạn mới gặp lại họ. Cách thở của bạn biến đổi và trở nên ồn hơn. Từ từ nó sẽ trở nên bất thường, hơi thở vào hơi thở ra nhanh hơn, nhanh hơn nữa. Cuối cùng, sẽ có một hơi thở ra rất mạnh sau cùng, và đây sẽ là sự chấm dứt việc hô hấp của bạn. Điều đó đánh dấu sự chết như thường được hiểu như vậy. Sau đó thì tên của bạn, cái tên mà đã một thời đem lại niềm vui cho bằng hữu và gia đình bạn khi họ nghe tới nó, sẽ được thêm vào một từ “cố” ở trước nó.

Điều trọng yếu là vào lúc hấp hối, tâm phải ở trong một trạng thái tốt lành. Nó là cơ may cuối cùng mà chúng ta có, và là một dịp may không nên bị bỏ qua. Mặc dù chúng ta có thể sống một cuộc đời rất xấu xa, nhưng vào lúc hấp hối ta nên làm một nỗ lực vĩ đại để nuôi dưỡng một trạng thái đức hạnh (an bình) trong tâm. Nếu chúng ta có thể phát triển một lòng bi mẫn hết sức mạnh mẽ và tràn đầy năng lực vào lúc chết, thì có hy vọng rằng ở đời sau chúng ta sẽ tái sinh trong một đời sống thuận lợi. Nói chung, sự quen thuộc đóng một vai trò quan trọng trong việc này. Khi bệnh nhân sắp chết thì việc để cho người hấp hối cảm thấy ham muốn hay oán giận là điều bất hạnh.

Ít nhất, nên cho người bệnh ngắm nhìn hình ảnh các vị Phật và Bồ Tát khiến họ có thể nhận ra các Ngài, cố gắng phát triển đức tin mạnh mẽ nơi các Ngài, và chết trong một tâm trạng tốt lành. Nếu điều này không thể làm được thì điều tối quan trọng là những người chăm sóc và thân quyến đừng làm người sắp chết bối rối. Vào lúc ấy, một cảm xúc rất mãnh liệt như sự ham muốn hay oán giận có thể đưa người hấp hối tới một trạng thái đau khổ ghê gớm và hoàn toàn có khả năng đi vào một sự tái sinh ở cõi thấp. Khi cái chết đến gần, những dấu hiệu nào đó điềm chỉ tương lai có thể xuất hiện.

Những người có tâm thức tốt lành sẽ thấy là mình đang đi từ chốn tối tăm ra ánh sáng hay đi vào nơi quang đãng. Họ sẽ cảm thấy sung sướng, nhìn thấy những điều đẹp đẽ, và sẽ không cảm thấy bất kỳ nỗi đau khổ sâu sắc nào khi họ chết. Nếu lúc hấp hối người ta có những cảm xúc hết sức mãnh liệt về sự ham muốn hay oán ghét thì họ sẽ thấy mọi thứ ảo giác và sẽ cảm thấy đau buồn ghê gớm.

Một số người thấy như thể họ đang đi vào bóng tối, những người khác cảm thấy mình đang bị thiêu đốt. Tôi từng gặp vài người đang bệnh rất nặng, họ kể lại rằng khi đau nặng, họ thấy mình đang bị thiêu đốt. Đây là một biểu thị cho số phận trong tương lai của họ. Do những dấu hiệu như thế, người hấp hối sẽ cảm thấy hết sức bối rối, và sẽ kêu la, rên rỉ, thấy như thể toàn thân đang bị lôi kéo xuống.

Họ sẽ đau khổ sâu sắc lúc hấp hối. Một cách rốt ráo, những sự kiện này phát xuất từ sự bám chấp vào bản ngã. Người hấp hối biết rằng kẻ mà mọi người rất yêu mến đó sắp chết. Khi những người đã miệt mài phần lớn đời mình trong ác hạnh ấy chết, ta được biết là tiến trình tan hoại hơi ấm của thân thể bắt đầu từ phần thân trên đi xuống trái tim. Đối với những hành giả thiện hạnh thì tiến trình tan biến hơi nóng bắt đầu từ phía dưới, từ bàn chân, và cuối cùng lên tới trái tim. Trong bất kỳ trường hợp nào, tâm thức cũng thực sự khởi hành từ trái tim. Sau khi chết, người ta đi vào trạng thái trung ấm, bardo. T

hân thể trong trạng thái trung ấm có vài đặc điểm riêng biệt:

tất cả các giác quan đều đầy đủ, và nó có một hình tướng thể chất giống hệt với hình tướng của hiện thể mà nó sẽ tái sinh. Ví dụ, nếu nó tái sinh làm một con người, nó sẽ có một hình tướng thể chất giống hệt một con người. Nếu nó tái sinh là một súc sinh thì nó sẽ có hình tướng thể chất của súc sinh đặc thù. Thân trung ấm có thị lực mạnh mẽ đến độ có thể nhìn xuyên qua các vật rắn và có khả năng du hành bất kỳ nơi nào mà không bị ngăn ngại. Thân trung ấm chỉ có thể nhìn thấy những thân trung ấm cùng loại. Ví dụ, nếu một thân trung ấm được định là tái sinh làm một con người thì nó chỉ nhìn thấy những thân trung ấm đã được định để tái sinh làm người. Những thân trung ấm của cõi trời đi hướng lên, nhìn hướng lên cao, và các thân trung ấm của cõi người đi thẳng và nhìn thẳng.

Các thân trung ấm của những kẻ đã say đắm trong các ác hành và bị tái sinh vào các cõi thấp thì ta được biết là di chuyển hướng xuống dưới. Thời kỳ ở trạng thái trung ấm này là bảy ngày. Sau một tuần lễ, nếu thân trung ấm gặp được những tình cảnh thích hợp thì nó sẽ tái sinh trong cảnh giới luân hồi tương ứng. Nếu nó không gặp được thì sẽ lại chết một cái chết nhỏ và xuất hiện một lần nữa như một thân trung ấm.

Điều này có thể xuất hiện bảy lần, nhưng sau bốn mươi chín ngày thì nó không thể tồn tại như một hiện thể của trạng thái trung ấm nữa và phải tái sinh dù nó có muốn hay không. Khi đến thời điểm để tái sinh, thân trung ấm nhìn những hiện thể cùng loại với nó bay lượn, và nó sẽ phát triển một ước muốn nhập bọn với họ.

Những chất sinh nở của các cha mẹ tương lai, tinh dịch và trứng, trông khác biệt với nó. Mặc dù cha mẹ có thể không thực sự ngủ với nhau, thân trung ấm sẽ có ảo giác là họ đang làm việc đó và sẽ cảm thấy dính mắc với họ. Nếu thân trung ấm nào có thể sinh làm một bé gái, nó sẽ cảm thấy ghét bỏ người mẹ và bị cuốn hút bởi sự trói buộc, nó sẽ nỗ lực để ngủ với người cha.

Nếu thân trung ấm có thể sinh ra làm một bé trai, nó sẽ thấy ganh ghét người cha mà ràng buộc với người mẹ và cố gắng để ngủ với mẹ. Bị kích động bởi lòng ham muốn như thế, nó đi theo cha mẹ bất kỳ nơi nào. Sau đó, không có phần thân thể nào của cha mẹ xuất hiện ra trước thân trung ấm đó trừ những bộ phận sinh dục, do đó nó cảm thấy thất vọng và giận dữ.

Sự giận dữ đó là điều kiện (duyên) cho cái chết của nó từ trạng thái trung ấm, và nó tái sinh trong tử cung. Khi cha mẹ đang giao hợp và đạt tới khoái cảm cực độ, một hay hai giọt tinh dịch đậm đặc và trứng hòa trộn với nhau như kem trên lớp mặt sữa đun sôi. Vào lúc này, tâm thức của thân trung ấm ngừng dứt và đi vào hỗn hợp ấy.

Điều đó đánh dấu sự nhập thai. Mặc dù cha mẹ có thể không giao hợp, thân trung ấm có ảo tưởng là họ đang làm việc ấy và sẽ đi tới nơi đó. Điều này hàm ý rằng có những trường hợp, mặc dù cha mẹ có thể không giao hợp, tuy nhiên tâm thức vẫn có thể đi vào những yếu tố vật lý. Điều này giải thích cho việc những đứa trẻ sinh ra từ ống nghiệm ngày nay; khi các tinh chất được tập hợp lại từ cha mẹ, được hòa trộn và giữ gìn trong một ống nghiệm thì tâm thức có thể đi vào hợp chất đó mà không cần sự giao hợp thực sự xảy ra.

Ngài Shantideva nói rằng ngay cả các súc vật cũng hoạt động để cảm nghiệm niềm vui thích và tránh né đau khổ trong đời này. Chúng ta phải hướng sự chú tâm của ta về tương lai; nếu không, ta sẽ không khác gì những thú vật. Sự tỉnh thức về cái chết chính là nền tảng của toàn thể con đường. Trừ phi bạn phát triển sự tỉnh thức này, còn không thì tất cả những thực hành khác sẽ bị chướng ngại. Pháp là người hướng đạo dẫn dắt ta đi qua những địa hạt không được biết tới; Pháp là thực phẩm nuôi dưỡng ta trong cuộc hành trình;

Pháp là vị thuyền trưởng sẽ đưa chúng ta tới bến bờ xa lạ của Niết bàn. Vì thế, hãy đem tất cả năng lực của thân, ngữ và tâm bạn vào việc thực hành Pháp. Nói về sự thiền định về cái chết và lẽ vô thường thì rất dễ, nhưng thực hành thật sự thì quả là hết sức khó khăn. Và khi chúng ta thực hành, đôi lúc ta không nhận thấy có sự thay đổi nhiều, đặc biệt nếu ta chỉ so sánh hôm qua và hôm nay.

Đó là một mối nguy hiểm dễ làm ta mất hy vọng và trở nên thiếu can đảm. Trong những tình huống như thế, rất lợi lạc khi ta không so sánh từng ngày hay hàng tuần, mà đúng hơn, cố gắng so sánh tâm trạng hiện thời của ta với tâm trạng của năm năm hay mười năm trước; như vậy ta sẽ thấy rằng đã có một vài thay đổi.

Chúng ta có thể nhận ra một số chuyển biến trong quan điểm, trong nhận thức, trong thân tâm, trong sự hưởng ứng của chúng ta đối với các thực hành này. Chính nó là một suối nguồn nâng đỡ, động viên to lớn; nó thực sự ban cho ta niềm hy vọng, vì nó chỉ cho ta thấy nếu ta nỗ lực thì sẽ có khả năng để tiến bộ hơn nữa. Trở nên ngã lòng và quyết định trì hỗn thực hành của chúng ta tới một thời điểm thuận lợi hơn thì thực sự rất nguy hiểm.
Về Đầu Trang Go down
goodness
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Luật Nhân Quả   Sat Jul 09, 2011 12:43 pm



Luật Nhân Quả

Nguyên tác: Đức Đạt Lai Lạt Ma

Chuyển ngaữ: H.T. Thích Trí Chơn

Trích từ cuốn sách: “An Open Heart”

Nếu bạn hiểu rõ mọi khía cạnh chi tiết của luật nhân quả thì bạn được gọi là người có trí tuệ thông suốt mọi việc. Kiến thức thông thường của chúng ta không thể thấu triệt đầy đủ về luật nhân quả. Muốn sống đúng theo luật nhân quả mà đức Phật đã dạy, chúng ta cần tin tưởng vào giáo lý của Ngài. Khi Ngài dạy sát sinh dẫn đến chịu sự đoản mệnh, trộm cắp phải gặp cảnh nghèo túng, thực sự không có cách nào để chứng minh được những lời Ngài nói là đúng với thực tại.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Mục đích cuối cùng của những người thực hành theo Phật giáo là đạt đến quả vị hoàn toàn giác ngộ và thấu suốt mọi sự vật của một đức Phật. Phương tiện chúng ta nương vào để tu tập là cái thân người này với một tâm hồn thanh tịnh.

Hầu hết chúng ta sống một cuộc đời tương đối như những con người lành mạnh. Thật vậy, theo lời đức Phật dạy trong các kinh điển có được thân người hôm nay là một phước duyên thù thắng và vô cùng quí báu. Ðó là kết quả của vô lượng công đức trải qua nhiều kiếp tu hành của chúng ta. Mỗi cá nhân đã nỗ lực tinh tấn tu hành mới có được cái thân người này.

Tại sao nó quý báu như vậy? Bởi lẻ thân người giúp chúng ta có nhiều thuận duyên tu tập phát triển đời sống đạo đức hầu mưu tìm hạnh phúc cho chúng ta và những người khác. Loài vật không có khả năng thực hành đạo đức như con người vì chúng đang sống trong cõi vô minh.

Cho nên chúng ta nên biết quý trọng cái thân người nầy và cố gắng bằng mọi cách tinh tấn tu hành để mong được tái sinh làm thân người ở kiếp sau. Mặc dù chúng ta luôn mong ước đạt được sự giác ngộ hoàn toàn, chúng ta nên biết rằng con đường tu hành để thành Phật là rất dài mà chúng ta muốn thành tựu cần phải trải qua các khoảng thời gian ngắn để chuẩn bị tu tập.

Như chúng ta đã biết để bảo đảm được tái sanh làm người với đầy đủ khả năng có thể theo đuổi con đường tu tập, hành giả trước tiên phải áp dụng thực hành đạo đức. Ðiều này, theo giáo lý đức Phật, có nghĩa là con người cần tránh, không làm mười điều ác. Sự khổ gây ra do mỗi việc làm ác này, có nhiều mức độ khác nhau. Ðể đưa ra những lý do cho chính bản thân mình cần tránh các hành động bất thiện đó, chúng ta phải hiểu rỏ về luật Nhân Quả.

“Nghiệp” hay “Karma” có nghĩa là “hành động” nhằm chỉ một việc làm chúng ta tham dự vào cũng như hậu quả của nó. Khi chúng ta nói hành vi sát hại thì chính tác động đó sẽ dẫn đến việc cướp đi mạng sống của một người. Kết quả tai hại hơn của hành động giết người này là gây đau khổ cho nạn nhân cũng như nhiều người thân yêu của họ.

Nghiệp nhân của việc làm ác đó còn gây ảnh hưởng xấu đến kẻ sát nhân. Những quả báo này không chỉ giới hạn trong cuộc đời hiện tại mà thôi. Thực ra kết quả của một hành vi bất thiện sẽ phát triển theo thời gian, cho nên sự thiếu từ tâm nơi kẻ sát nhân tàn bạo hủy diệt mạng sống con người nói trên được khởi đầu từ cuộc đời quá khứ của hắn đã từng xem nhẹ mạng sống mọi người cũng như loài vật và côn trùng.

Một tên sát nhân không chắc sẽ được tái sinh làm người ở kiếp sau. Những hoàn cảnh dẫn đến việc giết người sẽ quyết định quả báo khốc liệt mà kẻ sát nhân sẽ phải gánh chịu. Một tên giết người man rợ, vui sướng khi phạm tội ác, có lẽ sẽ được tái sinh trong một thế giới mà ta gọi là “Ðịa Ngục”. Một trường hợp kém tàn ác hơn – ví dụ giết người vì tự vệ – có thể sẽ được tái sinh nơi “địa ngục” chịu ít đau khổ hơn. Những hành động thiếu đạo đức với hậu quả không nghiêm trọng lắm có thể khiến cho một người bị tái sinh làm con vật, thiếu khả năng tu tập cải thiện tâm hồn.

Khi một người được tái sinh làm người, các hậu quả của những hành vi bất thiện trong kiếp trước sẽ quyết định hoàn cảnh cuộc sống mới của người đó theo nhiều cách. Sát sinh nhiều trong đời trước thì kiếp này thọ mạng kẻ ấy sẽ ngắn ngủi hoặc thường hay bị ốm đau. Nó cũng hướng dẫn người đó có khuynh hướng giết chóc và chắc chắn họ sẽ chịu quả báo gặp nhiều khổ đau trong những kiếp tương lai.

Tương tự, đời trước hay trộm cắp thì kiếp này bị nghèo khổ hoặc bị trộm cướp. Nó cũng hướng dẫn kẻ ấy tiếp tục có ý tưởng trộm cắp trong nhiều đời sau. Hành động tà dâm hay ngoại tình dẫn đến hậu quả vợ chồng trong kiếp sau sẽ không tin cậy lẫn nhau và gặp cảnh khổ vì cuộc sống không chung thủy hay bị phản bội. Ðây là những quả báo của ba việc làm ác gây ra từ nơi thân của chúng ta.

Trong bốn hành động ác xuất phát từ khẩu nghiệp nơi miệng thì người hay nói dối dẫn đến kết quả là sống ở đời thường hay bị người ta nói xấu. Vọng ngữ cũng khiến kẻ đó có khuynh hướng tiếp tục nói dối ở kiếp sau, cũng như bị người ta lừa gạt hoặc mọi người sẽ không tin dù bạn nói sự thật.

Hậu quả ở kiếp sau của người nói lời gây chia rẽ là cuộc sống cô độc và khuynh hướng tạo mối bất hòa với mọi người. Lời nói cộc cằn thô lỗ dẫn đến sự lăng mạ, ngược đãi người khác và khiến họ sanh tâm giận dữ. Người có tật ngồi lê đôi mách đưa tới hậu quả đời sau khi nói sẽ không có ai nghe và thường hay nói những câu chuyện nhảm nhí.

Cuối cùng, quả báo của ba việc làm ác phát xuất từ ý nghiệp là gì? Sau đây là các tánh xấu bất thiện thông thường nhất của chúng ta. Lòng tham khiến chúng ta không bao giờ biết đủ và luôn luôn bất mãn. Ác tâm và sân giận mang lại cho chúng ta sự sợ hãi và dẫn chúng ta đến hành động làm hại những kẻ khác. Si mê là đặt niềm tin vào điều trái với sự thật, dẫn đến kết quả là chúng ta không thể hiểu biết, chấp nhận lẽ phải và ngoan cố bảo thủ, chấp chặt tà kiến.

Trên đây là một vài ví dụ cho thấy kết quả của các hành động bất thiện. Cuộc sống hiện tại của chúng ta là kết quả của cái Nghiệp (Karma), việc làm quá khứ của chúng ta. Hoàn cảnh tương lai, các điều kiện mà trong đó chúng ta sẽ tái sinh vào, những cơ hội mà chúng ta sẽ có hay không thể có được để tạo dựng một cuộc đời hạnh phúc tốt đẹp hơn sẽ tùy thuộc vào những hành động và việc làm hiện nay của chúng ta.

Mặc dù hoàn cảnh hiện tại của chúng ta được quyết định bởi những hành vi trong quá khứ, nhưng chúng ta vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của chúng ta trong hiện tại. Chúng ta có khả năng và trách nhiệm để chọn lựa phương cách nhằm hướng dẫn mọi việc làm của chúng ta đi theo con đường đạo đức.

Khi chúng ta cân nhắc một hành động nào đó xem xét có hợp với đạo lý hay không, chúng ta nên tìm hiểu động cơ thúc đẩy của hành vi ấy. Một người lấy quyết định không trộm cắp, nếu anh ta chỉ vì sợ bị bắt hay trừng phạt bởi luật pháp, vậy thì hành động không trộm cắp của anh ta không phải là một việc làm đạo đức bởi lẽ những ý tưởng đạo đức không tác động lên quyết định của anh ta.

Một ví dụ khác, một người không dám trộm cắp vì sợ dư luận: “Nếu mình trộm cắp thì bạn bè hay hàng xóm sẽ nghĩ sao về mình? Chắc mọi người sẽ khinh bỉ và mình sẽ bị xã hội ruồng bỏ”. Mặc dù đó được xem như một quyết định tích cực nhưng nó vẫn không phải là một hành vi đạo đức.

Bây giờ, một người cũng có quyết định là sẽ không trộm cắp vì anh ta suy nghĩ rằng: “Nếu ta trộm cắp tức là ta đã hành động chống lại luật của trời đất và trái với đạo làm người:”. Hoặc là: “Trộm cắp là một việc làm ác, nó gây cho nhiều người khác bị tổn thất và đau khổ”. Với những động cơ suy nghĩ như vậy, quyết định của anh ta được xem như một hành vi đạo đức, hợp luân thường đạo lý. Theo giáo lý đức Phật, khi bạn suy nghĩ cân nhắc tránh không làm các hành động ác thì bạn sẽ khắc phục được những phiền não khổ đau. Sự kiềm chế đó của bạn được xem như một việc làm đạo đức.

Nếu bạn hiểu rõ mọi khía cạnh chi tiết của luật nhân quả thì bạn được gọi là người có trí tuệ thông suốt mọi việc. Kiến thức thông thường của chúng ta không thể thấu triệt đầy đủ về luật nhân quả. Muốn sống đúng theo luật nhân quả mà đức Phật đã dạy, chúng ta cần tin tưởng vào giáo lý của Ngài. Khi Ngài dạy sát sinh dẫn đến chịu sự đoản mệnh, trộm cắp phải gặp cảnh nghèo túng, thực sự không có cách nào để chứng minh được những lời Ngài nói là đúng với thực tại. Tuy nhiên, những điều đó chúng ta cũng không nên tin tưởng một cách mù quáng. Trước tiên chúng ta cần phải có một niềm tin mạnh mẽ nơi đức Phật và giáo lý của Ngài. Chúng ta nên dùng lý trí, tìm hiểu thấu đáo trước khi tin những lời dạy của đức Thế Tôn.

Bằng cách nghiên cứu những đề tài của Phật Pháp được thiết lập bởi những suy luận hợp lý – như những lời dạy của đức Phật về tánh không và vô thường của cuộc đời mà chúng ta sẽ khảo sát ở chương mười ba về “Trí Tuệ” – và nhận thấy rằng chúng thật sự là chính xác thì niềm tin của chúng ta nơi giáo lý về luật nhân quả – sẽ tự nhiên tăng lên.

Khi chúng ta muốn tiếp nhận một lời khuyên, chúng ta đi tìm gặp một người nào đó xứng đáng đề hướng dẫn giúp đỡ chúng ta. Lời khuyên của họ càng rõ ràng hợp lý, chúng ta càng quý trọng tin tưởng vào lời chỉ dẫn ấy. Nhằm phát triển: “đức tin sáng suốt”, đối với những lời dạy của đức Phật chúng ta cũng nên có sự tin tưởng như vậy.

Tôi tin rằng chúng ta cần phải có một ít kinh nghiệm và phấn khởi trong sự thực hành để có được một niềm tin sâu xa và thành khẩn trong lòng. Hình như có hai loại kinh nghiệm khác nhau. Với những người sùng đạo họ có những kinh nghiệm mà chúng ta không thể có được. Và có những kinh nghiệm thế tục mà chúng ta đạt được qua sự tu tập hằng ngày.

Chúng ta có thể phát triển nhận thức, hiểu biết về sự ngắn ngủi, tạm bợ và vô thường của cuộc đời. Chúng ta có thể nhận thấy bản chất tàn phá của những cảm xúc khổ đau. Chúng ta có thể có được lòng từ bi quảng đại đối với mọi người hoặc nhiều kiên nhẫn hơn khi chúng ta đứng xếp hàng chờ đợi.

Những kinh nghiệm thực tế như vậy mang lại cho chúng ta cảm giác của nguồn vui và sự mãn nguyện. Hơn nữa, niềm tin của chúng ta vào những lời giảng dạy mà chúng ta đã được nghe cũng tăng lên. Ðức tin của chúng ta vào bậc thầy của mình, người đã truyền cho chúng ta những kinh nghiệm này cũng được phát triển: Lòng tin vào học thuyết mà vị thầy của chúng ta đang theo đuổi sẽ được củng cố.

Từ những kinh nghiệm xác thực đó, chúng ta có thể tiên đoán rằng việc thường xuyên tu tập của chúng ta sẽ giúp chúng ta thành đạt những kết quả phi thường như các Thánh Nhân đã thực hiện lưu danh ngàn đời trong quá khứ.

Niềm tin sáng suốt như vậy có được do tinh thần tu tập của hành giả, sẽ giúp chúng ta củng cố lòng tin vào giáo lý Nhân Quả của đức Phật. Và điều này còn giúp chúng ta quyết tâm chừa bỏ không làm các việc ác mà chúng sẽ gây đau khổ cho chúng ta.

Niềm tin đó cũng hỗ trợ chúng ta cố gắng tập trung thiền định, thấu triệt đề mục chúng ta nghiên cứu, và sau cùng nhận biết rằng chúng ta có được trí tuệ này cũng như hiểu rõ tuệ giác đó xuất phát từ đâu. Sự phản chiếu ấy được xem như một phần trong quá trình tu tập thiền định của chúng ta. Nó giúp chúng ta củng cố đức tin vào ngôi Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng và tinh tấn trong việc tu tập. Nó cũng giúp chúng ta có thêm nghị lực để tiếp tục dũng tiến trên đường đạo.
Về Đầu Trang Go down
heart
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Hòa giải Sân Hận   Sun Aug 21, 2011 8:53 pm



Phật Pháp

Hòa giải Sân Hận

Dalai Lama

Dịch giả: Mỹ Thanh

Ảnh hưởng của sân hận có tính cách phá hoại rất rõ ràng, hiển nhiên, tức thời. Thí dụ, khi một ý nghĩ căm hờn chắc chắn hoặc mạnh mẽ xuất hiện, ngay tức khắc, nó áp đảo con người hoàn toàn và hủy diệt sự an bình hiện thực của tâm thức. Khi một ý nghĩ căm ghét được nuôi dưỡng trong tâm, nó sẽ làm cho con người cảm thấy căng thẳng và bực bội, và nó gây ra triệu chứng mất ăn, mất ngủ, v…v….
Nếu chúng ta xét nghiệm làm thế nào sự tức giận hoặc các ý nghĩ chán ghét xuất hiện nơi chúng ta, chúng ta sẽ thấy, thông thường, nó xuất hiện khi chúng ta bị tổn thương, khi chúng ta bị đối xử không công bằng bởi người nào đó mà chúng ta đặt kỳ vọng nơi họ. Nếu ngay trong giây phút đó, ta xem xét kỹ lưỡng cách thức cơn giận xuất hiện, sẽ có một cảm giác là nó xuất hiện như một vị bảo hộ, một người bạn tới để giúp ta đánh trận hoặc trả thù cái người vừa làm ta tổn thương. Như vậy, cơn giận hoặc ý nghĩ chán ghét xuất hiện như một cái thuẫn hoặc một vị bảo hộ. Nhưng thực tế, đó chỉ là một ảo giác. Nó chỉ là tâm thức điên đảo mà thôi.
Chandrakirti cho rằng Bước vào Trung Đạo có thể có những chỉnh lý về việc phản ứng sức mạnh với sức mạnh, nếu muốn trả thù thì đây là một cách, hoặc ngăn ngừa hay giảm thiểu sự gia hại. Tuy nhiên, trường hợp nầy không phải vậy, bởi vì nếu như bị gia hại nơi thân hay bị chửi mắng thì việc ấy đã xảy ra rồi, cho nên việc trả thù không hề làm giảm đi hay phòng ngừa được sự việc đã xảy ra rồi và không thể thay đổi được.
Ngược lại, trong tình huống nào đó, nếu một người thay vì hành xử một cách bao dung, lại phản ứng một cách tiêu cực như trả thù, thì không những họ chẳng được lợi ích nào ngay tức thời, mà còn tạo thêm ra thái độ và cảm giác tiêu cực, và đó là mầm mống xấu cho kiếp sống ở tương lai. Quan điểm phật giáo cho rằng người nào trả thù, người đó sẽ một mình nhận lãnh kết quả sự trả thù đó trong kiếp sống ở tương lai. Do đó không những sự trả thù không mang lại lợi ích nào trong hiện tại, mà nó còn di hại tới cuộc sống lâu dài của người đó sau nầy.
Tuy nhiên, nếu một người bị đối xử bất công và nếu như tình trạng đó không được quan tâm xử lý chính đáng, nó có thể mang lại những kết quả cực kỳ xấu cho kẻ đã tạo nghiệp ác. Trong trường hợp như vầy, cần đến sự phản ứng mạnh mẽ. Trong những tình trạng như thế nầy, một người cần có tư thế mạnh mẽ để có những phản ứng thích hợp, cần nhất là họ phản ứng trong tinh thần từ bi, không giận dữ hay sân hận. Thật vậy, một trong những giới cấm của Bồ Tát là cần có những phản ứng mạnh mẽ trong tình trạng khẩn thiết, và nếu như tình trạng cần kíp, mà vị đó không phản ứng gì thì xem như đã vi phạm một trong những giới Bố Tát.
Lại nữa, như Bước vào Trung Đạo đã dẫn giải rõ, không những một thế hệ đầy dẫy các ý nghĩ sân hận đưa đến những dạng tái sanh không như ý trong kiếp sống ở tương lai, mà đồng thời các cảm giác giận dữ mạnh mẽ cũng xuất hiện, không cần biết người đó cố gắng giữ tư thế đáng kính như thế nào, khuôn mặt họ vẫn rất xấu. Họ cho thấy một khuôn mặt khó chịu, và người nầy phát ra những rung động rất thù nghịch. Người khác vẫn cảm nhận được, và dường như họ cảm nhận luôn được làn hơi nóng bốc ra từ thân thể của người kia. Thật ra không những chỉ con người mới có thể cảm nhận điều đó, kể cả gia súc và những thú vật khác cũng cảm nhận được, và sẽ tránh người nầy ngay tức khắc.

Nếu ta xét nghiệm làm thế nào các ý nghĩ giận dữ hoặc sân hận xuất hiện nơi ta, ta sẽ thấy, thông thường mà nói, nó xuất hiện khi ta đang đau đớn, khi ta cảm thấy bị đối xử bất công bởi người mà ta không ngờ đến.
Về Đầu Trang Go down
heart
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: coi nguon oan gian   Sun Aug 21, 2011 9:19 pm



Author: His Holiness the Dalai Lama


“ Khi chúng ta nghĩ đến kết quả tiêu cực và sức hủy diệt của cơn giận dữ và sân hận, ta hiểu rõ ta cần tách rời chính ta ra khỏi những cơn bùng nổ của cảm xúc. Như đã nói qua, kết quả tai hại của những ý nghĩ giận dữ và sân hận nói trên, một người luôn bị giận dữ và sân hận chi phối, họ sẽ không nhận được sự bảo vệ nào từ cuộc sống giàu có; kể cả khi người ấy là triệu phú. Học thức cũng không bảo đảm người đó có thể được bảo vệ khỏi những hậu quả nầy. Tương tự như vậy, luật pháp không thể bảo đảm được việc nầy. Kể cả vũ khí hạt nhân, không cần biết hệ thống tự vệ hoàn chỉnh tới mức nào, nó cũng không bảo vệ hay giúp được gì cho ta. Yếu tố duy nhất có thể cho ta một nơi an trú hoặc sự bảo vệ an toàn để thoát khỏi hậu quả của giận dữ và sân hận là thực tập lòng kiên nhẫn và bao dung.”

(Trích từ HOÀ GIẢI SÂN HẬN His Holiness the Dalai Lama -
Dịch Việt : Mỹ Thanh)


Hóa giải sân hận là một nghệ thuật sống không chỉ dành cho riêng ai. Khao khát giải thoát khổ đau do sân hận tạo ra, chinh phục chính mình, thấu hiểu cội nguồn của sân hận và đem lại niềm an lạc cho tha nhân chính là con đường hay nghệ thuật hóa giải sân hận.

Cội nguồn là gì? Có phải nơi khởi điểm hoặc chưa sanh của mọi chuyện chính là Cội nguồn? Thiền sư có nói đến cái bộ mặt thật của ta trước khi cha mẹ chưa sanh như là cội nguồn an lạc và bến bờ giải thoát.

Trước khi mọi chuyện xảy ra, tất nhiên là chưa có bất kỳ một kết hợp, tương tác, nhân duyên hay hậu quả. Phật nói rằng người Trí thì theo Nhân, người Phàm thì hành xử trên Quả. Khi nhân duyên chưa đến, khi sự việc chưa xảy ra, khi khổ đau còn trong “thai” của tạo hóa thì hiện thực là cái gì??

Thế giới sinh diệt làm người ta điên đảo. Sân hận có lẽ cũng chỉ là sinh diệt. Có sinh thì ắt có diệt, không sinh không diệt thì có phải là “thế giới” không(?) Bao trầm mặc không có câu giải đáp trọn vẹn có lẽ vì nó không có câu giải đáp. Đã biết câu hỏi và vấn đề về một thế giới không sinh không diệt thì câu trả lời làm sao còn tồn tại trong thế giới đó , vì câu trả lời cũng chỉ là kết quả và sinh diệt từ câu hỏi(?)

Hiện thực là những gì có thể biết và không biết. Cái không biết là tuyệt đối. Dân gian có câu:” không thể học được chữ ngờ”. Trong cái không biết, mọi chuyện hình như cô lập, không liên hệ, nguyên thuỷ chưa tạo tác sự việc. Có lẽ cảm giác, ý thức và hoàn cảnh cô lập là gợi ý của một thế giới bất sinh bất diệt! Khi tập trung tư tưởng, nhiều khi ta không biết đến thế giới hoàn cảnh hay môi trường xung quanh, nhiều khi cũng không còn biết đến cảm giác, chỉ còn lại hiện thực mà ta gọi là chân lý hay khám phá hay thấu hiểu, trong thế giới tư tưởng "nguyên chất" đang biệt lập với hoàn cảnh và cảm giác!

Để giải thích sự vật hiện tượng hay "chinh phục" chân lý, chỉ có con đường khoa học là tìm ra căn nguyên, nguồn gốc hay bản thể chân thật. Tâm hay Nguồn gốc là nơi qui về " của mọi giải thích" nếu có. Nguồn gốc hay "cội rễ" này đã và đang nuôi dưỡng "thân, cành, lá" sum suê vạn tượng của mọi chuyện thế gian muôn vàn dính mắc liên hệ đến không còn tỉnh thức biết mình từ đâu, về đâu, đâu là chấm dứt tìm kiếm và giải thích mọi sự. Trở về cội nguồn trước khi mọi chuyện chưa sanh, là biệt lập và tìm lại chính nó trong sự nguyên chất, “tìm lại chính mình trong cô đơn nguyên thể”, chính là con đường không chỉ của Đạo mà cũng là của tư duy hay nghệ thuật.

Thật vậy, các nhà bác học khoa học vẫn luôn tách biệt mọi chuyện đến đơn thể giản đơn, hoặc là cô lập đối tượng nghiên cứu nào đó với tương tác của môi trường hoàn cảnh của nó trong phòng thí nghiệm, hoặc là như phong thái thong thả giải quyết vấn đề như là sự kiện hay sự việc tự nó trả lời…

Người nghệ sỉ thì thường hành xử như là không có ai xung quanh. Hoàn cảnh, thân xác(cảm xúc) và suy nghĩ biệt lập cho tư duy và sáng tạo nghệ thuật...

Tam quyền phân lập trong Chính trị học là sự biệt lập , độc lập, không dính mắc và liên hệ nhau giữa Quốc hội, Chính phủ và Tư pháp; nên có thể "liên hệ", câu thông, thấu hiểu và tìm thấy nguyên thể chính nó trong cội nguồn thông minh và chân thật. Chính mình là cội nguồn thấu hiểu ,chân thật và an bình thì mới có thể lãnh sứ mệnh trân trọng và chăm lo cho người dân. Cũng vậy giữa chính quyền và người dân cũng không phải “nhân danh” nhau, coi như mọi chuyện kết thúc trong sự định danh, đến nỗi không bên nào còn có thể thấu hiểu nhau. Không có kết thúc của cái biết mà chỉ có kết thúc của cái “không biết” của trở về Nguồn Cội không sinh không diệt, chân hạnh phúc hay chân lý an lạc vĩnh hằng. Lòng căm thù thái quá của cảm xúc, của môi trường “bất công” nào đó, không biệt lập tìm thấy chính nó mà kết hợp hay nhân danh với một tư tưởng triết thuyết, thì như thêm dầu vào lửa, cả ba không còn trên đường Chân Đạo.

Người tu hành chánh đạo cũng còn rất khó khăn để biết đâu là gốc khách quan của tư tưởng vì nó hay ngụy biện, ẩn nấp, ngụy danh và lừa dối ta trong sự dính mắc với lăng kính ngoại cảnh, cảnh giới hay cảm xúc. Người hay suy nghĩ thì xem tư tưởng như là chủ tể, nên không còn quân bình hay đồng đẳng với thân và cảnh. Cũng vậy, triết thuyết làm chủ tể thì sẽ đánh mất hiện thực. Hiện thực là không biết trước vì nó câu thông với Cội nguồn hiểu biết và là thể hiện của Bản Thể Chân Tánh, mà tất cả đều bị chinh phục bởi sức mạnh của sự biệt lập từ trong Nguồn Cội này. Để cho Chân Tánh hay Thượng Đế vô tâm, vô ngã, vô niệm tưởng trong ta lên tiếng chính là Hiện Thực hiển hiện. Tâm là gốc nên không thể tìm đâu ra mà chỉ cần buông bỏ và cô lập đám mây mờ tham sân si của căn-trần-thức là ánh sáng và chân lý hiện hữu. Đây cũng chính là điều Phật dạy trong Kinh Lăng Nghiêm. Tư tưởng hiểu biết như ly nước đã tràn ly nên không thể rót thêm, hiểu thấu hay tu hành theo Hiện Thực Vô Tánh hay bất kỳ vị Thầy Tạo Hóa nào nữa. Chỉ khi bị Tự Nhiên và Nhân Duyên vô ý bắt mình phải buông bỏ hay trở về thì mới tiếc không sống như khi đang có thể sống.

Trẻ con có thể hồn nhiên không biết sân hận vì nó buông bỏ cái biết, vì nó “không biết” hay nói đúng ra là cái biết vẫn còn biệt lập trinh nguyên trong nguồn cội với thân xác và môi trường nên không cần phải buông bỏ. Tinh hoa nghệ thuật của võ học Đông phương có nói “tinh túy của Thái Cực Quyền là chỉ cần thư giản và buông bỏ như là trẻ con.” Thái Cực tức là Đạo, là cội nguồn ra đi và trở về mà mình chỉ cần buông bỏ mọi chuyện là không còn chuyện gì xảy ra, là không còn cần biết đến sân hận, là có thể câu thông với Chân Ngã, Chân Tâm, Chân Lý ngay trong Hiện Tại. Chỉ có Hiện Tại không biết trước, biệt lập, đồng đẳng, vô phân biệt cho cả tư tưởng, thế giới và thân xác - là duy nhất mà không có chân lý gì khác.

Tình yêu nam nữ khởi đầu và kết thúc nếu có thì trở về trong sự “không biết”, biệt lập nhau(!) Nếu không có khởi đầu và kết thúc mà chỉ là bình thường, lúc nào cũng thủy chung như lúc nào, an bài hay điềm đạm như là một kiếp nhân duyên, không đánh mất cội nguồn trinh nguyên, trân trọng và im lặng như thuở ban đầu còn chưa quen biết, thì nó sẽ là một lương duyên.

Điềm đạm không phải là một trạng thái nhất thời mà là một đức tính, một bản lãnh, một nghệ thuật sống. Trước nghịch cảnh hay sỉ nhục, người điềm đạm vẫn không chút phản ứng vì anh ta thường luôn im lặng trong suy nghĩ và hành động. Im lặng là không lựa chọn cho mình bất kỳ một nghịch cảnh hay thuận cảnh vì thấu hiểu cội nguồn biệt lập của chúng. Lúc gặp thuận cảnh thuận ý thì anh ta vẫn tỉnh thức sẵn sàng cho lúc nghịch cảnh lúc nghịch ý hay đổi thay của đối tượng. Vì vậy sự vui vẻ thuận ý không làm anh ta chấp tưởng là thật, nên sự sỉ nhục không làm anh ta dính mắc hay động tâm mà chỉ có thể làm anh ta đau khổ với tha nhân hoặc làm lo âu buồn khổ biến mất khỏi tha nhân. Giống như là vượt ngoài nhị nguyên đối đãi (bất nhị hay vô phân biệt), điềm tĩnh là hình ảnh của Đạo, của Cội nguồn trong cuộc sống bình thường. Chỉ có tỉnh thức hay im lặng là cội nguồn vượt ngoài chọn lựa và dính mắc nơi thế gian, mới có bản lãnh hay tình thương để không còn thấy sân hận hay cảm hóa sân hận. Cũng vậy, có thể dễ dàng suy luận logic : muốn chấm dứt sân hận cần phải điềm tĩnh không có tranh cãi, muốn không có tranh cãi cần phải điềm đạm không có phản ứng lại. Và không có phản ứng hay động tâm với cảnh trí chính là im lặng, biết cũng như không biết, thấu hiểu cội nguồn biệt lập và tạm bợ của sanh diệt. Không còn lựa chọn đối đãi nên tư tưởng chấm dứt, tạo nên sự đồng bộ hay còn gọi là sáng tạo hay hòa nhịp hay đồng điệu với Tự Nhiên và Nhân duyên; mà các nghệ thuật sống như âm nhạc, yêu đương, thơ ca, võ thuật, chính trị, khoa học … là những thí dụ.
Sóng biển khổ vui có dạt dào hay cuồng nộ thì nước biển vẫn là nước biển không chút sinh diệt đổi thay, vì bản thể của sóng chính là nước. Phật im lặng suốt mấy chục năm thuyết pháp trong biển khổ thế gian cũng bởi luôn hay an định trong "căn bản", trong "im lặng" của tự nhiên và nhân duyên, trong cội nguồn biệt lập “nguyên chất” của bất sinh bất diệt. “ Trên Trời dưới đất chỉ có mình Ta là duy nhất.” (Thich Ca Mâu Ni Phật ).

Con người thật sự là cô đơn. Thế giới như là song song. Tâm vật song hành khi căn-trần-thức-thức thật sự biệt lập nơi chốn cội nguồn vô sanh diệt. Nhưng Từ bi, An lạc và Tình thương luôn an trú trong Tâm giác ngộ và giải thoát. Thiền môn là chốn không chốn, cửa không cửa, cảnh duyên ngang trái là nơi Tâm vẫn hằng an tĩnh, vì được quân bình và sáng suốt bởi gốc rễ nguyên thể, bất nhị, vô phân biệt. Đó là Bản lãnh, Trí huệ và Tình thương chân thật mà sân hận không còn là xa lạ. Sân hận chỉ có thể trở về với chính Nó.

"Khi chúng ta nghĩ đến kết quả tiêu cực và sức hủy diệt của cơn giận dữ và sân hận, ta hiểu rõ ta cần tách rời chính ta ra khỏi những cơn bùng nổ của cảm xúc. Như đã nói qua, kết quả tai hại của những ý nghĩ giận dữ và sân hận nói trên, một người luôn bị giận dữ và sân hận chi phối, họ sẽ không nhận được sự bảo vệ nào từ cuộc sống giàu có; kể cả khi người ấy là triệu phú. Học thức cũng không bảo đảm người đó có thể được bảo vệ khỏi những hậu quả nầy. Tương tự như vậy, luật pháp không thể bảo đảm được việc nầy. Kể cả vũ khí hạt nhân, không cần biết hệ thống tự vệ hoàn chỉnh tới mức nào, nó cũng không bảo vệ hay giúp được gì cho ta. Yếu tố duy nhất có thể cho ta một nơi an trú hoặc sự bảo vệ an toàn để thoát khỏi hậu quả của giận dữ và sân hận là thực tập lòng kiên nhẫn và bao dung.” (Dalai Lama).

xxxxxxxxxxxxxxxxxxx

DUC NANG THANG SO

Trong một cuốn sách phong thủy do ông Man-Ho Kwok viết, ông có kể câu chuyện như sau :

"Vài thế kỷ trước ở bên Tàu, có một ông thầy Địa lý rất nổi tiếng, nhưng tính tình ông nầy thì rất hẹp lượng và nóng tính ...

Vào một ngày của mùa hè, ông ta được lệnh của Vua đi tìm long mạch và Huyệt kết cho nhà vua dùng làm nơi xây mồ mã tổ tiên ...

Thời kỳ đó phương tiện giao thông khó khăn nên phần đông người ta đi ngựa và đi bộ mà thôi ...

Sau nhiều ngày băng rừng vượt núi, ông thầy đã tìm được Huyệt quý ...

Ông ta vui mừng trở về phúc trình với Hoàng đế ... trên đường về , ông ta đã cạn hết lương thực và nước uống, giữa vùng rừng núi hoang vu, ông ta không biết tìm đâu ra được mạch suối ngầm để lấy nước uống giữa mùa hè nóng bỏng ....

Trong cơn tuyệt vọng, ông ta đến được một khu rẫy ... Chủ nhân là một người đàn bà trung niên và ba người con trai đang cuốc đất ...

Ông ta mừng quá chạy ngay vào xin nước uống ...

Người đàn bà vui vẻ đi lấy cho ông ta một bát nước đầy ... nhưng trước khi đưa bát nước cho ông ta, bà hốt một nắm lá cây bỏ vào bát ...

Ông thầy rất giận nhưng vì đang khát, ông ta cũng ráng dằn xuống mà uống hết bát nước cho qua đi cơn khát ... trong bụng ông ta đã có ý định trả thù người đàn bà vô lễ kia ...

Sau khi hỏi thăm ông ta biết được chồng của người đàn bà nghèo khổ kia đã chết vài năm trước, để lại cho bà một mảnh đất hoang và 3 đứa con nhỏ ...

Ông ta tự giới thiệu tên và cho biết ông ta là một nhà phong thuỷ nổi tiếng làm việc cho triều đình ... ông ta bảo muốn coi giúp về phong thuỷ của căn nhà của người đàn bà tội nghiệp kia ...

Sau khi quan sát căn nhà và cấu trúc địa lý xung quanh , ông ta bảo căn nhà của bà không tốt ... nếu sống ở đó thì suốt đời nghèo khổ vất vả ...

Rồi thì ông ta bảo cho người đàn bà biết rằng, ông ta biết được có một căn nhà bỏ hoang lâu đời với đất đai rộng rãi ở bên kia núi ... ông ta khuyên người đàn bà nên dọn về đó ở sẽ tốt hơn ... ông ta nói xong thì vội vã bỏ đi , trong lòng vui sướng vì đã trả được thù ... khu đất và căn nhà hoang không chủ mà ông ta chỉ cho người đàn bà là một khu đất chết phạm vào Ngũ Quỷ xung sát ... là một khu đất cực xấu ... ai sống ở đó đều chết yểu ...

Sau một thời gian khá lâu, ông ta có dịp đi ngang qua vùng đất cũ ... ông gặp lại người đàn bà và ông ta hết sức kinh ngạc vì người đàn bà nghèo khổ ngày xưa bây giờ là một người đàn bà giàu có, nhà cao cửa rộng ...

Người đàn bà đón tiếp ông rất ân cần vì biết ơn ông đã chỉ cho bà một khu đất tốt ... từ khi dọn vào, bà luôn luôn trúng mùa, tiền bạc dư giả, con cái học hành tới nơi tới chốn, hai trong ba đứa con trai đang làm quan, đứa con thứ ba thì thông minh xuất chúng, đang dạy học và rất có tên tuổi ...

Ông ta kín đáo quan sát căn nhà, và vùng đất xung quanh, tuy có sang trọng hơn nhưng trên căn bản vẫn là vùng đất phạm Ngũ Quỹ xung sát
( Five Ghosts Dead Place ) ...

Lòng càng hoài nghi dữ dội, cuối cùng ông ta thú thiệt về việc trả thù của ông ta vì ngày xưa người đàn bà đã vô lể bỏ lá rác vào bát nước trước khi trao cho ông uống ...

Người đàn bà giải thích rằng, sỡ dĩ bà ta làm như vậy là vì lúc đó trời đang nóng bức, ông ta lại đang khát sắp chết, nếu trao cho ông ta bát nước bình thường thì ông ta sẽ uống cạn ngay ... sẽ khiến ông ta bị sốc mà bị nguy hiểm đến tính mạng , cho nên bà bỏ lá cây khô vào là để ông ta từ từ uống vì phải vừa uống vừa gạt bỏ lá qua một bên ....

Đến lúc đó ông thầy mới chợt hiểu, vì những gì bà làm để cứu mạng của ông ta đã tạo nên công đức ... đủ để hoá giải đi cái ảnh hưởng xấu của vùng đất chết ...

Đức năng thắng số ... người lành có Trời phù hộ ....

xxxxxxxxxx

THUAN DUYEN va NGHICH DUYEN

Trên bước đường tu hành của chúng ta, mà không gặp những nghịch duyên của sanh tử cản trở, thì bước đi của chúng ta lạc hướng, hay trên bước đường thực hiện giải thoát, mà chúng ta không gặp bất cứ trở ngại chướng duyên nào của sanh tử, thì dứt khoát bước đi của chúng ta là bước đi của đường ma lối quỷ chứ không phải bước đi của Phật, và chúng ta đang bị ma hàng phục rồi đó!


Vấn đề hiệu quả tác dụng của Duyên thật ra, chúng chỉ có giá trị tác dụng trên bình diện thực hành hơn là trên bình diện lý thuyết. Vì lý thuyết tự chúng chỉ nói lên được, cái giá trị tương đối của khái niệm về một thực tại, chứ không phải là thực tại, do đó lý thuyết luôn luôn ở trong chiều hướng ngoại, và ngược lại thực hành luôn luôn hướng nội. Ở đây, chúng ta muốn bắt được thực tại, bằng vào mười đầu ngón tay, thì chúng ta phải nỗ lực thực hành, còn lý thuyết chỉ là việc nói chơi ở bên ngoài mà thôi. Cũng giống như chúng ta đang đói bụng mà chỉ nói chứ không ăn, thì làm sao no được?


Cứu cánh giá trị giải thoát của đạo Phật không phải ở nơi lý thuyết, triết thuyết, mà ở nơi thực hành, có nghĩa là bạn muốn an vui tự tại giải thoát trong cuộc sống, thì buộc bạn phải thực hành theo giáo lý, chứ không phải học suông để biết giáo lý. Do đó, vấn đề thực hành được đặt lên hàng đầu, theo một cái nghĩa bó buộc nào đó, để nói lên tính cách tự lực vượt thoát, hơn là nhờ vào tha lực.


Ở đây, chúng tôi đề cập đến vấn đề thực hành cũng chỉ là một cách nói khác của từ "Tu hành" mà thôi. Như chúng ta thường nghe nói: "Trên bước đường tu hành của chúng ta thường hay gặp những thuận duyên và nghịch duyên".


Nhưng thuận duyên và nghịch duyên này, nếu chúng ta không nhìn thấy sâu xa, và không biết phân biệt một cách rõ ràng, thì chính chúng ta sẽ là bước cản đường, hay chính chúng là con đường nhà ma lối quỷ được thể hiện trong bước đi của chúng ta, chứ không phải là con đường của đức Phật đưa đến giải thoát. Vì sao? Vì thuận duyên của Phật ngược lại thuận duyên của chúng sanh (thế gian), và nghịch duyên của Phật thì ngược lại với nghịch duyên của thế gian.


Do đó chúng ta phải luôn luôn cẩn thận nhận chân một cách rõ ràng, bằng vào những tư duy phân tích có trí tuệ, chứ không thể chỉ nhận xét một cách hời hợt, theo thói quen tập quán của thế gian được. Theo đức Phật dạy thì: "Muốn bước vào con đường của các bậc Thánh, thì phải lội nghịch dòng sanh tử". Vậy nghịch dòng sanh tử ở đây chỉ cho thuận dòng (duyên) của Phật, của giải thoát; và ngược lại thuận dòng của thế gian (chỉ cho sanh tử) trói buộc, là nghịch dòng với Phật và giải thóat.


Khi chúng ta đã nhận biết con đường thế nào rồi, thì sau đó bước đi của chúng ta mới đúng hướng, cho dù trên bước đường đi của chúng ta luôn gặp mọi chướng duyên (nghịch duyên) cản trở. Người nào thật sự có đức tin vững chắc mà trong lúc tu hành (thực hành) không gặp những chướng duyên xảy ra, thì người đó dứt khoát đã đi sai đường. Vì sao? Vì như chúng ta biết con đường đưa đến giải thoát khổ đau là con đường nghịch dòng sanh tử. Do đó, khi chúng ta cất bước bắt buộc phải gặp chướng duyên của ma cản trở kéo lại bằng mọi cách, vì chúng ta đang không đồng lõa đối với ba độc (tham sân si) của chúng nên chúng cản trở chúng ta.

Ở đây, nếu chúng ta có trí tuệ cùng nghị lực, thì chúng ta sẽ đạp đổ vượt qua khỏi những chướng ngại này, nếu không thì chúng ta sẽ bị ma hàng phục kéo theo chúng, lúc đó chúng ta vĩnh viễn trôi lăn trong sanh tử luân hồi, không giải thoát được. Trường hợp, chúng ta không nhận ra thế nào là thuận duyên thế nào là nghịch duyên đối với Phật? Thì trên bước đường đi của chúng ta sẽ bị thối lui vì những chướng nạn đó, hay vì những lời nói ra nói vào của thiên hạ mà chúng ta thối thất thì thật là đáng tiếc! Ðiều này chúng ta thường thấy xảy ra trong cuộc sống thường nhật, được thể hiện trong những lúc chán nản tâm sự với nhau: "Sao tôi tu thường hay gặp chướng duyên xảy ra" hay "Người này do tu đổ nghiệp nên bị những tai nạn xấu ập đến" v.v...

Nếu ở đây, ai nắm vững được thế nào là thuận duyên, thế nào là nghịch duyên đối với đạo Phật, thì họ sẽ mừng thầm rằng ta đã đi đúng con đường của đức Phật đã dạy. Ngược lại, nếu người nào không nắm vững được thế nào là thuận duyên, thế nào là nghịch duyên thì sẽ bị thối bước trước những chướng nạn, và những lời dèm pha hủy báng này.


Tóm lại trên bước đường tu hành của chúng ta, mà không gặp những nghịch duyên của sanh tử cản trở, thì bước đi của chúng ta lạc hướng, hay trên bước đường thực hiện giải thoát, mà chúng ta không gặp bất cứ trở ngại chướng duyên nào của sanh tử, thì dứt khoát bước đi của chúng ta là bước đi của đường ma lối quỷ chứ không phải bước đi của Phật, và chúng ta đang bị ma hàng phục rồi đó! Ngược lại, nếu bước đi của chúng ta bị những chướng duyên nội ma ngoại ma của ba độc Tham-Sân-Si cản trở, thì chúng ta phải biết nỗ lực dùng ba Vô lậu học Giới-Ðịnh-Tuệ hàng phục chúng, thì chắc chắn chúng ta sẽ vượt qua khỏi những chướng nạn này một cách an toàn, đó mới chính là con đường đi đích thực của đức Phật.
Về Đầu Trang Go down
heart
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Năm Phương Cách Để Đối Trị Sân Hận   Sun Aug 21, 2011 9:28 pm



Năm Phương Cách Để Đối Trị Sân Hận

Tác Giả: Ni Sư Ayya Khema Việt Dịch: Chơn Minh Nguyễn Văn Phú, Tịnh Nghiêm Nghiêm Xuân Cường & Diệu Liên Lý Thu Linh
15/07/2011 01:09 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:

Có năm phương cách để đối trị sân hận. Chúng giúp xóa tận gốc rễ của sân hận. Đó là gì? Nếu sân nổi lên, cần làm như sau: vun trồng tâm từ, vun trồng tâm bi, vun trồng tâm xả. . . . Đừng để ý, đừng quan tâm đến người đó. Nếu oán ghét nổi lên, hãy nhớ đến quy luật làm chủ hành động của mình, đó là: “Người làm hành động gì là chủ của hành động đó, sẽ thừa hưởng hành động đó, sẽ tái sinh từ chúng, bị bó buộc vào chúng, nương tựa nơi chúng, và những tốt, xấu người ấy đã làm sẽ là di sản của người ấy.”




Anguttara-Nikàya V.161

(Tăng Chi Bộ – V.161)

Bất cứ ai đã kinh nghiệm trạng thái sân hận đều biết chúng khó chịu thế nào. May mắn thay, Đức Phật đã dành cho chúng ta những lời hướng dẫn rõ ràng về cách buông bỏ sân, cách sống sao để tránh sân hận, và Đức Phật đã truyền đạt lời dạy của mình bằng những câu chuyện để giúp chúng ta ghi nhớ những lời giáo huấn ấy.

Tất cả chúng ta đều biết tâm sân hận khó chịu thế nào, nhưng chúng ta lại thấy khó buông bỏ chúng, do đó lời dạy thực tiễn của Đức Phật thật rất hữu ích. Bài thuyết giảng đầu tiên, ngắn gọn về đề tài này được gọi là: “Năm Phương Cách Để Đối Trị Sân Hận”, và nó được nói như sau:

Có Năm Phương Cách Để Đối Trị Sân Hận.

Chúng giúp xóa bỏ mọi dấu vết của sân hận. Đó là gì? Nếu sân dấy khởi, đây là điều cần làm: Hãy vun trồng tâm từ, vun trồng tâm bi, vun trồng tâm xả.

Nhưng làm sao chúng ta có thể vun trồng những tình cảm này ngay ở giây phút ta đang cảm thấy sân hận? Nói cho cùng, từ, bi và xả là ba trong bốn tình cảm cao thượng nhất. Tình cảm thứ tư, hoan hỷ, không được nhắc đến ở đây có lẽ là vì hoan hỷ với người ta vừa cảm thấy sân hận là điều đòi hỏi quá sức, nhưng nếu chúng ta không thể thực hiện bất cứ một trong ba điều kể trên, thì còn có một cách thứ tư, đó là:

Đừng chú ý, đừng quan tâm đến người đó.

Nếu chúng ta nhận thức và chấp nhận rằng trong một số trường hợp, chúng ta không thể kiểm soát tình cảm của mình, không thể chế ngự sân hận, rằng chúng ta chỉ tự hại mình, thì chúng ta có thể ít nhất cố gắng không trụ tâm nơi đó. Chúng ta có thể tránh xa người đó hoặc làm gì khác cho đến khi cơn sân hận đã giảm xuống chút ít hay hoàn cảnh đã thay đổi đủ cho chúng ta có thể thực hành tâm từ bi trở lại.

Vào một dịp khác Đức Phật đã cho một thí dụ như sau: “Chúng ta nhìn thấy một người bạn ở bên đường, nhưng chúng ta không tiến bước về phía đó, bắt tay, thăm hỏi bạn; thay vào đó, chúng ta hành động như thể ta không nhìn thấy anh ta”. Chúng ta ở phía bên nây đường vì chúng ta biết rằng gặp mặt người ấy chỉ khiến ta tức giận.

Phương cách thứ năm đặc biệt quan trọng:

Nếu sân hận dấy khởi, ta cần nhắc nhở tâm về điều luật mình làm chủ hành động của mình, đó là: “Người hành động là chủ của hành động mình, người đó phải thừa hưởng hậu quả hành động mình, người ấy sẽ sinh ra từ các hành động của mình, người ấy bị trói buộc vào chúng, nương tựa vào chúng, và bất cứ điều phải, điều trái nào người ấy đã làm, sẽ là điều người ấy phải nhận lãnh”.

Làm chủ hành động của mình có nghĩa là làm chủ nghiệp của mình. Cách nhìn về nghiệp như thế -như là một sở hữu- rất thông thường, nhưng nó có thể cho ta một cái nhìn rất mực hữu ích. Nếu chúng ta giận dữ với ai vì họ đã làm điều bất thiện, chúng ta cần phải tự nhủ rằng tất cả mọi người đều lãnh nhận kết quả của sự chủ tâm của mình. Luật nhân quả áp dụng cho tất cả mọi thứ trong vũ trụ cũng như cho mỗi cá nhân. Những hành động có chủ tâm sẽ mang đến hậu quả mà ta không thể nào tránh né. Tuy nhiên hai người cùng thực hiện một hành động giống nhau có thể nhận lãnh những hậu quả khác nhau.

Đức Phật đã giải thích sự việc này bằng một thí dụ: “Nếu bạn bỏ một thìa muối vào một ly nước, nước đó sẽ không còn uống được. Tuy nhiên nếu bạn vãi muỗng muối đó xuống sông Hằng, thì nước sông này không thay đổi chút nào”. Ly nước đem so sánh với sông -tượng trưng cho sự tích luỹ ít ỏi của các việc thiện: nếu chúng ta tạo thêm một bất thiện nào trên chỉ một ly đầy các việc thiện, chúng ta có thể biết là hậu quả sẽ nghiêm trọng thế nào. Tuy nhiên, nếu chúng ta có cả một con sông đầy các thiện nghiệp ở phía sau, thì chỉ một hành động bất thiện có thể không gây thiệt hại gì. Vì chúng ta không biết người khác đã làm gì, nghĩ gì trong quá khứ, dầu trong kiếp này hay trong các kiếp quá khứ, không có cách gì ta có thể đoán biết được nghiệp quả của người khác. Tuy nhiên, ta biết qua những gì ta có thể nhìn thấy nơi chính bản thân, là tất cả mọi người đều hái quả của các hành động của họ.

Nếu ai đã hành động không khéo léo khiến chúng ta do đó bị thiệt hại, hay tổn thương, chúng ta có thể dễ dàng trở nên sân hận. Điều quan trọng là ở ngay giây phút đó, ta có thể nhớ rằng tất cả mọi người có cách sống riêng ở đời, tạo nên những tập quán nhân quả của riêng họ. Chúng ta như thế nào trong hiện tại hầu hết là do kết quả của các hành động có chủ tâm của ta. Nếu không chú tâm tìm hiểu giáo pháp của Đức Phật -nhiều người không có hứng thú gì trong việc này- thì sẽ không có ai đọc quyển sách này. Vì thế có đủ lòng ưa thích để đọc, để lắng nghe Pháp là một cách để tạo nghiệp lành- nếu với chủ tâm tốt, vì ta cũng có thể tạo ra nghiệp xấu khi làm việc gì đó bên ngoài có vẻ là thiện. Vấn đề này khá phức tạp, tuy nhiên, nếu ta có thể tự nhắc nhở mình về luật nhân quả, có thể sẽ giúp ta dễ buông bỏ sân hận hơn. Đó là năm phương cách để diệt bỏ các sân hận mà ta được biết đến.

Trong một số trường hợp Đức Phật khuyên ta nên xa lánh những hoàn cảnh có thể gây khó chịu cho ta. Chúng ta nên tránh những sự gặp gỡ khiến ta nổi sân, nhất là khi tình cảm ta không được quân bình và dễ kích động -cũng như ta nên bảo vệ mình khỏi người xấu, lũ voi hoang dại, rừng rậm và những thứ nguy hiểm khác. Dầu ta không nên chạy trốn những hoàn cảnh khó xử, việc thú nhận rằng ta không thể đối mặt với mọi hoàn cảnh, là điều hoàn toàn có thể chấp nhận được. Chúng ta cần phải cố gắng hết sức mình để hành xử trong mọi hoàn cảnh với tâm từ bi, nhưng cũng phải chấp nhận rằng đôi khi ta phải bó tay, không thể thích ứng với mọi hoàn cảnh.

Xả được coi là tình cảm cao thượng nhất, và không nên nhầm lẫn nó với thái độ dửng dưng. Xả không chỉ hàm chứa lòng từ bi -điều mà dửng dưng không có- mà nó còn phát khởi từ tri kiến về vô thường, về thực chất là mọi chuyện của ngày hôm nay sẽ khác đi ở ngày mai. Bên trong ta hay bên ngoài, tất cả mọi thứ đều luôn thay đổi; ngay chính niềm tin và quan điểm của ta hôm nay cũng sẽ hơi khác đi ngày mai, và bất cứ cố gắng nào để ngăn cản quá trình này cũng đưa đến khổ đau. Xả có nghĩa là chấp nhận mọi thứ như chúng là, như thế đối với người nguyện tiến bước trên con đường tâm linh, điều ấy có nghĩa là không tạo ra xung đột bằng cách xen vào việc của người.

Xả hàm chứa một sự chấp nhận và bằng lòng êm ái. Như thế ta có thể làm gì với sự phiền não này? Điều cần lưu ý trước tiên là phải chắc chắn rằng ta không làm điều gì để tạo thêm khổ đau, rồi thì xem xét mỗi hoàn cảnh với sự cảm thông, và sửa đổi những gì có thể. Nếu chúng ta có thể sửa đổi những điều kiện bên ngoài mà không đánh mất sự bình an nội tâm, thì càng tốt, nhưng nói chung, chúng ta chỉ có thể có những sửa đổi sâu xa nơi bản thân, và điều đó cũng đủ khó rồi.

Đoạn kế tiếp trong kinh là những lời giảng giải dài hơn về cùng một chủ đề của Ngài Xá Lợi Phất, người là “cánh tay mặt” của Đức Phật. Ngài Xá Lợi Phất nổi tiếng thông thái, trí tuệ và thường diễn giải các bài kinh của Đức Phật. Khi được hỏi rằng những lời dạy của ngài Xá Lợi Phất có đúng không, Đức Phật luôn đáp đúng.

Ngài Xá Lợi Phất dạy rằng: “Có năm cách để đối trị sân hận, qua những phương cách này ta sẽ có thể đối trị được sân hận. Năm cách đó là gì? Nếu một người không trong sạch trong hành động, nhưng lời nói trong sạch, thì sân hận đối với người đó cần được chế ngự. Nếu một người có lời tà ngữ, nhưng trong sạch trong hành động, thì sân hận đối với người đó cần được chế ngự. Thêm nữa, nếu có người hành động lẫn lời nói đều không trong sạch nhưng đôi khi họ cũng có lòng tin, thì sân hận đối với người đó cần được chế ngự. Lại nữa, nếu có người hành động lẫn lời nói đều không trong sạch, mà lúc này lúc khác cũng không có lòng tin, thì sân hận đối với người đó cũng cần được chế ngự. Lại nữa, nếu có người lời nói lẫn hành động đều trong sạch, và lại lúc này hay lúc khác mở lòng đón nhận niềm tin, thì sân hận đối với người đó cần được chế ngự”.

Như vậy ngài Xá Lợi Phất đã kể ra năm loại người khác nhau – và tiếp tục trình bày, bằng những ẩn dụ ngắn, cách làm sao để đối phó với từng người, kiềm chế được sân hận đối với họ. Lời nói của chúng ta có thể tốt lành nhưng ta lại hành động xấu xa, hay những lời chúng ta nói có thể không được khéo léo nhưng ta có hành động thiện. Giả thuyết thứ ba là cả hành động và lời nói có thể đáng trách, nhưng tâm cởi mở. Trường hợp thứ tư, kể cả tâm cũng đóng chặt, cứng nhắc. Cuối cùng là, lời nói và hành động đều đáng biểu dương, cùng với một trái tim cởi mở.

Chúng ta làm thế nào để chế ngự sân hận đối với loại người thứ nhất? Giống như một vị sa môn mặc y phấn tảo, gặp giẻ rách nằm trên đường, vị ấy với chân trái giữ tấm vải, chân mặt kéo thẳng ra, rồi xé lấy phần vải còn nguyên vẹn, để mang theo, cũng thế với người có hành động không trong sạch, nhưng lời nói trong sạch, tâm ta lúc ấy nên nghĩ tới lời nói thanh cao hơn là việc làm uế nhiễm của người ấy. Bằng cách đó lòng sân hận đối với người ấy sẽ được chế ngự.

Vào thời Đức Phật còn tại thế, tất cả vải vóc đều dệt bằng tay, rất đắt tiền, nên chư tăng ni thường mặc những y bằng vải chấp vá. Nếu họ tìm thấy những mảnh vải trên đường hay giữa các đống rác, họ có thể nhặt về để may lại với nhau. Trong câu chuyện thí dụ này, một vi sa môn tìm thấy mảnh vải rách, ông xé lấy phần còn sử dụng được, và bỏ lại các phần khác. Đó là cách ta nên ứng dụng khi nghĩ đến người có hành động bất thiện, nhưng lời nói thiện: chúng ta nên bỏ qua những hành động xấu mà chỉ nghĩ đến lời nói của họ. Nói vậy không có nghĩa là ta sẽ ngó lơ những hành động bất thiện họ đã làm; ta vẫn nhìn ra nhưng không phán xét họ, vì kết án hay buộc tội đều dẫn đến sân hận. Rất ít có gì hoàn hảo trên thế gian, nên trên lý thuyết ta có thể bực bội từ sáng đến tối. Nhưng nếu ta chỉ chủ tâm đến những tánh tốt của người mà ta thấy giận ghét (không phải là không có lý do), thì ta có thể chế ngự cơn giận của mình. Có thể họ có rất nhiều điều xấu, mà chỉ có ti li điều tốt, nhưng ta vẫn nên hướng chủ tâm đến điều tốt của họ.

Làm vậy, chính chúng ta mới là người được nhiều lợi ích hơn cả, vì có thể người kia không hề biết đến sự bất mãn của ta. Ngay nếu như chúng ta có nói điều đó ra, họ khó có thể chấp nhận ý kiến của ta. Có lẽ tốt nhất là nhắc nhở rằng họ đã làm điều gì đó không tốt, nhưng sẽ hoàn toàn không ích lợi gì nếu ta giận dữ nói cho họ biết là ta cảm thấy oán trách họ. Phương cách để chế ngự sân hận, và trở về với nội tâm tĩnh lặng của mình, là hãy nghĩ đến những điều tốt của người. Những xáo trộn nội tâm chỉ làm cho cuộc đời thêm khó sống.

Ngài Xá Lợi Phất sau đó lại cho một thí dụ khác:

Giả dụ như có một mặt hồ bị bao phủ bởi những rong rêu, một người đang nóng bức, chảy mồ hôi, mệt nhoài, khát nước, nghĩa là đang chịu khổ, tiến gần đến hồ, leo xuống hồ, gạt bỏ lớp rong rêu ở nhiều chỗ với cả hai tay, vốc nước lên tay uống, rồi tiếp tục cuộc hành trình. Cũng bằng cách đó đối với người có lời nói không trong sạch, nhưng hành động tốt, ta phải chú tâm không phải vào lời nói ô uế mà vào hành động thanh cao của người ấy. Do đó ta có thể chế ngự sân hận đối với người đó.

Vậy là ta thấy một người đang đi trong cái nắng cao độ, mệt lả, khát nước. Vì rong rêu bao phủ mặt nước, anh ta không thể giải cơn khát của mình ngay lập tức. Nhưng anh ta đã biết nghĩ để đẩy lớp rong rêu qua một bên, uống nước và được hồi sức. Tương tự, chúng ta có thể để qua một bên những lời nói không tốt đẹp của một người mà chỉ nghĩ đến những hành động trong sạch, tốt đẹp của họ. Hãy nhớ đến, thí dụ như, những trường hợp khi họ đã giúp đỡ người khác, hay nghĩ đến những đặc tính của họ, và để qua một bên những điều họ khiến ta bực bội trong giai đoạn này.

Những thí dụ như thế tạo thành những phương tiện hỗ trợ mạnh mẽ, dễ nhớ cho việc thực hành này. Chúng ta chỉ cần tưởng tượng ra những mảnh giẻ rách nằm đó, sờn rách, nhưng có thể tái sử dụng được. Hay hình ảnh những rong rêu được gạt sang một bên để phơi bày nguồn nước sạch trong, tươi mát. Sau đây là câu chuyện ví dụ thứ ba:

Giả dụ trong lỗ chân trâu có một ít nước, và có một người đang bị sức nóng chế ngự, sướt mồ hôi, mệt nhoài, khát, do đó đang rất khốn khổ, đi ngang qua và nhìn thấy nước. Anh ta nghĩ, “Nếu ta vớt chút nước ít oi đọng lại trong lỗ chân trâu bằng hai tay hay với một vật chứa nào, ta sẽ khuấy động nước khiến không uống được nữa. Do đó, tôi thà là phải quỳ xuống giống như con bò trên bốn chân để hớp được ngụm nước, rồi tiếp tục cuộc hành trình”. Và đó là điều anh ta đã làm. Cũng thế, với những ai có lời nói và hành động không thanh tịnh, nhưng tâm họ đôi khi cũng mở rộng tiếp nhận niềm tin, thì ta không nên để tâm đến hành động và lời nói uế nhiễm của họ lúc ấy. Thay vào đó, ta nên quán chiếu rằng tâm người đó đôi khi cũng rộng mở, cũng có niềm tin. Do đó ta nên chế ngự sân hận đối với một người như thế.

Nếu người lữ hành này vục tay hay dùng đồ múc vào nước, thì nước sẽ bị vẩn bùn, không uống được. Cũng thế, nếu chúng ta chỉ nghĩ đến những điều tồi tệ nhất của một ai đó, nghĩ đến những lời nói khó nghe của họ và phản ứng: chúng ta sẽ bị “khuấy động”. Khi tình cảm khó chịu này càng tăng lên, chúng ta sẽ không còn thấy an nhiên. Điều quan trọng trong câu chuyện thí dụ là người lữ hành đã quỳ gối xuống để uống nước, vì nói một cách bóng bẩy, chúng ta cũng phải quỳ gối xuống, và hiểu với tất cả lòng khiêm hạ rằng chúng ta chỉ có thể tìm được sự bình an ở nội tâm khi chúng ta biết chấp nhận những hành động, lời nói không thanh tịnh của người.

Ví dụ này có lẽ dễ nhớ, vì uống từ nước đọng trong dấu chân trâu không phải là một điều tốt đẹp để tưởng nghĩ đến. Những nếu chúng ta đang khát lả -ý chỉ nỗi bất an trong tâm do sân hận mang đến- chúng ta sẽ chấp nhận uống bất cứ thứ nước nào có thể tìm thấy. Chúng ta chịu đựng những uế nhiễm của người, chúng ta tránh khuấy động chúng lên, kết quả là ta có thể giữ được sự bình an trong nội tâm mình. Người lữ hành trong câu chuyện thí dụ được uống chút gì đó, và chúng ta thì cũng có thể tìm được điều gì đó để làm dịu bớt căng thẳng trong sự liên hệ giữa ta với người mà hành động và lời nói quá uế nhiễm. Chúng ta tự nhắc nhở mình rằng họ cũng có tấm lòng đôi khi cũng rộng mở để đón nhận niềm tin. Hơn thế nữa, kể cả khi ta nghĩ đến hành động và lời nói của họ, ta cũng có thể nhớ lại rằng một con người như vậy cũng có điểm tốt nơi họ. Nhìn được họ như thế, chúng ta có thể có sự chấp nhận và giảm bớt sự nóng nảy, sôi sục trong ta.

Đây là câu chuyện thứ tư:

Hãy tưởng tượng ra một người, bịnh nặng, đau đớn, đang bước đi trên đường. Anh ta đang ở một nơi cách xa các làng mạc ,không thể tìm được đồ ăn hoặc thuốc men, hay ai đó để trông nom, chỉ dẫn giùm anh ta. Nhưng rồi cũng có người nhìn thấy anh ta, cảm thấy thương xót, phát khởi tâm thiện với ý nghĩ, “Mong rằng người đàn ông đó tìm được thức ăn, thuốc men thích hợp, một ai đó để chăm sóc cho anh, dẫn đường cho anh, nếu không anh ta khó thoát chết!” Cũng thế, đối với một người mà hành động, lời nói đều không trong sạch, và cũng chưa từng mở lòng đón nhận niềm tin, chúng ta cần phải có lòng từ bi, thương xót, thiện ý, với tư tưởng, “Mong rằng con người cao quý này có thể từ bỏ những tánh xấu trong ý nghĩ, hành động, lời nói, và mong rằng anh ta có thể thực hành những ý nghĩ, lời nói, hành động thanh cao; mong anh ta, khi thân đã hoại sau khi chết, không phải đọa vào thế giới hạ tiện, đi trên con đường đau khổ". Bằng cách đó, chúng ta có thể chế ngự được sân hận đối với một người như thế.

Thí dụ này trình bày cho ta thấy những liên hệ nghiệp quả, người ta sẽ phải đối mặt với hậu quả của các hành động của mình ra sao, do đó chúng ta có thể phát khởi lòng thương xót cho họ như thế nào. Nếu nói hay hành động hay có những ý nghĩ bất thiện, chúng ta thật sự đang bị tham sân hành hạ, như thể đang bị bịnh hành khổ. Chúng ta nói, hoặc hành động do sân hận, hay hành động hoặc lời nói của ta phát xuất từ lòng tham. Tất cả chúng sanh đều khổ đau như thế do sự độc hại của vọng tưởng, mà như Đức Phật đã giải thích, là do sự độc hại tiềm ẩn của tham và sân. Tất cả đều tạo cho ta bất an, và bao điên đảo trên thế giới: trong gia đình, trong thương trường và giữa các quốc gia.

Nếu tham sân có thể được coi như một dịch bịnh, thì Đức Phật có thể được xem như một vị đại dược sư, và Pháp, giáo lý của Ngài, là thuốc chữa. Thuốc chữa bịnh có thể không dễ uống, nhưng chắc chắn là ta sẽ được chữa lành. Câu chuyện ẩn dụ của người bịnh không tìm được sự giúp đỡ, do đó thật đúng và dễ nhớ. Chúng ta đã gặp rất nhiều người đau khổ vì những hành động bất thiện, những lời nói không thanh tịnh, và sự thiếu lòng tin của họ, và phản ứng hợp lý duy nhất của ta là đối xử với họ bằng lòng thương cảm, với hy vọng rằng họ sẽ chóng khỏi bịnh, tìm được sự bình an nội tâm, do đó chấm dứt việc phải gặt hái những hậu quả đớn đau của họ. Chúng ta thường mong mọi người thân được sức khỏe, thì không khó khăn gì để chúc họ một loại sức khỏe tốt khác: không bị tham sân chế ngự. Cách nhìn sự vật như thế có thể mang nhiều lợi ích cho sự tu tập của ta.

Thí dụ thứ năm và cũng là cuối cùng tươi sáng hơn:

Giả dụ có một hồ nước trong, sạch sẽ, mát mẻ, ở một vị trí rất đẹp, một nơi chốn đặc biệt, dưới bóng những rặng cây xanh. Và hãy tưởng tượng có người đi ngang qua đấy mệt lả vì nóng, mồ hôi tuôn tràn, khát lả, nghĩa là đang rất khốn khổ. Anh ta bước xuống hồ, tắm mát, uống nước hồ đó. Rồi leo trở ra ngoài, ngồi hay nằm dưới bóng cây. Cũng thế, với người mà hành động, lời nói thanh tịnh, và lòng luôn cởi mở, đầy lòng tin, chúng ta lúc đó phải chú tâm, quán chiếu về sự thanh tịnh trong lời nói và hành động, cũng như tấm lòng cởi mở, có tín tâm của người ấy. Do đó ta có thể chế ngự sân hận đối với một người như thế.

Người mà hành động, lời nói thanh tịnh và tâm thường cởi mở được so sánh với một hồ nước tuyệt vời với nước trong lành, mát mẻ. Ngay nếu như ta có thể bị tổn thương bằng cách nào đó bởi một người như thế, ta có thể chế ngự bất cứ sự phát khởi nào của sân hận bằng cách nhận ra rằng họ là nguồn phước báu cho chúng ta và cho bao người khác, và rằng không có cơ sở nào để ta gán ép tình cảm sân hận đối với họ, vì cách cư xử của họ trong đời quá đỗi thanh tịnh, đời sống tình cảm của họ thì tràn đầy tình thương, bi mẫn. Bài kinh kết thúc với câu kinh sau đây:

Tâm ta có thể tìm được sự bình an ở người mà trong mọi hoàn cảnh đều phát khởi tín tâm và sự tự tin.

(Anguttara-Nikaya v. 162 – Tăng Chi Bộ số 162)

Chúng ta có thể tăng trưởng thêm sự an bình nội tại gấp bội bằng cách thường xuyên tiếp xúc với người mà ta hoàn toàn tin tưởng. Đức Phật thường nhấn mạnh với chúng ta điều quan trọng là phải giữ bạn hiền, tìm kiếm thiện hữu tri thức: những người sống đời thanh cao, đi theo con đường đạo, và có thể giúp ta làm giống như họ. Một người như thế sẽ nhìn cuộc đời rất khác với kẻ chỉ thích vật dục, và người ấy có thể giúp ta làm được như thế. Tuy nhiên, ta cần phải duy trì lòng tin vào một người bạn như thế. Nếu lòng tin của ta đối với họ bị lung lay, chúng ta sẽ không tìm được sự bình an cho đến khi ta có thể thiết lập lại được niềm tin đó. Nếu không, có thể ta cần phải buông bỏ tình bạn đó.

Sân và tâm luyến ái muốn được thương yêu là hai mặt của một đồng tiền. Trong mỗi hoàn cảnh chúng ta đều có cùng một trở ngại tiềm ẩn. Nếu có ai đó xúc phạm đến ta, đó có thể là biểu hiện của việc họ thiếu sót tình thương đối với ta, những cũng có thể là do họ không được khoẻ, hay có thể chỉ là họ không biết phải giao tiếp với người khác như thế nào. Tuy nhiên, đối với chúng ta, hành vi của họ có thể được coi là một sự chống đối. Nếu ta muốn được thương yêu, nhưng không được như thế, ta sẽ cảm thấy buồn, rồi đưa đến sân hận. Tình thương có thể là thuốc chữa cho tất cả mọi người, giúp cho thân tâm của họ được tốt hơn -nhưng đây không phải là loại tình yêu đòi hỏi điều kiện, cũng như tùy thuộc vào ta có thể tìm được người nào đáng yêu không. Nói cho cùng thì chỉ có bậc Giác ngộ mới hoàn toàn đáng yêu. Ta hướng tâm mình đến tình thương yêu, và khi tình thương yêu đó đã trở thành một đặc tính của tâm thì sẽ không còn là vấn đề nếu đối tượng có đáp trả lại tình thương của ta không. Dẫu cho người kia có thương yêu hay không thể thương yêu, không ảnh hưởng gì đến ta cả. Ước muốn được yêu thương chỉ là một khía cạnh khác của ngã chấp. Nếu chúng ta không chắc rằng mình có đáng yêu hay không, và ta chọn để người khác quyết định điều đó cho ta, chắc là ta sẽ thất vọng, vì tất cả mọi người thường hay thay đổi ý kiến, cũng như chúng ta.

Trước hết ta phải xác định với chính mình là chúng ta thực sự đáng yêu, và với ý nghĩ này trong tâm ta nhận thức rằng mọi người cũng đáng yêu như thế. Dầu ta đều có những lỗi lầm như mọi người khác, chúng ta vẫn xứng đáng được thương yêu. Như thế ta cũng phải nhận thức rằng ta không cần phải đi tìm ai đó để yêu thương ta, vì cội nguồn thực sự của tình thương yêu đã được tìm thấy ở trong tim ta. Do đó sẽ không cần phải sân hận hay buồn khổ nếu có ai đó không màng đến ta. Vì họ chưa hoàn toàn có khả năng yêu thương, ta nên thương cảm cho họ.

Do đó khi đoạn diệt sân hận, chúng ta cũng cần buông bỏ việc tìm kiếm tình thương yêu từ người khác. Như thế là tất cả mọi vấn đề đều được giải quyết, vì sân hận không thể phát khởi từ trái tim tràn đầy tình thương yêu. Nhưng tình cảm thì luôn thay đổi, và trái tim mấy ai luôn bền vững, nên việc chế ngự sự không bền vững này là một trong những khía cạnh quan trọng trên con đường thực hành tâm linh của ta. Nếu chúng ta có thể thành công, thoát khỏi quyền lực tình cảm của kẻ khác, khỏi những điều kiện bên ngoài nói chung, bằng cách vun trồng sức mạnh nội lực của tình thương yêu để nó không còn phải khuất phục trước những quyền lực này, thì chúng ta mới thực sự thực hành tâm linh. Dầu chúng ta có đến được cuối con đường thực hành này hay không, không phải là vấn đề; chúng ta chỉ cần tiếp tục đi theo con đường thanh tịnh hoá đó.
Trích từ cuốn:
《HÃY ĐẾN ĐỂ THẤY》
Phật Giáo, Con Đường Đưa Đến Hạnh Phúc

Tác Giả:
Ni Sư Ayya Khema

Việt Dịch:
Chơn Minh Nguyễn Văn Phú, Tịnh Nghiêm Nghiêm Xuân Cường & Diệu Liên Lý Thu Linh

xxxxxxxxxxxxxxxxx

Hòa giải những bất hòa Những điều Đức Phật dạy


Cập nhật ngày Thứ hai, 11 Tháng 7 2011 06:33 Viết bởi Administrator Thứ hai, 11 Tháng 7 2011 06:28

Đối với đức Phật, việc hóa giải những bất hòa cũng quan trọng không kém việc xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp giữa những người sống chung.



Cộng đồng Tăng già mới thành lập của ngài bao gồm cả nam và nữ đến từ mọi thành phần xã hội, những thành viên trong cộng đồng đó có những khác biệt lớn về nhiều phương diện và điều không thể tránh là sự phát sinh những mâu thuẫn.

Với cái thấy xuyên suốt, đức Phật đã cho những người sống chung những bài học quí báu để ngăn ngừa và hóa giải những mâu thuẩn xảy ra giữa họ. Mặc dù lúc đó đức Phật nhắm đến những đệ tử xuất gia, những lời khuyên của ngài cũng áp dụng có hiệu quả cho những cộng đồng xã hội khác và vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Sau đây, chúng ta lần lược trình bày và phân tích những lời dạy của ngài.

Năm sự khéo léo trong việc trao đổi

Những lời dạy của đức Phật về sự khéo léo trong cách giải quyết tốt đẹp những bất hòa được ngài Xá Lợi Phất giải thích rành mạch. (1)

Đức Phật dạy có năm sự khéo léo trong giao tiếp đem đến nhiều kết quả tốt đẹp. Theo ngài Xá Lợi Phất, không tuân theo năm cách xử sự nầy sẽ đem đến những hậu quả tiêu cực và đáng ân hận – và hầu hết người nói sẽ gặp phản ứng từ người nghe. Sau đây chúng ta khảo sát năm phương pháp mà đức Phật và ngài Xá Lợi Phất coi như thiết yếu trong việc hóa giải những bất hòa trong đời sống hằng ngày.

1. Nêu vấn đề đúng thời

Đúng thời là một điều kiện quan trọng trong việc truyền đạt của đức Phật. Ngài tự nhận là một “người nói đúng thời” và thường nhấn mạnh rằng sự thất bại hay thành công trong cuộc trao đổi tùy thuộc rất lớn vào thời điểm. (2) Theo ngài Xá Lợi Phất, đúng thời là điều kiện thiết yếu trong việc hóa giải những mâu thuẫn giữa người với người.

Với những bằng chứng được ghi lại, đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử loài người nhấn mạnh sự quan trọng của việc đúng thời trong lời nói. Đó là vào thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch. Tư tưởng gia Hy lạp tiền Socrate là Protagoras đề cập đến khái niệm nầy lần đầu tiên trong lịch sử Tây phương vào thế kỷ thứ tư trước Tây lịch.

Khái niệm “nói đúng thời” của đức Phật mang một ý nghĩa rộng rãi. Điều cần chú ý đầu tiên là trạng thái tinh thần của người nghe. Cuộc đối thoại giữa đức Phật và bà Gotami, người có đứa con duy nhất chết khi còn nhỏ, chứng tỏ sự quan trọng của tác nhân nầy. (3)

Gotami ôm đứa con đã chết đến cho nhiều vị thầy thuốc để mong được cứu, nhưng tất cả các thầy thuốc đều trả lời rằng đứa bé đã chết, không ai có thể cứu sống được. Quá thất vọng và đau buồn, bà ôm con đến chỗ đức Phật, người được coi là “vị thầy vĩ đại nhất,” cầu khẩn ngài cứu sống đứa bé.

Thấy sự đau đớn không cùng của người mẹ, đức Phật quyết định không nói ngay về sự thật. Ngài bảo bà đi tìm một nắm hạt cải ở nhà nào chưa từng có người chết. Vì biết rằng bà sẽ phản ứng và và đau đớn khi nghe sự thật, ngài đợi đúng lúc để nói cho bà về sự thật không vui rằng cái chết là phổ biến cho mọi người, không ai có thể tránh khỏi, không ai có thể thay đổi. Và điều đó đã giúp bà giảm đi nỗi đau và đạt đến trí tuệ.

Các nhà tâm lý xác nhận rằng một người đang lúc không vui ít muốn lắng nghe. Một trẻ vị thành niên khi mang về một giấy báo điểm thấp có thể sẽ phản kháng mãnh liệt trước lời khuyên của cha mẹ rằng hãy cố gắng để khá hơn trong kỳ học tới. Một người vợ hay chồng về nhà sau một cuộc chạm trán không vui với cấp trên có thể thấy những lời cau có của người kia nhức nhối khó chịu hơn. Trao đổi khi người nghe ở trong trạng thái vui vẻ có thể đem lại những kết quả tốt đẹp hơn.

Sự thoải mái về thể xác cũng phải được kể vào nguyên tắc đúng thời. Đức Phật bảo đệ tử của ngài cho một người muốn nghe Pháp đang đói được ăn trước khi ngài thuyết Pháp cho người đó. (4)

Đức Phật biết rằng thuyết Pháp cho một người đang đói sẽ đem lại ít lợi lạc hơn. Và trước khi nói Pháp cho một đệ tử xuất gia, đức Phật đã hỏi han về chứng bịnh của vị đó đang mang. (5) Chúng ta thấy rõ ràng rằng điều kiện thể xác cũng là một yếu tố để có một tinh thần khoẻ mạnh; do đó “đúng thời” cũng có nghĩa là thời điểm khi người nghe có tình trạng cơ thể thích hợp.

Mục tiêu là đem lại sự vui vẻ và lợi ích cho cả người nghe và người nói. Chờ đợi thời điểm thích hợp để truyền đạt không có nghĩa là tìm cơ hội tốt nhất để tạo tác động lên người nghe. Sự hiện diện của những động năng ích kỷ và lạm dụng đi ngược lại lời dạy của đức Phật. Ngài lặp đi lặp lại rằng người nói nên được hướng dẫn bằng tâm từ bi, hoàn toàn không có động cơ lợi dụng.

Chọn thời điểm thích hợp nhất để nói là sự khéo léo có sức mạnh rất lớn trong việc hóa giải những bất hòa trong mối quan hệ.

2. Chỉ đề cập đến sự kiện

Đức Phật nói thêm rằng tránh những lời buộc tội sai lầm là bước thứ hai trong việc làm tốt cuộc đối thoại và giảm bớt những mâu thuẫn trong mối quan hệ. Theo ngài Xá Lợi Phất, người nói cần luôn tâm niệm: “Tôi sẽ nói điều gì đã xảy ra, không nói điều gì không xảy ra.” (6)

Sự khéo léo nầy cũng bao gồm việc tránh cường điệu, phóng đại những lỗi lầm và những yếu kém của người nghe, cũng như những lời kết tội không có thật khác.

Dưới nhãn quan tâm lý học, chúng ta thổi phồng những yếu kém hay lỗi lầm của một người chính yếu là để lôi kéo sự chú ý của người đó, hoặc bày tỏ sự tức giận của chúng ta. Để nhấn mạnh sự săn sóc thích hợp cho một đứa con, người vợ có thể nói với chồng: “Con bị cảm cúm do anh không đắp kỹ cho nó.”

Để trút giận, người chồng có thể trả đũa: “Cô lúc nào cũng nói chuyện ngớ ngẩn.” Trong trường hợp đầu, điều thật sự xảy ra là đứa trẻ bị bịnh cúm; lý do người vợ đưa ra chỉ là một sự gán cho. Trường hợp thứ hai, câu trả lời của người chồng là một câu nói chung chung, một luận điệu chung chung về một sự việc riêng lẽ. Cả hai đều nói những lời cường điệu. Cả hai đều không nói đúng chính xác “điều xảy ra.”

Sự cường điệu thể hiện dưới nhiều hình thức trong đời sống hằng ngày. Một người mẹ thấy một chiếc dĩa tuột khỏi tay người con gái có thể la lên: “Mày không bao giữ được cái gì.” Một người vợ đọc kết quả xét nghiệm sức khỏe hằng năm của chồng có thể nói: “Ông không chịu tập thể dục. Đó là lý do lượng mở trong máu tăng cao.” Tất cả những lời nói nầy đều là những lời thổi phồng, cường điệu, hoặc gán thêm.

Cách phát ngôn nầy một cách nào đó có vẻ xoa dịu cho người nói – mặc dù không xoa dịu chút nào cho người nghe. Có thể một người sẽ cảm thấy sự căng thẳng trong tâm của mình nhẹ bớt bằng việc tấn công bằng lời nói vào người đã tạo ra sự căng thẳng. Nhưng hầu như điều đó chỉ làm tăng thêm phản ứng ương ngạnh của người nghe. Người nghe cho rằng những lời của người nói là những lời kết tội vô căn cứ hay là những lời lăng mạ. Phản ứng đó tạo ra sự khó khăn trong việc đưa đến một cuộc đối thoại lành mạnh giữa người nói và người nghe.

Đức Phật khuyên chỉ nên nêu ra sự kiện, không thêm vào sự kiện những giải thích theo ý riêng. Khi đó hoàn cảnh sẽ thuận lợi hơn để hóa giải những mâu thuẫn một cách thân tình. Điều xảy ra đã xảy ra. Để cứu vãn mối quan hệ, tốt nhất là đừng để cho sự bất hòa lại xảy ra lần nữa.

Đề cập đến sự kiện không có nghĩa là luôn luôn phải nói về sự kiện đã xảy ra. Đức Phật nói: “Cho dù sự việc là thật, ta không nói sự thật đó khi không được người nghe đồng ý.” (7)

Một số sự thật nói ra không có mục đích ích lợi nào, nói ra có thể là vô ích. Để đem lại kết quả tích cực trong thái độ và cách cư xử của một người, chúng ta nên chỉ đề cập đến sự kiện, không gán ghép vào đó bất cứ điều gì khác.

3. Nói lời ôn nhu

Dùng lời nói ôn nhu, theo ngài Xá Lợi Phất, là một khía cạnh quan trọng khác trong việc truyền đạt có kết quả việc giải tỏa những mối bất hòa. Theo ngài, người nói nên có một thái độ dứt khoát trong việc sử dụng ngôn ngữ: “Tôi nguyện nói lời ôn nhu, không nói lời lỗ mãng, thô bạo.” Tránh sử dụng lời nói lỗ mãng cũng là một trong năm giới của người Phật tử tại gia. Sự nhấn mạnh nầy nói lên vai trò quan trọng của lời nói ôn nhu trong mối liên hệ hằng ngày.

“Nói lời ôn nhu” ở đây cũng chuyên chở một ý nghĩa rộng rãi. Nó bao gồm mọi thứ liên quan đến ngôn ngữ: lời nói, câu nói, giọng nói, cách nói.

Theo đức Phật, khi chúng ta nói lời thô bạo để giải quyết mâu thuẫn, sự vô minh và sân hận thống trị tâm thức chúng ta. Ý nghĩ cho rằng sự thô bạo sẽ làm cho người nghe chịu hiểu phát xuất từ một tâm thức vô minh. Sự thật, ngôn ngữ lỗ mãng chắc chắn sẽ làm cho người nghe phản ứng và chống lại. Một số người nghĩ rằng dùng những lời lỗ mãng để buộc người nghe không nói được, họ thuyết phục được người nghe chấp nhận những ý kiến của họ.

Một đứa trẻ giữ im lặng và không phản ứng khi bị cha mẹ la rầy có thể dường như đã được thuyết phục, nhưng sự thật, sự im lặng của đứa trẻ có thể là một phản kháng mạnh mẽ, nói lên sự thất bại của cha mẹ. Ngôn ngữ lỗ mãng có thể đem đến một cảm giác thỏa mãn tạm thời, nhưng nó không bao giờ giải quyết được sự mâu thuẩn.

Tâm lý học hiện đại giải thích rằng sự nóng giận, tác nhân thúc đẩy phía sau của những lời nói lỗ mãng, là một phản ứng trước những tình huống đe dọa. Nói lời giận dữ là một kỹ thuật để triệt tiêu nguồn gốc của một mối đe dọa, không phải để giải quyết sự mâu thuẫn. Ngôn ngữ, giọng điệu hung dữ biểu lộ một sự tấn công. Cảm giác rằng người nói đang tấn công mình bằng lời là cảm giác tồi tệ nhất đối với người nghe về khả năng có thể đối thoại. Ít ai khoan thứ với một sự tấn công; họ tự vệ hoặc tấn công lại. Sự thô bạo được hướng dẫn bởi lòng tức giận ít khi đưa đến kết quả tốt trong việc giải quyết những bất hòa.

Có người cho rằng lời nói hòa dịu phản ảnh sự yếu nhược, và có thể bị người nghe lợi dụng. Sự hiểu sai lạc nầy bắt nguồn từ việc hiểu sai khi cho rằng ôn hòa là thiếu khả năng hay nhút nhát. Tuy nhiên lời lẽ ôn hòa không nằm trong ý nghĩa đó. Đức Phật luôn luôn dùng lời lẽ ôn hòa, nhưng ngài cũng thấy rằng lời nói cứng rắn, dứt khóat là cần thiết. Lời nói thô bạo là một thái cực và yếu nhược là thái cực kia. Theo đức Phật, chúng ta có thể không ở trong một thái cực nào và vẫn có thể dùng những lời lẽ dứt khoát để giải quyết những mâu thuẩn một cách có hiệu quả.

Trong Dhammapada (Pháp Cú), đức Phật khuyên nên kiểm soát lời nói, tránh những lời nói tức giận. (Cool Thái độ đó sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi trong việc hóa giải những mâu thuẩn bất hòa trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

4. Nhắm vào những hiệu quả tích cực

Đi xa hơn, ngài Xá Lợi Phật còn giải thích rằng người nói cần tập trung vào mặt tích cực trong giải pháp giải quyết vấn đề. Sự tập trung nầy có thể đem lại những kết quả lớn trong việc hóa giải những mâu thuẩn giữa những người có mối liên hệ gần gũi. Theo ngài Xá Lợi Phất, người nói cần luôn tâm niệm “Tôi sẽ nói vì sự lợi ích cho người nghe.” Thái độ nầy của người nói gợi lên hai điểm. Thứ nhất, người nói cần biết rõ về những kết quả tích cực của giải pháp. Thứ hai, người nói cần giải thích thấu đáo cho người nghe về những kết quả tốt đẹp của giải pháp đó.

Cách giải quyết mâu thuẫn nầy nói lên sự viêc rằng chỉ phê bình mà không có đường hướng để giúp đỡ người nghe thì sẽ thất bại. Một số người có khuynh hướng tìm lỗi của người kia chỉ để phê phán. Nhận thấy thói quen nguy hại đó, đức Phật dạy: “Một người luôn luôn phê phán người bạn của mình, việc đó không chứng tỏ một tình bạn chân thật.” (9)

Khi nhận ra động cơ thúc đẩy của người nói, theo bản năng, người nghe sẽ phản bác những lời phê bình của người nói. Với một hướng giải quyết được chuẩn bị sẵn, người nói có thể làm cho người nghe chú ý lắng nghe.

Sự rõ ràng rành mạch của người nói về những hiệu quả tích cực của giải pháp thuyết phục người nghe chấp nhận cách giải quyết. Người nói cần giải thích cho người nghe lý do vì sao vấn đề cần được giải quyết, và sự giải quyết đó sẽ có lợi cho người nghe như thế nào. Người nghe có thể hiểu sai lạc việc phê bình xây dựng khi người nói không nói rõ mục đích và những kết quả tích cực trong những đề nghị của mình.

xxxxxxxxx

Tử Vi Dưới Cái Nhìn Của Nghiệp-Quả


May 20, '09 8:24 AM
for everyone


Danh Từ Ðịnh Mệnh sẽ không cần thiết có trong Bách-khoa đại tự điển nếu như mỗi người trong chúng ta đều mang những đặt tính như nhau từ trong ra ngoài, một đời sống như nhau trong không gian cũng như thời gian. Sự khác biệt giữa hai người như giàu-nghèo, thiện-ác, sang-hèn, thành công-thất bại, chính-tà, tàn tật-lành lặn, hạnh phúc-bất hạnh, thông minh-đần độn, cao-thấp...là những yếu tố tất yếu để danh từ định mệnh được định nghĩa.

Trong ý nghĩ đó, Tử vi đã được sử dụng để giải đoán định mệnh. Một Ðịnh mệnh mà người ta tin rằng đã được an bài cho mỗi cá nhân riêng biệt. Có thật sự rằng Tử vi được soạn thảo để giải đoán cái Ðịnh mênh an bài đó hay không? Nếu có Thựợng đế hay Ðấng tạo hoá thì dựa vào đâu để xác định, áp dặt khi trẻ sơ sinh kia đã phải mang tật nguyền vào thân mà cho đến khi lớn khôn, hắn vẫn không hiểu tại sao hắn ta mang tàn tật vào thân ? Và hắn ta cũng chẳng bao giờ được nghe qua bản phúc trình luận tội, bản kết án tật nguyền cho hắn. Như thế có gì hay, có gì tốt cho Ðấng Thuợng đế kia khi mà sự bất công đầy rẫy trong nhân loại, khi mà cá nhân nhận lãnh mà không hề biết, trong suốt cuộc đời hiện tại, hắn ta chẳng biết vì sao hắn lại nhận lãnh cái xấu số đó.

Chúng ta chẳng thể giải thích đuợc hiện tượng bất công trên nếu không dựa vào một giáo lý nào đó. Khoa học nhìn qua DNA và xác xuất để giải thích hiện tựợng bẩm sinh. Nhưng tại sao hắn lại rơi vào cái xác xuất không may đó? Chẳng phải ngẫu nhiên mà hắn ta rơi vào cái không may đó, cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà ta rơi vào cái hiện tựợng không vừa ý nào đó. Mọi hiện tượng xảy ra đều có nguyên nhân của nó ví như hạt giống là nhân của cây cỏ, cây cỏ lại là nhân cho ra hạt giống, quá trình này chẳng phải tự nhiên sinh sôi nẩy nỡ mà còn tùy vào diều kiện tất yếu như mua, gío, sấm chớp, phân bón, hay sự chăm sóc. Điều kiện tất yếu này, theo Phật Giáo thi gọi là Duyên. Con người cũng thế, theo Phật giáo thì con người kiếp hiện tại là Quả của quá khứ và là nhân cuả kiếp tương lai.

Con người, theo Phật giáo, khi chết thì Tứ dại, ngũ uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) và lục căn (Mắt, Mu~i, Tai, Lưỡi, Thân, Ý) đều bỏ lại chỉ còn A-Lại-Da-Thức (thần thức) sẽ được tái sinh. A-Lại-Da-Thức mang toàn bộ bản sao chép 6 thức kia hay Nghiệp (tốt và xấu) từ kiếp truớc sang kiếp sau. Tùy theo dòng nghiệp lực đó mà ta sẽ có sự tái sinh phù hợp với cái Nhân (cause) ta đã gieo trong quá khứ để có một cuộc sống hiện tại, tức là quả (effect).

Tuy nhiên Phật giáo còn chia Nghiệp ra làm 4 loại : Hiện nghiệp, Hậu nghiệp, Vô hạn định nghiệp, Vô hiệu lực nghiệp vì vậy không nhất thiết một Nhân trong quá khứ phải là quả trong hiện tại. (Xin tìm đọc The buddha and His teachings : Ðức Phật và Phật Pháp do Phạm Kim Khách chuyển dich). Có thật có sự Tái sinh hay không? Theo Phật giáo thì bởi vì Nghiệp mà con người còn phải tái sinh, Sống rồi Chết , Chết rồi Sống chỉ là hai giai đoạn của tiến trình rủ bỏ Nghiệp, một tiến trình bất tận Tu chính và Kiến Tâm mà mỗi một Nghiệp gieo vào lại là một điều kiện ắt sẽ có và đủ cho một chu trình Sống Chết trong tiến trình bất tận dó. Và cũng chính dòng Nghiệp lực đó mà Tứ đại, ngũ uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) và lục căn (Mắt, Mu~i, Tai, Lưỡi, Thân, Ý) lại được tái tạo, tùy dòng nghiệp lực mà hình hài tái sinh sẽ mang trạng tướng như thế nào.

Có những bằng chứng hiển nhiên của tái sinh qua công trình nghiên cứu của Tây phương như truờng hợp Edgar Cayce, bản phúc trình của Bác si~ Ian Stevenson, the after death experience của Ian Wilson , Liểu sinh thoát tử .... thế nhưng khoa học phương Tây ngày nay vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng sự hiện diện của A-Lại-Da-Thức ( hay thần thức).

Như vậy qua giáo lý nhà Phật, Con người tái sinh là do nghiệp mà nghiệp bị chi phối bởi luật Nhân-duyên-quả, và cái đinh mênh kia thật sự chỉ là dòng Nghiệp Lực dẫn dắt ta ví như chiếc con thuyền không người lái trên ghềnh thác, trên dòng sông hay trên mặt hồ yên tỉnh. Tử vi Dưới mắt Nghiệp Quả không nhìn Số Mệnh con người như là một sư việc đã được an bài bởi Thượng đế, mà nhìn qua gíao lý Phật giáo, qua thuyết Nhân-Duyên-Quả vì vậy Tử vi Dưới mắt Nghiệp Quả cho rằng : Không một Định Mệnh nào được gọi là An Bài mà con người được dẫn dắt bởi dòng Nghiệp Lực, Nghiệp chỉ phát khi hội đủ những yếu tố Nhân duyên, như vậy Con người có thể thay đổi đươc cái định mệnh đó bằng cách gieo một Duyên Khởi để khởi động một Nghiệp tốt trong qúa khứ thay vì phải hứng chịu một Nghiệp xấu trong qúa khứ, hay là dịu lại Nghiệp nặng đã gieo trong chu trình Sống Chết đã qua.

Tuy nhiên chúng ta chẳng thể thay đổi hẳn dòng Nghiệp Lực kia mà chúng ta chỉ có thể tìm được một đời sống khả dĩ tốt nhất cho cho một Dòng Nghệp lực nhất định. Làm thế nào để phát khởi một Nhân Duyên tốt trong quá khứ, làm thế nào để biết dòng Nghiệp Lực kia dẫn ta về đâu ? Làm thế nào để tìm được một cuộc sống hiện tại bình an nhất trong một Định Nghiệp hẳn hiu?

Để giải đáp thỏa đáng câu hỏi này, Trần Doàn tự la` Hi Di sinh vào đời nhà Tống ,Trung Hoa. Trần Tiên Sinh sinh trưởng và trưởng thành trong giai đoạn mà Phật giáo là quốc giáo , tiên sinh ắt hẳn đã thấm nhuần tư tưởng cùng giáo ly' nhà Phật và cac nghành khoa học ứng dụng như Dịch lý học, Âm Dương, Ngũ hành, Ngũ hành Nạp Âm là những căn bản của nền khoa học thuần túy ở Trung quốc như Số học, Toán số, Y khoa và các môn lý số như Hoa mai Dich số, Bốc Phệ, Tử Bình, điạ lý.. mà soa.n-thào Hàm Từ Vi

Tử vi Dưới mắt Nghiệp Quả không nhìn Tử vi là một bộ môn thuộc khoa học huyền bí, lý số hay bói toán mà nhìn Tử vi như là một hàm số Nghiệp lực. Dòng Nghiệp Lưc trong tiến trình Kiến Tâm của Phật Giáo. Hàm số ở đây là một hàm số đa thức và là hàm số Hạt Tử .

Theo Cụ Nguyễn Phát Lộc trong cuốn Tử vi Hàm Số thì “ Hàm số nhằm tìm hiểu một dự kiện linh động trong liên hệ Nhân Quả của các yếu tố biến thiên, nó nói lên được sự tương quan ẩn khuất giữa các yêú tố. Xem Tử vi theo lối hàm Số là tìm tương quan giữa các Cung, Sao, Bản mê.nh, Cục, Cách những chi tiết về Phúc Đức, Cha Mẹ, Anh Em, Con Cái, Bản Tính, Nghề Nghiệp, Tài Sản, Bạn Bè, Xã Hội, Bệnh Tật của con người, và đời người.

Chỉ có phương pháp hàm số mới giúp vận dụng một lúc hàng chục vì sao để xem một cung, phối hợp một lúc năm sáu cung để tìm hiểu vài yếu tố, kết hơp một loạt 5,6 yếu tố linh hoạt để xác định một bí-ẩn của con người và đời người. Chỉ có danh từ hàm số mới gói ghém được sự sống động của khoa Tư vi, mới diễn dạt nỗi quan niệm tổng hợp của chúng ta. Chỉ có Hàm Số mới nói lên được ý niệm Dịch lý độc đáo của nhân loại, của nhân-sinh, của nhân tính. Chỉ có hàm số mới là phương pháp Động học khai triển được quy luật biến hóa vô cùng phong phú của cá tính và sinh họat của con người.”

Không một môn lý số nào từ Đông sang Tây có hệ thống sao và an sao như Tử vi. Ngoài ra sư. sắp xếp dặt các sao trong Tử vi theo những quy luật và đặt biệt hơn các sao còn đươc sắp xếp theo chiều Dương hay Âm , Thuận hay Nghịch, Đối xứng nhau qua một trục Dần Thân, Tí Ngo. , Sửu Mùi, Thìn Tuất, Mão Dậu, Tị Hợi hay Spin Thuận hoặc Nghịch, và sự tươngtác tuân theo những quy luật như Tam hơp, Nhị hơp, Lục hại, Ám hơ.p. Đó là nhưng cơ cấu cơ bẳn trong phuơng trình Hạt Tử của khoa Vật lý Hạt Tử , một khoa vừa mới tìm ra cách đây không lâu.

Tử vi Dưới mắt Nghiệp Quả nhìn Tử vi qua Lý Nhân Duyên Quả của Phật giáo, qua cấu trúc Hàm Số Hạt Tử cuả khoa Vật ly Hạt tử vì vậy danh từ “Sao” trong tử vi chỉ là những Hạt Tử di chuyển theo quy luật Tử vi để viết lại dòng nghiệp lực trong tiến trình KiếnTâm nhà Phật, dĩ nhiên Dòng Nghiệp Lực này bị chi phối bỏi Lý Nhân Duyên Quả.

Và Tử vi được định nghĩa là một Hàm số Nghiêp Lực mà ta có thể giải dáp một cách thỏa dáng khi có một số dự kiên đủ cho một ẩn số cần tìm kiếm. Chúng ta cũng chẳng thể giải dược hàm số Hạt tử nếu chỉ có một hoặc hai ẩn số được cho biết trước. Và Lá số Tử vi được định nghiã như sau Lá số Tử vi là một bản đồ số mệnh trên đó ghi lại dòng nghiệp lực của ta trong kiếp hiện tại, các sao hay hạt tủ ở trạng thái “Tỉnh” hay “Chết”, và chỉ có ý nghĩa khi các sao thật sự đã “ăn” lên đương số hay ta nói các sao đã “Động” , đây là ý nghiã Dịch Lý trong Tử vi, các sao đã tác động lên được cơ thể của đương số dưới hình thức Hình tướng học, tướng mênh học, Chỉ tay học, Thanh tướng học, ẩn tướng học, Sắc khí học, Tâm tương học, Địa lý, và y lý hay bệnh lý học. Nói như vậy không có nghiã la học Tử vi thì cần thấu triệt các môn học trên nhưng sự thấu triệt nhiều môn học trên giúp người học Tử vi giải đoán lá số càng chính xác.

Tóm lại, không một định mệnh nào được gọi là an bài mà con người được dẫn dắt bởi dòng nghiệp lực của chính mình. Trên tinh thần này, con người có thể thay đổi được vận mệnh của mình, có thể chuyển xấu thành tốt, có thể chuyển bại thành thắng, có thể chuyển khổ đau thành hạnh phúc, có thể chuyển phàm thành thánh, tất nhiên mọi việc thay đổi đó sẽ xảy đến với mình cho đến khi nào mình chịu tu tập, chịu lánh ác chịu làm lành, chịu tu nhơn tích đức, chịu bố thí cúng dường.... cầu mong mọi người thấy rõ được điều đó để giữ vững niềm tin Tam Bảo trên bước đường quay về với cội nguồn tâm linh.


Quangduc.com
Về Đầu Trang Go down
ghost
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: tham khao nhe !!!   Sat Sep 03, 2011 11:31 pm



Đạo cao một tấc, ma cao một trượng. Ma quỉ rất là khôn ranh. Chúng hiểu rằng chúng chỉ là một linh hồn, một linh hồn cực kì bé nhỏ, gió thổi bay chúng đi, một khúc gỗ chém đứt chúng làm hai khiến chúng chết lần này là chết thật, chúng có thể là mồi cho cá mập, chúng bị sét đánh cháy linh hồn, chúng bị quỉ bắt phục dịch,...Bao nhiêu hiểm hoạ mà một linh hồn bé nhỏ, một linh hồn non trẻ còn bỡ ngỡ trước thế giới linh hồn mới lạ, trong khi cái thế giới ấy bị bóp méo đến tàn khốc bởi sự thi thố pháp thuật, bởi sự thống trị của các đạo sư. Quyền sinh sát các linh hồn nằm trong tay các đạo sư. Bản năng mách bảo rằng sau khi chết đi, ma không phải là bất tử, ma cũng sẽ chết, quá trình chết lần chết mòn diễn ra rất nhanh so với cái chết thể xác trước kia chúng nếm trải, chúng sẽ trở thành hư không hoặc trở thành một khái niệm quá quen thuộc - quỉ. Chúng không thể nào tìm lấy một sự bình yên nơi thế giới linh hồn, chỉ còn lại thế giới thực tại nơi mà chúng sống. Hiểu được điều này, các đạo sư các giáo phái khác nhau luôn tìm cách gúp đỡ họ, các đạo sư luôn muốn cho họ một cơ hội sống tốt hơn. Tuy nhiên, những linh hồn chết đi mà vẫn mang tiếng ác lẽ nào chịu sự dẫn dắt của các đạo sư ? Khi mà giờ đây chúng có thể bay rất nhanh, chúng có thể lởn vởn xung quanh người khác. Điều chúng phải làm bây giờ là sống cho hết kiếp ma, khi không còn một chút dương khí chúng sẽ biến thành quỉ, chúng sẽ có nhiều năng lực hơn. Chẳng hạn, hồn ma thấy rằng chúng không thể nào nhập vào một người trong một thời gian dài nhưng bị quỉ ám thì có thể là suốt đời. Cuộc sống của quỉ tính bằng đêm không tính bằng ngày. Điều chúng muốn là một cái xác, một cái thân xác khốn khổ, một vật chủ để chúng kí sinh vào. Trước tiên, chúng phải khống chế tinh thần của người đó, phải làm cho tinh thần đó suy sụp, não nề, không có ý chí kháng cự lại chúng, toàn tâm toàn ý cho chúng xâm nhập. Chỉ cần còn có một một niềm tin, một ý chí mãnh liệt chống lại chúng thì sớm muộn chúng cũng bị đuổi khỏi cái xác do sự không phù hợp về mặt linh hồn và thể xác. Dĩ nhiên chống cự ở đây không giống với chống cự lại ma khi bị ma đè, mà hiểu là nhờ các đạo sư giúp đỡ. Quá trình đấu tranh tâm trí với quỉ dữ là một quá trình khốc liệt khiến nhiều người cảm giác muốn buông xuôi. Nếu buông xuôi thì không còn đường để quay trở lại. Con quỉ cướp xác một khi đã tu luyện thành yêu quái thì linh hồn tội nghiệp kia vĩnh viễn mất xác. Những mất mát về danh dự tiền tài chỉ là nhất thời nhưng nếu để mất xác bởi quỉ dữ thì thà bị một thằng sát nhân chém chết. Quỉ không thể nào nhập vào xác chết, nếu nhập được thì chắc hẳn đó là tác phẩm của một đạo sư nào đó. Sinh mạng với của cải cái nào quan trọng ? Sinh mạng với danh lợi cái nào quan trọng ? Quỉ dữ, hãy nhớ rằng, không thuộc về thế giới chúng ta đang sống, nhưng quỉ dữ từ chúng ta mà ra, chúng ở giữa chúng ta, núp sâu trong tâm trí của một người nào đó rình rập hãm hại. Chúng ta không phải sợ chúng, chúng ta đang sống trong một thế giới là giao điểm của thập phương thế giới, các đạo sư luôn đi đến giao điểm này đưa rước linh hồn, các đạo sư bảo vệ chúng ta, nhiều hơn, chúng ta tự bảo vệ chúng ta, nhiều hơn nữa, chúng ta tự bảo vệ chúng ta với sự giúp sức của các đạo sư. Chớ sợ chi hết.





Linh hồn là do tưởng tri của con người còn sống

Chúng tôi xin trả lời câu hỏi thứ nhất của giáo sư:

1- Câu hỏi giáo sư đã xác định: “Tôi căn cứ để tin rằng đã gặp linh hồn em tôi, anh tôi và chị tôi, cả linh hồn cụ Giám là người chôn cất và linh hồn cụ An là người chứng kiến. Cháu Hằng đã nhận dạng được linh hồn, thậm chí còn nhận diện được linh hồn qua tấm ảnh, đã được nghe tiếng nói của linh hồn. Như vậy linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó, có hình thù, có khả năng phát ra tiếng nói. Đã là một dạng vật chất thì vật lý học, hóa học, y học, sinh học, với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày tìm ra. Các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp gì theo hướng đó?”

Cách đây 2548 năm có một người đã xác định rằng: “không có thế giới siêu hình” có nghĩa là không có đời sống sau khi chết Ngài đã chia thân người làm năm phần:

- Phần thứ nhất là sắc uẩn.
- Phần thứ hai là thọ uẩn.
- Phần thứ ba là tưởng uẩn.
- Phần thứ tư là hành uẩn.
- Phần thứ năm là thức uẩn.

Một người chết năm uẩn này đều tan rã không còn một chút xíu nào cả. Người xác định điều này là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vậy thì cái gì còn lại gọi là linh hồn của con người?

Theo cái nhìn của Phật giáo thì một con người là do năm duyên hợp lại mà thành ra. Và xa hơn nữa là vạn vật trên thế gian này đều hiện hữu, sự hiện hữu có mặt của một vật đều do nhiều duyên hợp lại. Cho nên một thế giới mà có được thì phải có nhiều duyên kết hợp mới lập thành. Một thế giới không thể nào chỉ có một vật thể đơn điệu được.

Ví dụ 1: Một cái cây kia, nếu không có đất, nước, gió, không khí và nhiệt độ, nóng lạnh, ẩm thấp, nắng mưa, v.v…thì cây kia không thể sống được.

Ví dụ 2: Một con người sanh ra ở đời, nếu không có cỏ cây, thực phẩm để nuôi sống thì con người cũng không sanh ra được, nếu có sanh ra được thì cũng không sống được. Cỏ cây, con người và vạn vật không có sự hiện hữu trên hành tinh này thì làm sao gọi là thế giới.

Vì thế, nếu quả chăng con người có sự sống sau khi chết, thì thế giới của người chết phải có một môi trường sống riêng cho linh hồn, chứ đâu cần gì chúng ta phải cúng những thực phẩm mà những thực phẩm ấy chỉ nuôi sống cho những duyên hợp hiện hữu của nó, chứ đâu phải những thực phẩm của chúng ta là để cho linh hồn thọ dụng. Vì thế, cúng lễ những thực phẩm hoặc đốt hương, vàng mã của thế giới hữu hình cho thế giới vô hình thì quý vị suy nghĩ có đúng không? Hay làm một việc nhảm nhí?

Nếu quả chăng có thế giới siêu hình thì những linh hồn đó, phải có một hình dáng cố định, vì thế giới siêu hình là thế giới thường hằng không thay đổi thì không thể nào linh hồn lấy hình dáng của con người làm hình dáng của mình. Khi mà hình dáng của con người vô thường không cố định chỉ trong một đời người mà đã thay đổi nhiều lần: trẻ có hình dáng khác, thanh niên có hình dáng khác và già có hình dáng khác, huống là đời này mang hình dáng này đời sau mang hình dáng khác. Xét như vậy chúng ta thấy linh hồn có đúng không?

Cho nên, thế giới hữu hình của chúng ta do các duyên hợp thành, vì do các duyên mà thành nên có sự vô thường thay đổi liên tục. Vì vậy một con người mới sanh ra cho đến 7, 8 chục năm sau thì không giống nhau. Chúng ta hãy quan sát một con người từ hình dáng của một đứa bé mới sanh so sánh với hình dáng của một ông cụ già 7, 8 mươi tuổi thì hai hình dáng này không giống nhau, như vậy chứng tỏ sự vô thường thật sự, như trên chúng tôi đã nói.

Như các bạn thường nghĩ và cho linh hồn là một vật thể không thay đổi. Vì thế linh hồn là bất tử, nên thường đi tái sanh luân hồi từ thân này, đến thân khác. Thân thì có trẻ, có già, có chết. Còn linh hồn thì không già, không trẻ và không chết. Như vậy cháu Bích Hằng phải xem bức ảnh của cô Khang rồi mới nhận ra linh hồn của cô Khang thì như vậy không đúng. Vì sao vậy? Là vì linh hồn của cô Khang bây giờ không còn là hình dáng của cô Khang nữa, mà là hình dáng bất di bất dịch của linh hồn. Khi linh hồn ấy còn mang thân xác của cô Khang thì hình dáng ấy là hình dáng xác thân của cô Khang, chứ đâu phải là hình dáng linh hồn của cô Khang phải không thưa quý vị? Khi cô Khang chết thì hình dáng của cô Khang cũng không còn, thì như vậy linh hồn của cô Khang phải trở về với hình dáng nguyên thủy của nó, thì làm sao linh hồn có hình dáng giống cô Khang được. Vì linh hồn là một vật không thay đổi, như chúng tôi đã nói ở trên.

Xét ở góc độ này thì cháu Bích Hằng gọi hồn cô Khang về là một năng lực trong thân ngũ uẩn của cháu Bích Hằng tạo ra linh hồn của cô Khang, chứ không phải có linh hồn cô Khang thật, vì thế cháu phải nhìn hình ảnh cô Khang rồi mới tạo ra hình ảnh cô Khang được.

Do đó chúng ta suy ra, nếu có thế giới linh hồn của người chết thì những linh hồn ấy không có hình dáng giống như chúng ta. Tại sao vậy?

Tại vì một linh hồn phải trải qua nhiều lần tái sanh luân hồi, do đó mỗi lần tái sanh là mỗi lần có hình dáng khác nhau của thân xác, có nhiều hình dáng khác nhau như vậy thì làm sao linh hồn cô Khang giống cô Khang được?

Tất cả những sự việc này lần lượt chúng tôi sẽ cố gắng vén bức màn bí ẩn để quý vị không còn thấy nó là bí ẩn nữa.

Khám phá sự bí ẩn của anh Nhã
Trạng thái ngoại cảm của anh Nhã rất rõ nét, vì anh làm việc ngoài ý thức của anh, có nghĩa là trong đầu anh nghe nói tên (Nhương, Nhường, Nhượng) hoặc tự điều khiển anh viết hoặc vẽ bản đồ chứ riêng anh không có chủ ý viết hoặc vẽ. Tự trong đầu anh có sự điều khiển trong vô thức. (“Tôi thấy trong đầu tôi hiện ra như thế nào thì tôi vẽ như thế ấy, tôi cũng chẳng hiểu nữa”). Đây là lời của anh Nhã nói, khi giáo sư Trần Phương hỏi. Và anh còn nghe được những âm thanh trong tai (“Tôi thấy trong tai tôi như có âm thanh ấy”).

Qua sự trình bày của anh Nhã chúng tôi xin giải thích để quý vị rõ. Do đâu điều khiển mà anh Nhã đã vẽ được bản đồ của một vùng chưa bao giờ đi đến và vị trí địa thế ngôi mộ cũng được xem là đúng ở cự ly rộng.

Trong bộ óc của con người có nhiều nhóm tế bào não, mỗi nhóm tế bào não đều làm việc theo phận sự của nó.

Ví dụ: Một người đang thức và đang làm một việc gì đó, hay đang tư duy suy nghĩ về một vấn đề gì, thì nhóm tế bào não thuộc về ý thức hoạt động, làm việc, trường hợp đó cũng giống như chúng tôi đang tư duy, suy nghĩ để viết sách và viết như thế nào để quý bạn dễ hiểu và hiểu một cách cụ thể hơn.

Chúng ta có thể gọi nhóm tế bào não bộ này là nhóm tế bào não bộ ý thức.
Còn trường hợp chúng ta đang ngủ mà bị chiêm bao thì nhóm tế bào não nào làm việc đây?

Chúng tôi xin giải thích, khi chúng ta đang ngủ thì toàn bộ nhóm tế bào thuộc về ý thức, chắc chắn phải ngưng hoạt động, như lúc ngủ mắt không thấy vật, tai không nghe âm thanh, ý không phân biệt, v.v… như vậy rõ ràng là nhóm tế bào ý thức chúng ta ngưng hoạt động. Vậy cái gì hoạt động trong giấc chiêm bao?

Xin thưa, khi nhóm tế bào não thuộc về ý thức không hoạt động, thì nhóm tế bào não thuộc về tưởng thức hoạt động, do nhóm tế bào tưởng thức này hoạt động nên người ta mới có chiêm bao.

Còn trường hợp của anh Nhã thì hai nhóm tế bào não trong óc anh nó kết hợp (câu hữu) làm việc với nhau, và sự kết hợp làm việc này mới xảy ra với anh chứ trước kia anh không có trạng thái này.

Ở đây, chúng ta cần phải hiểu thêm về nhóm tế bào não thuộc về ý thức, khi nó hoạt động thì không vượt qua được không gian và thời gian, vì thế khoảng cách xa, như ngăn sông, cách núi, hoặc dưới lòng đất, dưới đáy biển đại dương, v.v… thì nó không thể thấy biết được. Về thời gian, nó bị chia cắt có quá khứ, vị lai và hiện tại, quá khứ nó không nhớ biết, vị lai thì mờ mịt không rõ. Ngược lại, nhóm tế bào não bộ thuộc về tưởng thức, khi nó hoạt động thì nó vượt qua hàng rào không gian và thời gian, nên thời gian và không gian không còn chia cắt và trải dài. Vì thế nó bắt gặp hay nói cách khác là giao cảm với những gì đã xảy ra ở quá khứ và vị lai.

Ở trường hợp này nhóm tế bào não tưởng thức của anh Nhã thì quá rõ ràng, không có trạng thái đồng cốt như cháu Bích Hằng, nhưng nó hoạt động chưa chính xác 100%. Vì tưởng thức của anh tự nó hoạt động chứ không phải do anh triển khai, điều khiển, nên mức độ hoạt động của nó chưa hoàn chỉnh và chính xác.

Khi tưởng thức hoạt động thì anh Nhã cảm thấy như mình không chủ động, tự trong đầu nó điều khiển như thế nào thì anh làm theo như thế ấy, nhưng ý thức của anh vẫn biết rõ ràng, thậm chí những âm thanh nói trong tai, anh vẫn nghe và biết rõ. Xét trường hợp trong đầu anh Nhã, thì trong đầu anh làm việc hai phận sự:

1- Làm việc bị hạn cuộc trong không gian và thời gian, có nghĩa là không vượt ra khỏi thời gian chia cắt và không gian trải dài hay bị ngăn cách.

2- Làm việc không bị hạn cuộc trong không gian và thời gian, có nghĩa là vượt qua không gian và thời gian. Sự làm việc này gọi là làm việc trong vô thức.

Người tu theo đạo Phật khi nhập được Tứ Thánh Định thì người ta hiểu biết rất rõ ràng. Trường hợp anh Nhã, ý thức của anh kết hợp với tưởng thức của anh hoạt động hai mặt:

1- Hữu thức

2- Vô thức

Tóm lại trường hợp của anh Nhã trong một bộ óc của anh làm việc hai phận sự hữu hình và vô hình, hay nói cách khác cho dễ hiểu hơn là bộ óc anh có phần làm việc bị hạn cuộc không gian và thời gian và có phần làm việc không bị hạn cuộc không gian và thời gian, nhưng chưa chính xác 100%.

Cho nên sự bí ẩn của anh Nhã không có gì bí ẩn, anh sử dụng được những tế bào não ý thức và những tế bào não tưởng thức, khiến chúng hoạt động khi ý muốn anh khởi ra.

Tóm lại, sự bí ẩn của anh Nhã thì không có gì là bí ẩn cả, chỉ có bộ óc của anh làm việc được hai phần: “phần ý thức và phần tưởng thức”.

Khám phá sự bí ẩn về cháu Bích Hằng
Trường hợp cháu Bích Hằng thì không giống trường hợp anh Nhã, hiện tượng của cháu Hằng xảy ra giống như có một linh hồn người chết nhập vào như thật.

Khi trực tiếp chứng kiến năng lực của tưởng uẩn con người. Nhất là trường hợp của cháu Bích Hằng, khiến cho giáo sư Trần Phương không còn đứng vững trên lập trường khoa học nữa, ông đặt ra nhiều câu hỏi: “Như vậy linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó, có hình thù, có khả năng phát ra tiếng nói. Đã là một dạng vật chất thì vật lý học, hóa học, y học, sinh học v.v…Với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn có ngày tìm ra. Các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp gì theo hướng đó?”

Còn lâu lắm các nhà khoa học Việt Nam mới có thể chứng minh và giải thích những hiện tượng đó bằng hóa học, sinh học, y học, lý học, v.v…Còn bây giờ thì sao? Hay để cho nhân dân Việt Nam sống trong mê tín, phải chịu tốn hao với một số tiền bạc vô nghĩa (đốt tiền vàng mã, cúng sao giải hạn, cầu an, cầu siêu, v.v…).

Khi đọc bài của giáo sư Trần Phương, chúng tôi thấy, nếu bài này được phổ biến sâu rộng trong khắp nước, mà các nhà khoa học Việt Nam không có tiếng nói, thì chắc chắn nạn mê tín, dị đoan sẽ lan rộng khắp nơi. Và sẽ có một số người lợi dụng trường hợp này mà gây tạo ra nhiều loại mê tín khác nữa để lừa đảo người.

Chúng tôi đọc bài tâm nguyện của một cư sĩ M.N.C.S ở Long Hải nói rằng: “Những nhà ngoại cảm này thường khoe khoang, nhà nước đang tìm kiếm những người tài như họ để trưng dụng về việc quốc phòng”. Lời nói này chúng tôi e rằng những hạng người này “thừa nước đục thả câu”, lợi dụng trạng thái tưởng thức không có không gian và thời gian, giao cảm mọi sự việc xảy ra tạo dựng thế giới siêu hình để lừa đảo mọi người, chứ từ xưa đến giờ chưa có lịch sử nước nào ghi công lao của những người làm đồng, cốt và những nhà ngoại cảm, nhờ lên đồng, nhập cốt và ngoại cảm mà ngăn giặc, đuổi giặc, giữ nước, dựng nước, bắt những kẻ trộm cướp giết người, hiếp dâm, giữ gìn trật tự, an ninh cho quê hương, xứ sở.

Vì biết rằng các nhà khoa học không thể chứng minh được những hiện tượng hoạt động của tưởng thức, nên trong các tôn giáo người ta cố ý tu tập để triển khai tưởng thức hoạt động ngõ hầu lấy đó tạo dựng thế giới siêu hình và thần thông để lừa đảo mọi người. Vì không nhận ra những hiện tượng đó nên mọi người tin tưởng gia nhập vào tôn giáo, nuôi hy vọng khi chết đi sẽ được sanh về nơi đó (Cực Lạc, Thiên Đàng, Niết Bàn), hay có những thần thông pháp thuật.

Do phong thổ, thời tiết, thức ăn nước uống tại địa phương, hoặc do tai nạn xảy ra gây ảnh hưởng não bộ, hoặc sự phát triển hoạt động của não bộ không đồng đều, khiến cho tưởng thức hoạt động nhiều hơn ý thức (trường hợp cháu Bích Hằng), hoặc ý thức và tưởng thức cùng hoạt động (trường hợp như anh Nhã) Vì thế biến họ từ một con người bình thường trở thành đồng, cốt và các nhà ngoại cảm. Một con người có khả năng đặc biệt.

Chúng ta không hiểu được năng lực của tưởng thức khi nó hoạt động không giống như ý thức chút nào cả:

1- Nó hoạt động rất đặc biệt tại một điểm, nên không có không gian và thời gian, khoa học không thể chứng minh được.

2- Nó giao cảm được mọi âm thanh sắc tướng, vì các từ trường của nó. Các nhà khoa học có thể chứng minh được.

3- Nó biến hiện ra muôn hình sắc tướng của những người đã chết không sai một nét nào cả. Đó là năng lực duyên hợp của tưởng thức. Các nhà khoa học không thể chứng minh được, vì nó không phải là vật lý học, hóa học, y học, sinh học, v.v…

4- Nó tạo ra một người thứ hai đang tiếp chuyện với ý thức của nó. Đó là năng lực hợp duyên của tưởng thức, khoa học không thể chứng minh được.

5- Vì không có không gian, nên nó nhìn suốt trong lòng đất thấy mọi vật và bất cứ địa phương nào ở nơi đâu, cách xa bao nhiêu, nó cũng biết được. Khoa học có thể chứng minh được vì đó là từ trường của tưởng thức.

6- Vì không có thời gian nên bất cứ chuyện gì đã xảy ra hoặc sắp xảy ra bao lâu nó cũng biết được. Và biết một cách rất cụ thể. Đó là từ trường của tưởng thức giao cảm và bắt gặp những hành động, hình ảnh và âm thanh của mọi sự việc đã xảy ra còn lưu lại trong môi trường sống, khoa học có thể chứng minh được.

Cũng như những sự việc sắp xảy ra trong môi trường sống nhân quả của mỗi con người, nó đều bắt gặp và giao cảm được cả, khoa học không có thể chứng minh được.

Hiện giờ giáo sư Trần Phương hy vọng vào các nhà khoa học Việt Nam, quang học và điện tử tinh vi để giải đáp: “Linh hồn có hay không?”, nhưng giáo sư phải còn chờ đợi lâu lắm, có lẽ giáo sư sẽ chết mất mà những câu hỏi này chưa được giải đáp.

Là một nhà tu tập thiền định theo Phật giáo, tự bản thân chúng tôi đã trực tiếp truy tìm thế giới siêu hình để thấy, nghe, hiểu biết, thì chúng tôi biết nó từ đâu xuất hiện những hiện tượng đó. Vì thế chúng tôi xác định quả quyết: “Thế giới siêu hình không có, chỉ là năng lực tưởng thức của mỗi con người còn đang sống tạo ra, chứ người chết rồi thì không còn lưu lại một vật gì cả”. Xưa, thái tử Sĩ Đạt Ta khi tu thành Phật, Ngài cũng xác định: “Thế giới siêu hình là thế giới của tưởng tri”.

Câu hỏi thứ hai của giáo sư nêu lên tình cảm vui, buồn, quan tâm, ước muốn, giận dữ, tranh cãi của linh hồn để rồi nêu lên câu hỏi: Có một thế giới linh hồn ngoài thế giới con người đang sống không? Thế giới linh hồn hoạt động như thế nào? Có khả năng tác động gì vào thế giới của con người đang sống? Để đáp ứng mong muốn của linh hồn người thân, người sống dâng đồ cúng lễ, tiền bạc đồ dùng hằng ngày (dưới dạng vàng mã) là đúng hay nhảm nhí? Linh hồn có tiêu vong đi không, hay là tồn tại mãi mãi?

Để trả lời những câu hỏi này:

1- Ngoài hai trạng thái hình và bóng của cuộc sống con người hiện hữu trên hành tinh này, thì không còn có thế giới linh hồn nào khác nữa. Thế giới linh hồn mà người ta cảm nhận được là do năng lực của tưởng thức trong mỗi người giao cảm mà tạo ra. Năng lực ấy được phát triển là do tu tập các loại thiền định tưởng hoặc bị tai nạn hay bị một cú “sốc” gì trong cuộc đời, khiến cho phần nhóm tế bào não tưởng thức hoạt động, đó là trường hợp của các nhà ngoại cảm.

2- Vì không có thế giới linh hồn nên nó không có sự sinh hoạt riêng, không có sự sống riêng. Do tưởng thức của con người còn đang sống, nên sự sinh hoạt của nó cũng mang đầy tính chất của con người: tình cảm vui, buồn, quan tâm, ước muốn, giận dữ, tranh cãi v.v…Nếu quả chăng có thế giới linh hồn của con người thì phải có sự sinh hoạt khác hơn con người, từ thực phẩm ăn uống, đến tình cảm, truyền thông, diễn đạt v.v…

3- Nếu có khả năng tác động vào con người thì có hai góc độ:

a- Gia hộ con người, giúp cho con người tiêu tai, thoát nạn, bệnh tật tiêu trừ.

b- Hủy diệt loài người để cho thế giới linh hồn tăng trưởng.

Trong hai điều kiện trên đây đều phi đạo đức và phi nhân quả cả. Vì thế, nên thế giới linh hồn không được loài người chấp nhận. Nếu con người chấp nhận nó, là tự con người làm khổ mình, khổ người.

Thế giới linh hồn của con người do năng lực tưởng thức của người còn sống tạo ra thì có hai trường hợp:

1- Không tin nó là thế giới linh hồn của người chết, mà biết sử dụng năng lực tưởng thức đó áp dụng vào cuộc sống hiện hữu của con người thì rất có lợi ích như: tìm hài cốt liệt sĩ, báo động trước những tai nạn sẽ xảy ra v.v…

2- Nếu tin nó là thế giới linh hồn của con người, thì đó là một tai họa rất lớn, gây cho chúng ta bệnh tật và tai nạn “tiền mất tật mang”. Nếu tin nó thì đời sống của chúng ta hoàn toàn bị lệ thuộc, mất tự chủ, sống thiếu đạo đức.

Vì thế giới linh hồn không có, người thân chúng ta chết, nghiệp lực đã tiếp tục tái sanh luân hồi còn đâu mà cúng lễ, tiền bạc, đồ dùng hằng ngày (dưới dạng vàng mã) hay tụng kinh cầu siêu v.v…thì đó là nhảm nhí.

Vì thế giới linh hồn không có thì làm gì có linh hồn tiêu vong hay tồn tại mãi mãi.
Ở đây, chúng tôi không suy luận để tranh cãi mà là sự chứng nghiệm của bản thân chúng tôi. Nhập vào trạng thái tưởng thức thì chúng tôi bắt gặp thế giới linh hồn của con người qua năng lực tưởng thức của chúng tạo ra, chứ không phải thế giới linh hồn của con người có sẵn. Vì thế chúng tôi biết rất rõ ràng.

Hầu hết mọi người đều có khả năng nhìn thấy linh hồn, nghe thấy tiếng nói của linh hồn, nhìn thấy hài cốt lắp vùi dưới lớp đất dày mấy mét v.v…không riêng gì cháu Bích Hằng, chỉ vì mọi người chưa được triển khai tưởng thức đúng mức, nên không thấy không nghe được như cháu Bích Hằng mà thôi.

Khả năng đặc biệt, ấy do một nhóm tế bào não của tưởng thức. Nếu các nhà y học và khoa học chịu khó nghiên cứu bộ não của con người thì sẽ khám phá ra rất dễ dàng.

4- Do sự không hiểu biết, giáo sư Trần Phương cho rằng: Những thông tin bí ẩn của anh Nhã, anh Liên, cháu Bích Hằng là những khả năng đặc biệt càng khó khám phá.

Sự thật không phải vậy. Bởi vì thế giới siêu hình không có, tức là không có linh hồn người chết, không có linh hồn thì làm sao có chất liệu quang học, y học, vật lý học mà khám phá. Nếu rời khỏi bộ óc con người mà khám phá thì chẳng bao giờ khám phá ra được thế giới linh hồn.

Cho nên, các nhà y học và khoa học hãy khám phá nơi bộ óc của một nhà ngoại cảm đang hoạt động, thì có thể sẽ khám phá ra từ những từ trường của những tế bào não tưởng thức phóng ra giao cảm với những từ trường còn lưu giữ trong không gian, những hình ảnh, âm thanh, sắc tướng, những hành động và tình cảm của mỗi con người trước khi chết. Đó là y học và khoa học có thể khám phá ra được. Nhưng có những điều mà khoa học và y học không thể khám phá ra được, đó là năng lực của tưởng thức, năng lực đó có thể biến tạo ra hàng vạn vạn triệu triệu linh hồn con người chết và mỗi linh hồn người chết, từ hành động cử chỉ, lời ăn, tiếng nói đến đặc tướng, cung cách không sai khác như người đó lúc còn sống. Nhất là những linh hồn do tưởng thức của nhà ngoại cảm biến hiện ra, lại nói chuyện với nhà ngoại cảm, nhà ngoại cảm hiện giờ như người trung gian nói lại cho chúng ta nghe những sự việc xảy ra mà chỉ có những người thân trong gia đình mới biết. Chúng tôi xin nêu lên một ví dụ để quý vị dễ hiểu hơn.

Trong giấc mộng chúng ta gặp lại ông, bà, cha, mẹ đã chết cách 10 năm hoặc 20 năm, cùng lúc trong đó chúng ta cũng gặp lại những người còn sống như anh, chị, em, cô, bác cùng bà con hàng xóm. Chúng ta đừng hiểu nông cạn là những linh hồn người còn sống cùng với những linh hồn người chết về gặp chúng ta trong giấc mộng. Nếu quả chăng những người còn sống xuất hồn gặp chúng ta thì những người ấy phải nằm mộng như chúng ta. Nhưng sự thật những người ấy không có nằm mộng. Như vậy những người gặp chúng ta trong giấc mộng là gì? Đó là do năng lực tưởng thức của chúng ta biến hiện ra, nó có thể biến hiện một số lượng người và xe cộ đông đúc như chợ Bến Thành, nó có thể biến hiện ra một thủ đô lớn như thủ đô Hà Nội, v.v…

Xét qua giấc mộng thì năng lực tưởng thức của giấc mộng chỉ bằng 1 phần trăm của tưởng thức cháu Hằng khi tìm hài cốt liệt sĩ, và khả năng tưởng thức còn gấp trăm triệu lần khả năng tưởng thức của cháu Hằng hiện giờ, khi nó làm những việc còn siêu việt hơn. Cho nên những nhà Khí công, nhà Nhân điện đều dùng khả năng của tưởng thức.

Giáo sư Trần Phương với hy vọng: “Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, xác nhận được sự tồn tại của linh hồn thì không những có ý nghĩa nhân văn mà còn có ý nghĩa về nhiều mặt khác, kể cả về hình sự (nếu người bị giết mà nói ra thì kẻ giết người tránh sao khỏi tội?), không những có ý nghĩa quốc gia, mà còn có ý nghĩa quốc tế”.

Sự hy vọng của giáo sư Trần Phương không thể thành đạt được, là vì linh hồn không có, chỉ có năng lực tưởng thức tạo ra.

Vì thế, Thiền xuất hồn là một phương tiện tu tập khai triển năng lực của tưởng thức. Khí công là một môn võ học tập luyện để triển khai năng lực tưởng thức, Mật Tông cũng là một pháp môn triển khai sự mầu nhiệm của năng lực tưởng thức, Nhân điện cũng là một phương pháp triển khai năng lực tưởng thức để trị bệnh, Tịnh Độ Tông triển khai năng lực tưởng thức tạo ra thế giới siêu hình Cực Lạc Tây Phương, Thiền Tông là một pháp môn tu tập triển khai năng lực tưởng giải ảo giác, Chân không, Phật tánh v.v…

Cho nên từ trong các tôn giáo cho đến những người có kiến thức khoa học còn nông cạn và chưa thấu suốt nền đạo đức nhân bản nhân quả, nên tin rằng có thế giới linh hồn người chết, đó là một điều mê tín, lạc hậu mà trong thời đại này không thể tha thứ được.

Vì sự thật hiển nhiên, là không có thế giới linh hồn người chết, mà chỉ có sự biến hiện do năng lực tưởng thức của con người còn sống tạo ra. Vì thế Trung Tâm nghiên cứu tiềm năng con người có ra đời cũng chỉ loanh quanh nghiên cứu trong đống sách cũ của những người xưa, toàn là sách tưởng do những nhà tưởng học để lại. Nếu có nghiên cứu xa hơn thì cũng dựa vào những nhà Nhân điện tưởng, Khí công tưởng, Xuất hồn tưởng, Võ công tưởng, Thiền tưởng, Định tưởng, Thần chú tưởng, Ngoại cảm tưởng v.v… Thì cũng không thể nào giải quyết được những gì mà giáo sư mong đợi. Còn nếu đem những nhà ngoại cảm này áp dụng vào hình sự thì chúng tôi e rằng không chính xác, vì các nhà ngoại cảm không phải tự mình điều khiển cái năng lực đó, mà chính cái năng lực tự động của tưởng thức đó điều khiển họ, nên có khi chính xác và có khi không chính xác, có nghĩa là tưởng thức của họ, lúc làm việc, lúc không làm việc. Cũng giống như trường hợp anh Nhã, lúc nó làm việc thì chính xác, lúc nó không làm việc thì anh mò mẫm như người mù dò đường.

Cho nên đem những hình bóng biến hiện linh hồn người chết của tưởng thức vào việc lấy hài cốt liệt sĩ thì tốt nhất, còn về việc hình sự và quốc phòng thì cũng chẳng khác nào đem sự mê tín vào những vấn đề quan trọng của đất nước, thì chúng tôi e rằng không có lợi mà có hại nhiều hơn.

Bởi vì các nhà ngoại cảm không điều khiển được tưởng thức của mình mà bị tưởng thức của mình điều khiển lại mình.

Tóm lại bài này viết, vì lợi ích cho mọi người trên hành tinh này, chúng tôi nói lên sự thật, sự thật 100%. Chúng tôi nói lên không cần quý vị tin, mà chỉ cần đem lại sự lợi ích cho quý vị, để quý vị trở thành những người không mù mờ, không dại dột bị kẻ khác lợi dụng tưởng thức của mình lừa đảo. Tưởng thức như con dao hai lưỡi, nếu quý vị biết dùng nó, thì nó lợi ích cho quý vị, còn quý vị không biết dùng nó, thì nó trở lại làm khổ và làm hại quý vị.

Sự thật là sự thật, không thể nói khác được, chúng tôi nêu lên một sự thật, thời gian và sự tiến bộ của loài người sẽ xác chứng những điều này, những điều chúng tôi đã nói ngày hôm nay.


CHẾT PHẢI CHĂNG LÀ HẾT ?

Mỗi người trong chúng ta, vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống ắt hẳn đã có lần tự hỏi về những gì sẽ xảy ra sau cái chết về mặt thể chất. Mọi thứ sẽ chấm dứt với hơi thở cuối cùng hay vẫn còn tồn tại một dạng nào đó mà người ta gọi là linh hồn ? ]

Ngôn ngữ Nga liên hệ khái niệm linh hồn với từ thở như cả hai có cùng một nguồn gốc. Bởi vì tử thuở xa xưa, khi quan sát kỹ những người sống và người chết trong bộ lạc, người ta đi đến kết luận rằng có một điều gì đó ben trong một con người liên quan đến hơi thở. Họ bắt đầu goiji đó là linh hồn ( hay Dusha trong tiếng Nga ).

Thổ dân châu Úc tin có sự hiện hữu của linh hồn. Họ cho rằng một phụ nữ có thai mà đi ngang một thân cây, một tảng đá hoặc một số con vật nào đó thì linh hồn của những thứ này sẽ xâm nhập vào cơ thể đứa con tương lai của bà ta.
Sự hiện hữu của linh hồn được công nhận bởi hầu hết người châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, châu Úc... Ở Ai Cập cổ, linh hồn được nghĩ là một phần hợp thành cơ thể con người.

Mỗi tôn giáo phân định một nơi nào đó trong cơ thể để chỉ nơi hiện hữu của linh hồn. Những người sống vào thời Babylon cổ ghĩ rằng linh hồn ở... đôi tai. Người Do Thái cổ thì cho rằng linh hồn ở trong máu của mỗi người.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng linh hồn ở trong toàn bộ cơ thể, không riêng ở bộ phận nào. Một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của nhà thờ Chính thống giáo Nga, Dmitry Rostovsky cũng đồng tình với quan điểm này.

Cách đây không lâu, các nhà tâm lý học người Đức thuộc Đại học Lubeck đã tiến hành một khảo sát rất thú vị. Họ hỏi những thiếu niên từ 7 đến 17 tuổi rằng linh hồn ở đâu trong cơ thể con người. Những em lớn tuổi nhất cho biết linh hồn tìm thấy ở khắp mọi nơi. Một số khác cho rằng linh hồn tồn tại trong đầu, ngụ. Ngoài ra, vài em thì nói mắt và vùng bụng dưới là chỗ của linh hồn.

Trong những năm gần đây, những người nêu giả thuyết về linh hồn chiếm giữ quả tim thấy một vài chứng cứ đáng tin cậy. Nhà tâm lý học, bác sỹ Paul Pearsall thuộc bệnh viện Sinai ở Detroi, viết quyển sách "Mật mã trái tim", dựa trên cơ sở những câu trả lời mà ông ghi nhận được từ 140 bệnh nhân được ghép tim. Qua đó, ông kết luận rằng tính cách con người đã được lập trình sẵn trong tim. Tim điều khiển não và không có chiều ngược lại. Cảm giác, sự sợ hãi, giấc mơ và ý nghĩ.. Đều được giải mã ở các tế bào tim. Các tế bào ký ức này - hay là linh hồn - sẽ chuyển đến một người khác khi họ được ghép tim. Nhiều trường hợp đưa ra trong quyển sách đã hỗ trợ cho lý thuết này. Một người đàn ông 41 tuổi, được ghép quả tim của cô gái 19 tuổi bị chết trong tai nạn đường sắt, đã thay đổi hoàn toàn sau phẫu thuật. Trước đây, ông thường bị lạnh và rất tỉnh táo nhưng sau khi thay tim, ông bỗng trở thành người có tính khí bất thường và cẩu thả...

Một trường hợp khác là của Sliva Clair, huấn luyện viên khiêu vũ ở New York. Bà trải qua một tiến trình ghép tim ở tuổi 50. Sau phẫu thuật, điều đầu tiên mà bà nghĩ đến là... bia. Sau đó, vào ban đêm bà bắt đầu nằm mơ thấy một người đàn ông bí ẩn tên là T.L... Lạ lùng về điều thay đổi này, bà bí mật điều tra và phát hiện rằng quả tim mà bà đang mang trong người là của một chàng trai chết ở tuổi 18. Tên của anh ta đúng là T.L và theo nhân thân của người này kể lại thì khi còn sống, sở thích của anh ta là uống bia lạnh.

Vào cuối năm 1990, nhiều tin giật gân về linh hồn lan khắp thế giới. Các nhà khoa học tại một trong những phòng thí nghiệm của Mỹ đã tìm ra được cách.. cân linh hồn! Họ phát hiện trong lượng của con người nhẹ đi khoảng 2,5 đến 6.5 gram sau khi trút hơi thở cuối cùng. Tuy nhiên, đây không phải là nỗ lực đầu tiên để cân linh hồn. Năm 1915, thí nghiệm tương tự đã từng được thực hiện cũng ở Mỹ. Thời điểm đó, các nhà khoa học đi đến kết luận rằng linh hồn nặng khoảng 22.4 gram.

Năm 2001, sự kiện này lại gây xôn xao hơn nữa. Đầu năm đó, hai nhà khoa học người Anh là Sam Parnia và Peter Fenwich đưa ra giả thuyết rằng ý thức có thể vẫn tiếp tục tồn tại sau khi não đã ngưng các chức năng hoạt động. Cuộc nghiên cứu có liên quan đến 63 bệnh nhân trải qua cái chết lâm sàng. Kết quả cho thấy 56 người không nhớ gì trong thời điểm đó; 7 người nhớ rất rõ về mọi thứ mà họ cảm nhận ddwocjw khi thân thể được xem đã chết. Có 4 người trong số này cho biết họ tràn ngập niềm vui và sự an bình, thời gian dường như trôi qua nhanh hơn. Sau đó họ nhìn thấy một ánh sáng lấp lánh và thấy các sinh vật huyền thoại giống như các thiên thần hay các vị thánh. Họ nói đã ở trong một khoảnh khắc nào đó, trước khi tỉnh lại.

Một điều đáng quan tâm là không ai trong các đối tượng thuộc nghiên cứu này là người mộ đạo. Họ thú nhận rằng trước đây chưa hề đi nhà thờ. Do đó, nhưngx gì mà họ kể lại trong thời điểm chết lâm sàng không thể giải thích là do niềm tin tôn giáo.

Các nhà khoa học người Anh này đã bác bỏ ý kiến trước đây cho rằng não ngưng các chức năng là do thiếu Oxygen, bởi vì không có ai trong số cá bệnh nhân cho thấy một sự suy sụp đáng kể về Oxygen chứa trong các mô thuộc hệ thần kinh trung ương.

Có một giả thuyết cho rằng những ảo tưởng mà những người đã trải qua cái chết lâm sàng kể lại có thể là do tác dụng không thuận lợi của các biệt dược trong nỗ lực làm bệnh nhân hồi tỉnh trước đó.

Cuối năm 2001, ba nhà khoa học người Hà Lan, dưới sự giám sát của chuyên gia nỗi tiếng Van Lommel, đã tiến hành cuộc nghiên cứu lớn nhất có liên quan đến những người đã trải qua cái chết lâm sàng. Các kết quả được đăng trên tờ báo y học Lancet và cho thấy nó cũng tương tự nghiên cứu của các nhà khoa học người Anh kể trên. Van Lommel và các đồng nghiệp cho rằng những ảo ảnh sẽ đến trong mỗi khoảnh khắc khi hệ thống thần kinh trung ương ngưng hoạt động. Điều này có nghĩa là ý thức được tách rời với hoạt động của não. Van Lommel cung cấp một trường hợp đáng quan tâm về "Trải nghiệm cận kề cái chết". Một bệnh nhân trong tình trạng hôn mê được chuyển đến khu cấp cứu hồi sức. Tại đây, những nỗ lực làm cho ông ta hồi tỉnh đều thất bại. Não của người này đã ngưng hoạt động và điện não đồ đã thể hiện một đường thẳng. Còn nước, còn tát, các bác sỹ quyết định luồn một cái ống vào thanh quản và khí quản để giúp bệnh nhân duy trì hơi thở.Trong khi thực hiện tiến trình này, các y tá đã lấy hàm răng giả của bệnh nhân ra để thông ống dễ dàng hơn. Một giờ sau, tim của ông ta bắt đầu đập trở lại và huyết áp về mức bình thường... Một tuần lễ sau, người bệnh được cải tử hoàn sinh nói với một y tá : " Cô hãy trả lại hàm răng giả cho tôi. Cô đã lấy nó ra và để trong ngăn của chiếc xe đẩy". Trước sự ngạc nhiên của các nhân viên trong bệnh viện, ông kể rằng ông đã quan sát từ bên trên trong khoảnh khắc cái chết đến với ông. Ông mô tả từng chi tiết của phòng hồi sức và các hoạt động của bác sỹ trong nỗ lực cứu sống ông. Lúc đó ông sợ rằng các bác sỹ sẽ từ bỏ công việc hồi sinh cho ông và cố gắng ra hiệu cho mọi người vẫn thấy ông còn sống, nhưng hầu như không ai nhìn thấy ông đang lơ lửng trên thân thể bất động của mình.

Trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực trên, các nhà khoa học Hà Lan còn phát hiện rằng phụ nữ có những cảm xúc mạnh hơn đàn ông, những gì họ thấy trong khi chết lâm sàng nhiều chi tiết hơn. Hầu hết các bệnh nhân trải qua cái chết lâm sàng sâu thường chết thật vào tháng sau, sau khi được hồi sinh. Các ảo giác của người mù thì không khác với người sáng mắt.

Càng ngày càng có nhiều tường trình về những trải nghiệm cận kề cái chết với nhiều tình tiết ly kì. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra được những giải thích thoả đáng và xem ra họ vẫn còn nhiều việc phải làm để chứng minh sự bất tử của linh hồn !
Về Đầu Trang Go down
pic
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: DUC PHAT   Fri Sep 30, 2011 5:39 pm

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Sự khác biệt giữa nghiệp và số mệnh ?   

Về Đầu Trang Go down
 
Sự khác biệt giữa nghiệp và số mệnh ?
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» [Kinh nghiệm] ghép LNB
» Luận văn tốt nghiệp về truyền hình SDTV, HDTV, 3DTV tuyệt hay đây.
» bác nào có kinh nghiệm chống bão cho chảo
» RTB phát sóng thử nghiệm kênh 47 (682 MHz)
» kinh nghiệm và sửa chữa

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Q9A1-THANGLONG-UNIVERSITY :: HOT NEWS FROM NEWPAPERS-
Chuyển đến