Q9A1-THANGLONG-UNIVERSITY

ÁO XƯA DÙ NHÀU, CŨNG XIN BẠC ĐẦU GỌI MÃI TÊN NHAU !!!
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Nếu mai này Mẹ hiền có mất đi.... như đóa hoa không mặt trời... như trẻ thơ không nụ cười... ngỡ đời mình không lớn khôn thêm... như bầu trời thiếu ánh sao đêm......!!!

Share | 
 

 Các quan niệm về linh hồn

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
gggggg
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Các quan niệm về linh hồn   Tue Sep 20, 2011 8:58 pm

Vậy có hay không có linh hồn? Nếu có thì nó ở dạng thức nào, nó vô hình hay hữu hình? Rất nhiều nhà khoa học đã vào cuộc và đã có rất nhiều nghiên cứu thú vị về vấn đề này.

KH&ĐS xin giới thiệu tới bạn đọc loạt bài tìm hiểu về các nghiên cứu liên quan đến linh hồn, một vài người đã từng tiếp xúc với linh hồn... để độc giả có thêm thông tin về hiện tượng còn nhiều tranh cãi này.

Các quan niệm về linh hồn

Theo ông Nguyễn Phúc Giác Hải, chủ nhiệm bộ môn Dự báo, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người, linh hồn tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau. Đầu tiên phải kể đến là những quan niệm dân gian về linh hồn. Linh hồn trong quan niệm của người Việt Nam có từ rất lâu đời. Được dân gian ghi chép lại qua ca dao, tục ngữ. Chẳng hạn như dân gian hay gọi "ba hồn bảy vía", "hồn lìa khỏi xác", "hồn xiêu phách lạc"...

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải


Hay đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng đề cập đến chuyện linh hồn trong tập truyện Kiều nổi tiếng rằng: "Thác là thể phách, còn là tinh anh". Nghĩa là cái chết chỉ ở thể xác bề ngoài, còn linh hồn thì vẫn là thứ tồn tại mãi mãi.
Dù là người sống hay các linh hồn đều liên tục "phát sóng" và có những tần số nhất định. Đối với những người có khả năng đặc biệt thì tần số của họ hợp với những linh hồn của những người đã chết.


Theo những nghiên cứu của ông Hải thì để tượng này xảy ra cần một điều kiện tiên quyết đó là luân xa số 7 (một huyệt nằm trên đỉnh đầu con người) bị khai mở. Người bị như vậy thường dẫn đến sự ám ảnh và bất lợi cho sức khoẻ cũng như tâm lý của người đó. Hiện tượng này dân gian thường gọi là "sơn ăn từng mặt, ma bắt từng người".

Ngược lại, hiện tượng "xuất hồn" và "đa nhân cách" thường với tư thế chủ động của người sống, có thể nắm bắt được những thông tin của người đã chết thông qua linh hồn. Ở hai dạng thức này, người "xuất hồn" có thể "bay" chu du khắp nơi, sau đó kể lại từng chi tiết, từng sự việc, sự vật đúng y như hiện thực mà người khác có thể nhìn thấy.

Theo ông Hải thì có thể hiểu một cách đơn giản rằng: Linh hồn như một cỗ máy. Phần xác là cỗ máy còn linh hồn là người điều khiển cỗ máy đó. Cỗ máy coi như chết khi không có người điều khiển.

Có thể chụp ảnh linh hồn?

Ở một dạng thức tồn tại khác, ông Nguyễn Phúc Giác Hải đã cho rằng, linh hồn mang một lượng năng lượng nhất định. Ở dạng thức này có thể chụp được ảnh linh hồn. Trên thế giới và cả ở Việt Nam, linh hồn xuất hiện với rất nhiều hình dạng khác nhau. Đó là những hình vòng tròn hoặc hình người méo mó. Những hình ảnh này thường chỉ chụp được duy nhất một lần và không có sự lặp lại. Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề chụp được ảnh người chết, ảnh linh hồn đa số người đều cho rằng có sự ngụy tạo, giả dối trong đó.

Mặc dù vậy, ở Việt Nam, một số nhà ngoại cảm vẫn chứng minh rằng đã thu chụp được hình ảnh của người chết. Người ta coi đó là linh hồn của người chết. Ông Hải cho biết, trường hợp của nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài chụp được hình của liệt sĩ Lương Xuân Tách, quê Quảng Ninh hồi cuối năm 2010. Khi đó bà Hoài đã gọi linh hồn của liệt sĩ Tách về và xuất hiện lên chiếc điện thoại di động. Trong khi chiếc điện thoại di động đã được tháo pin rời ra.

Trước đó, gia đình liệt sĩ Tách chỉ nhớ mặt con em mình chứ không có một bức ảnh nào được giữ lại để thờ. Khi xem được hình ảnh của liệt sĩ Tách người nhà đã hết sức bất ngờ. Tuy nhiên, lúc này các nhà ngoại cảm cần một bằng chứng thuyết phục cho việc làm của mình. Sau đó, hài cốt của liệt sĩ Tách được đưa đi xét nghiệm ADN và cho kết quả hoàn toàn đúng.

Từ hiện tượng kỳ lạ này, ông Hải có suy luận rằng, linh hồn có thể mang một lượng năng lượng nhất định? Việc hình ảnh liệt sĩ Tách hiện lên chiếc điện thoại di động chắc chắn phải nhờ đến một nguồn năng lượng nhất định nào đó (khoảng 3,5 - 3,7V - PV). Tuy nhiên, ông Hải cũng cho rằng, vấn đề này cần nghiên cứu sâu, rộng hơn nữa, bởi vì chúng ta chưa đo được tại thời điểm diễn ra hiện tượng kỳ lạ trên có nguồn năng lượng lạ nào xuất hiện không, và chỉ số đo được là bao nhiêu?

Không chỉ riêng ông Hải mà một số nhà khoa học tin rằng, vấn đề chỉ là thời gian và sự tiến bộ của khoa học để chứng minh sự tồn tại của linh hồn. Cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về vấn đề này để làm rõ những bí ẩn chưa được giải mã. Trong số tới chúng tôi xin giới thiệu một số nghiên cứu cụ thể của các nhà khoa học trên thế giới trong việc "truy tìm linh hồn".
Về Đầu Trang Go down
man
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Ma Quỷ Trong Thế Giới Ngày Nay    Fri Sep 30, 2011 4:45 pm



Ma Quỷ Trong Thế Giới Ngày Nay

Các Hoạt Động Thông Linh
2. Các hiện tượng siêu linh (psychic phenomena)
Hiện tượng thông linh vật lý trong thông linh có quan hệ chặt chẽ với các biểu hiện siêu linh như thị kiến thông linh, viết chữ tự động, nói trong lúc xuất hồn, làm hiện, biến vật thể, nâng bàn, cơ ly và xuất hồn.
Thị kiến thông linh (Spiristic visions)
Đây là hiện tượng thấy “khải tượng” siêu nhiên một số người kể lại là mình đã có. Ngày nay cũng như trong thời các tiên tri và các sứ đồ, Đức Chúa Trời có thể cho con người thấy khải tượng trong những cơ hội hay hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên phải nhận rằng những kinh nghiệm thấy khải tượng thật do Đức Chúa Trời mạc khải rất hiếm và hầu hết là những thị kiến giả tạo do ma quỉ tác động.
Tiến sĩ Kurt Koch, một học giả lỗi lạc trong lãnh vực thông linh thuật lại trường hợp một sinh viên thần học đến với ông cho biết ban đêm anh thường thấy nhiều khải tượng về Chúa Cứu Thế khiến cho anh vừa khó chịu, vừa sợ hãi. Sau một thời gian tìm hiểu ông khám phá ra rằng người sinh viên này có cả mẹ lẫn bà ngoại là những người thực hành thông linh và chuyên cầu cơ ly. Điều này cho thấy những “khải tượng” của anh chỉ là tác động của đồng cốt, tà linh chứ không phải là mạc khải của Đức Thánh Linh.
Tương tự, trường hợp bà Diane Kennedy Pike thấy “linh hồn chồng bà là giám mục Pike lìa khỏi xác khi ông tắt nghỉ ở sa mạc Giu-đê tháng 9 năm 1969, và khi ông sung sướng ôm choàng đứa con quá cố là Jim và thần học gia Paul Tillich, cùng những người khác.” Đúc kết toàn thể bối cảnh câu chuyện này chúng ta chỉ có thể kết luận rằng đây là tác động của ma quỉ qua các trung gian đồng cốt chứ không phải là khải tượng chân thật từ Đức Thánh Linh.
Nhiều người sáng lập các tà giáo cũng khởi sự từ các thị kiến hay “khải tượng” siêu nhiên như thế để đưa ra những giáo thuyết lệch lạc, mâu thuẫn với các giáo lý thuần túy trong Kinh Thánh mà thí dụ điển hình cận đại là các “khải tượng” của Joseph Smith (1805-1844), người chủ trương tà giáo Mặc môn (Mormonism). Đây là điều thánh Phao-lô gọi là đạo lý của quỉ dữ (I Ti-mô-thê 4:1). Khi một người cố ý cượng giải Lời Chúa, người đó tự đặt mình vào một vị trí rất dễ bị ma quỉ khống chế, tấn công và lừa dối.

Nói trong lúc xuất hồn
Xuất hồn là hiện tượng cốt đồng rơi vào tình trạng mê mẩn, mất ý thức, ở dưới quyền điều động của ma quỉ để cốt đồng có thể tiếp xúc với người chết. Một hay nhiều tà linh sẽ lừa dối bằng cách nói qua miệng cốt đồng, giả giọng người quá cố. Hậu quả là vô số các nhà bói toán quảng cáo rằng họ có thể tiếp xúc được với những người đã chết, thường là những nhân vật tiếng tăm. Có lần, một vị mục sư tham dự một buổi gọi hồn với mục đích để khảo sát hoạt động của đồng cốt. Sau khi cốt đồng khởi sự xuất hồn thì qua miệng cốt đồng, tiếng nói tự nhận là “thánh Phao-lô” hiện lên và giảng cho cử tọa. Cần nhớ rằng đây chỉ là ma quỉ nhập vào cốt đồng, mạo nhận là Phao-lô mà thôi. Khởi đầu vị mục sư rất thích thú khi theo dõi bài giảng, nhưng sau lại thất vọng vì quá lạt lẽo. Bài giảng chỉ là những lời khuyên có tính cách luân lý, được tô điểm thêm bằng một chút mầu sắc Cơ-đốc giáo. Tựu trung, đây chỉ là một trường hợp lừa dối của ma quỉ, mượn danh nghĩa người chết lừa bịp người sống. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, Cơ-đốc nhân tham dự vào các hoạt động thông linh trên là một hành vi dại dột và rất nguy hiểm. Trong một trường hợp khác một mục sư tham dự một buổi cầu hồn tương tự, sau đó đã rơi vào một thời gian sa sút nghiêm trọng đến nỗi không thể cầu nguyện và mất hết nhiệt tâm trong chức vụ rao giảng Lời Chúa. Đây là trường hợp sẽ được nêu lên ở phần sau.

Thuật Hiện Biến (Materializations)
Có lẽ một trong những hiện tượng lạ lùng nhất của hoạt động thông linh là hiện tượng hiện biến. Đây là hiện tượng siêu nhiên làm xuất hiện hay biến mất các vật thể qua tác động của đồng cốt. Hoạt động này có nhiều mức độ khác nhau. Larsen thuật lại kết quả sau 12 buổi gặp gỡ một cốt đồng nổi tiếng, Madame D’Esperance. Trong khi bà D’Esperance ngồi trong một phòng nhỏ, một bóng ma tự nhiên xuất hiện trước phòng và dần dần hiện thành hình một phụ nữ. Bóng ma này di chuyển vào và ra giữa vòng những người ngồi tham dự buổi gọi hồn. Trong khi bóng ma đưa tay cho một người tham dự nắm lấy, tình trạng biến đi hay tan rã khởi sự trước mặt mọi người tham dự. Đến cuối cùng chỉ còn lại một khối tròn trên đất lăn vào trong căn phòng nhỏ có cốt đồng ngồi.
Một thí dụ khác là trường hợp một cốt đồng được giao công tác gọi và làm hiện hồn một nhà thơ người Đức Johann Ludwig Uhland (1787-1862). Trong một buổi gọi hồn, bóng ma một người da trắng xuất hiện. Những người tham dự yêu cầu đọc một bài thơ. Thay vì đọc, bóng ma xé một trang từ một cuốn sách trong thư viện, với cây viết chì lấy từ một cặp- táp có khóa, lấy xuyên qua lớp da mà không cần mở cặp. Bàn tay viết xuống vài câu thơ rồi biến mất, duy tờ giấy vẫn còn để lại. Các chuyên gia liền tức khắc tra cứu các tác phẩm của Uhland nhưng không tìm thấy câu thơ đó. Công cuộc nghiên cứu nét chữ bóng ma để lại cho thấy nét chữ đó thực sự là nét chữ của nhà thơ quá cố. Sau đó là một vụ án liên quan đến quyền sở hữu trang giấy có bút tích của nhà thơ nổi tiếng. Tòa án đã xử cho bà cốt thắng kiện. Bà ta đã giữ tờ giấy đó coi như một vật gia bảo!
Hiện tượng hiện biến cũng từng có trong lịch sử truyền giáo Trung Hoa. Các giáo sĩ từng thuật lại rằng các đạo sĩ Nhật Bản có thể dùng thuật hiện biến, tự biến đi từ ngọn núi này để xuất hiện ở một ngọn núi khác. Chúng ta phải coi đây là một phép lạ của Sa-tan. Thánh Phao lô trong thư 2 Tê-sa-lô-ni-ca. 2:8-10 đã viết như sau: “Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Đức Chúa Giê-xu sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến. Kẻ đó sẽ lấy quyền của quỉ Sa-tan mà hiện đến, làm đủ mọi thứ phép lạ, dấu dị và việc kỳ dối giả; dùng mọi cách phỉnh dỗ không công bình mà dỗ dành những kẻ hư mất vì chúng nó đã không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi.”
Trường hợp chấp sự Phi-líp trong Công Vụ 8 được Đức Thánh Linh của Chúa đem đi từ Ga-xa đến thành A-xốt cách nhau gần 35 km (Công Vụ 8:39-40) có thể coi là phép lạ của Đức Chúa Trời. Còn hiện tựơng hiện biến qua đồng cốt hiển nhiên là tác động của Sa-tan giả dạng, bắt chước quyền năng của Đức Chúa Trời.

Cơ ly (Tumbler moving)
Đây là một hình thức cầu cơ của những người thực hành thông linh. Những người tham dự ngồi xung quanh một cái bàn, trên đó có có sắp tất cả các mẫu tự, trên lót một tấm kính. Trên bàn người ta để một cái ly không. Sau lời cầu gọi cơ, giống như một câu thần chú, tà linh nhập vào ly. Đây là lúc người tham dự sẽ đặt câu hỏi. Một lực vô hình khiến cho cái ly bắt đầu tự động di chuyển, dừng lại ở một số các mẫu tự, đem ghép lại người ta có câu trả lời. Lực vô hình điều khiển cái ly hiển nhiên là quyền lực của quỉ, của tà linh. Một mục-sư có lần thử tham dự để tìm hiểu hoạt động thông linh này đã khiến ông sau đó rơi vào quĩ đạo khống chế của quỉ dữ. Lòng hăng hái sốt sắng hầu việc Chúa nguội dần. Ông mất thôi thúc cầu nguyện và vào các ngày Chúa Nhật tàlinh tấn công dữ dội khiến không thể giảng dạy được. Quyền lực tối tăm đã khống chế ông đến nỗi sau một thời gian ông mục sư này đã phải rời bỏ chức vụ.

Xuất hồn (Excursions of the spyche)
Một số thầy bói cho biết họ có khả năng ”xuất hồn” đi một khoảng cách xa theo ý muốn. Như người Lapps ở bán đảo Scandinavia và nhất là người Tây Tạng nổi tiếng về khả năng xuất hồn. Trong cuộc thế chiến lần thứ hai, một bà mẹ Đức có hai đứa con bị mất tích trong chiến tranh. Bà đem hình hai con ra cho một nhà bói toán cũng là một cốt đồng tìm giúp. Tập trung nhìn vào hai tấm hình này cốt đồng đi vào trạng thái xuất hồn, cho biết một đứa đã chết còn đứa kia tuy là có báo cáo chết từ năm 1943, nhưng hiện vẫn còn sống. Sau khi tập trung thêm nữa, ông thầy bói tuyên bố: “Tôi có thể liên lạc với đứa con này. Tôi thấy cậu ta đang ở trong một ngôi nhà xây bằng đá ở đông nam Mạc tư khoa. Anh ta là một tù binh và sẽ được về vào năm 1954.” Người mẹ sau đó rất ngạc nhiên khi thấy con bà đã trở về vào khoảng đầu năm 1954 đúng như lời tiên đoán. Ông thầy bói cũng là cốt đồng có khả năng xuất hồn và bằng khả năng tìm kiếm người hay vật mất tích dựa vào hình ảnh của người hay vật đó (psychometry) với sự trợ giúp của tà linh trong thế giới siêu hình.
Những trường hợp trên cho thấy những khía cạnh hấp dẫn của các họat động thông linh: tìm kiếm người mất tích, đồ vật quí giá bị mất, tìm hiểu hậu vận, tương lai... mà ma quỉ, trong một giới hạn nhất định có thể biết được, và qua trung gian những người có cốt đồng hoạt động trong các lãnh vưc thông linh, ma quỉ, tà linh, là thuộc hạ của Sa-tan có thể đưa con người vào trong xiềng xích vô hình nhưng khó thoát của chúng. Những hiện tượng siêu nhiên trong các hoạt động thông linh, xem ra rất bí mật, lạ lùng, khoa học không giải thích được nhưng lại rất hấp dẫn, đầy tính thuyết phục đối với nhiều người. Tuy nhiên nếu đem đối chiếu những hiện tựơng lạ lùng đó, như trong thuật viễn khiển, làm đồ đạc di chuyển, thậm chí bay lơ lửng... với những phép lạ Chúa làm được ghi trong Kinh Thánh, chúng ta thấy những hiện tượng lạ do ma quỉ tác động phần lớn tầm thường và vô nghĩa. Khi Đức Chúa Trời sai Môi-se và A-rôn ra mắt Pha-ra-ôn Ai Cập, các thuật sĩ Ai-cập cũng làm được một số các dấu lạ, nhưng so với các phép lạ, và các tai ách Chúa dùng Môi-se làm chúng ta có thể thấy rõ khác biệt đó.
Tương tự, khi xem lại các phép lạ Chúa Giê-xu cùng các sứ đồ làm trong thời Tân Ước, so với các pháp thuật Si-môn thuật sĩ , của Ê-ly-ma hay của ma quỉ chúng ta có thể phân biệt và phân loại được ngay. Ma quỉ, tà linh trong thế giới vô hình có thể tạo ra được nhiều hiện tượng lạ, nhưng chúng không thể vượt qua những giới hạn Đức Chúa Trời đặt ra cho chúng. Đức Chúa Trời chúng ta thờ phượng vẫn là Đấng Chủ tể tối cao, tối đại. Ngài đang cầm quyền trên muôn loài vạn vật, là Chúa của mọi thần linh và vì vậy là con cái Chúa, thuộc về Chúa chúng ta không có lý do gì để sợ hãi ma quỉ, tà linh. Tuy nhiên, những người vì dại dột, thiếu hiểu biết hay vì hiếu kỳ, tham gia vào các hoạt động thông linh, là đã tự đặt mình vào một tình huống vô cùng nguy hiểm, đưa thân vào trong sự khống chế trực tiếp của ma quỉ, vốn mạnh hơn con người. Chỉ có một giải pháp duy nhất cho những người đó thoát khỏi xiềng xích của ma quỉ là kêu cầu danh Chúa Giê-xu.

2. Các Hiện Tượng Ma Thuật (Magic Phenomena)
Cho đến nay chúng ta thấy phạm vi thể hiện quyền lực của sự tối tăm khá rộng rãi, và điều này giúp chúng ta giải thích tại sao những người thực hành thông linh đã có thể tạo ra được nhiều hiện tượng ma thuật dùng để tấn công, ức hiếp, hãm hại những người chúng ghét. Chúng có thể khiến một người đau ốm hay bỗng nhiên rơi vào tình trạng căng thẳng thần kinh đến mức độ rối loạn và phải nghỉ việc. Tất nhiên cũng có những trừơng hợp căng thẳng thần kinh vì lý do tâm lý, vì áp lực của cuộc sống, những lo lắng buồn phiền tích tụ nhiều năm tháng, nhưng những trường hợp chúng ta nêu trên do tác động của ma thuật, xảy ra một cách khá đột ngột và không thể giải thích bằng các nguyên nhân tâm lý. Sử dụng bùa ngãi để thư, ếm hay dùng bùa hộ mạng cũng là những hình thức sử dụng ma thuật để làm hại kẻ thù hay để chống lại quyền lực ma thuật tấn công.
Việc sử dụng các loại bùa hộ mệnh như đeo móng cọp, răng cọp, nanh heo rừng khá phổ biến giữa vòng những người lính trong đó có cả sĩ quan người kinh cũng như người dân tộc và thông thường nhất là người Khmer. Trẻ con ở nông thôn Việt nam, nhất là những trẻ “khó nuôi” hay được cho đeo bùa thường là một sợi chỉ ngũ sắc để không bị ma quỉ khuấy phá hay “bắt”. Túi đựng tỏi, nhánh xương rồng cũng thường được dùng làm những vật “trừ tà” trong các nhà ở nông thôn. Thợ mộc dựng nhà cũng thường được gia chủ đối đãi rất tử tế, nếu không có thể bị ếm chú khiến cho căn nhà ở không yên, hoặc là làm ăn thất bại hay bị đau ốm bịnh tật…
Ngay tại Mỹ, nhiều nơi thờ cúng có những nhà sư Thái lan, Cambodge, Ấn độ trụ trì. Ngoài việc coi sóc nơi thờ cúng họ cũng sẵn sàng cung cấp những loại bùa đáp ứng những nhu cầu khác nhau cho khách thập phương. Anh Tony Trương (không phải tên thật) đã từng đi xin “bùa yêu” giúp cho anh khi tiếp xúc với người khác, nhất là người khác phái, sẽ được cảm tình. Một nhà sư Thái Lan, cũng là thầy bùa đã dội lên đầu anh một bình nước đã làm phép. Từ đó, anh thấy nhiều người trong sở làm thay đổi hẳn thái độ, trở nên thân mật, niềm nở với anh. Tuy nhiên hiệu quả của “bùa yêu” chỉ có thời hạn. Sáu tháng sau anh phải trở lại, trả tiền để được gia hạn. Đã có lần anh quên không đi gia hạn, thì thời gian sau đó anh thấy như bị trầm uất, buồn khổ không thể chịu nổi. Anh biết mình bị cột trói vào quyền lực vô hình của bùa ngãi không thể thoát ra. Anh tìm đến với Chúa, nhưng rất tiếc đã không thực sự ăn năn, không thực sự đặt trọn lòng tin nơi Chúa nên tình trạng nô lệ cho ma quỉ không tháo gỡ được.
Tử vi, Bói tóan là Tà đạo, có phải là sản phẩm của Ma, Quỷ ?
________________________________________
Bói Toán Và Mối Liên Hệ Với Ma Quỉ

Bói toán là việc tiên đoán những biến cố tương lai cùng những sự việc có tương quan đến đời người. Đây là hoạt động dựa vào quyền lực và tri thức của ma quỉ. Bói toán thoát thai từ sự thờ hình tượng. Tìm kiếm tri thức thuộc về tương lai không những là thể hiện thái độ vô tín đối với sự quan phòng khôn ngoan của Đức Chúa Trời mà còn hàm ý không chấp nhận thẩm quyền tối thượng của Ngài. Bói toán là một hình thức ma thuật mà Chúa đã minh thị nghiêm cấm trong Kinh Thánh (Phục Truyền 18: 9-14). Trong ma thuật, các tác nhân của ma quỉ thi hành các hoạt động siêu nhiên, nhưng trong bói toán, ma thuật được sử dụng để thấy trước tương lai. Bói toán liên quan đến ma thuật cũng như tiên tri tương quan với phép lạ. Cả bói toán và tiên tri đều bao hàm một loại tri thức đặc biệt. Trong bói toán, tri thức này thuộc về ma quỉ, nhưng việc tiên tri thuộc về Đức Chúa Trời. Ma thuật là hình thức Sa-tan bắt chước phép lạ của Đức Chúa Trời và bói toán là ma quỉ giả mạo lời tiên tri.

Có nhiều hình thức bói toán khác nhau tuy nhiên có thể xếp vào hai loại chính. Loại thứ nhất là bói toán dựa vào việc giải đoán những dấu hiệu hay dùng các vật dụng để bói ở dưới sự kiểm soát gián tiếp của ma quỉ. Loại thứ hai là hiện tượng bói toán trực tiếp do ma quỉ điều khiển và thầy bói thường cũng là cốt đồng, khiến người đó có thể thấy trước một phần tương lai trong phạm vi giới hạn nào đó.

Thuật Chiêm Tinh

Chiêm tinh là thuật có từ thời cổ đại, là một loại khoa học giả hiệu cho rằng có thể tiên đoán những biến cố trên địa cầu bằng cách quan sát tương quan vị trí các tinh tú, mặt trời, mặt trăng và các hành tinh. Khoa chiêm tinh cũng cho biết có khả năng tiên đoán tính tình, vận mệnh con người, sử dụng các lá số tử vi dựa trên sự tương tác của các thiên thể vào lúc người đó chào đời. Các thiên thể này không nhất thiết là các thiên thể trong thái dương hệ, hay trong khoa thiên văn nhưng có khi chỉ là các thiên thể biểu kiến, mang những đặc tính nhất định. Dựa trên ngày giờ sinh, người ta thiết lập một biểu đồ rồi nghiên cứu vị trí tương tác của tất cả các ngôi sao rồi dựa vào đó mà giải đoán. Các “ngôi sao” trong thuật chiêm tinh không chỉ là những thiên thể nhưng được coi như thần linh, hoặc là các thần linh trấn giữ các thiên thể đó.

Tuy nhiên, dấn thân vào thuật chiêm tinh là mời gọi ma quỉ và các tà linh hành động, vì thuật chiêm tinh nguyên thủy là một hình thức thờ các tinh tú để thâu đoạt những tri thức tương lai chống lại ý muốn Chúa cùng lời Chúa trong Thánh Kinh. Đây là giới răn được minh thị công bố. Sách Phục Truyền 17: 2-5 qui định án tử hình cho những người phản bội Đức Chúa Trời, đi thờ thiên binh: “Khi ở giữa ngươi, trong một thành nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi, có một người nam hay nữ làm điều ác trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vi phạm giao ước Ngài, đi hầu việc và quì lạy các thần khác, hoặc mặt trời, mặt trăng, hay là cả thiên binh, tức là điều ta không có dạy biểu; khi điều đó đem học cho ngươi hay, thì phải tra hỏi kỹ càng, và nếu điều người ta nói là thật, và quả quyết có một sự gớm ghê dường ấy đã phạm trong Y-sơ-ra-ên, thì ngươi phải đem người nam hay nữ đã làm việc ác đó đến cửa thành, ném đá cho chúng nó chết.”

Vì thuật chiêm tinh xuất phát từ sự thờ hình tượng cho nên thuật này có bản chất mời gọi sự tham gia, can thiệp của tà linh với quyền lực của sự tối tăm như thư Ê-phê-sô 2:2 tiết lộ. Sự thờ lạy các thiên thể đã lan truyền từ Ba-by-luân đến các quốc gia lân bang của Y-sơ-ra-ên. Tiên tri Ê-sai đã đưa ra lời quở trách các nhà chiêm tinh Ba-by-luân rất nghiêm khắc:

“Cùng trong một giây phút trong một ngày, hai nạn ấy là sự mất con cái và sự góa bụa sẽ xảy đến cho ngươi. Hai nạn ấy sẽ đến đầy đủ trên ngươi, khi ngươi làm tà thuật rất nhiều, và có lắm quyền của phù chú... Vậy ngươi hãy đứng lên, dùng những tà thuật với vô số phù chú mà ngươi đã lập từ khi thơ ấu! Có lẽ ngươi sẽ được lợi ích, và có lẽ nhân đó ngươi sẽ nên đáng sợ chăng? Ngươi đã nhọc sức vì cớ nhiều mưu chước. Vậy những kẻ hỏi trời, xem sao, xem trăng mới mà đoán việc ngày sau, bây giờ hãy đứng lên và cứu ngươi cho khỏi những sự xảy đến trên ngươi. Kìa họ sẽ trở nên như rơm rạ, bị lửa thiêu đốt; họ sẽ chẳng cứu mình được khỏi quyền ngọn lửa...” (Ê-sai 47:9,12,13)

Tiên tri Giê-rê-mi thì khuyên tuyển dân đừng sợ “các dấu trên trời” chắc chắn là có liên quan đến việc thờ cúng các tinh tú hoặc thuật chiêm tinh của dân ngoại: “Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va phán như vầy: chớ tập theo tục của các dân ngoại; chớ sợ các dấu trên trời, mặc dầu dân ngoại nghi sợ các dấu ấy...” (Giê-rê-mi 10:1-2). Trong sách Đa-ni-ên 2:27 và 4:7 cũng cho chúng ta thấy ngay từ thời cổ đại ở Ba-by-luân việc tin dùng các thuật sĩ thầy bói, đồng cốt, chiêm tinh gia không chỉ phổ biến mà còn là phương tiện chính thức sử dụng trong triều đình, để củng cố quyền lực và quyết định vận mệnh đế quốc.

Khi thuật chiêm tinh lan tràn sang Hy-lạp, La-mã và sau này sang Âu châu thì nó đã mất đi hầu hết sắc thái tôn giáo mà trở thành một thứ được mệnh danh là khoa học huyền bí. Ngày nay ở Tây phương cũng như các nước khác, sách báo về khoa chiêm tinh nhiều vô số. Trong các nhật báo cũng thường có trang tử vi có khá nhiều độc giả thường xuyên. Hầu hết những lời tiên đoán đều có tính chất chung chung vô thưởng vô phạt, nhưng những người tin thường có tâm lý suy đoán và áp dụng cho trường hợp mình cho nên nhiều khi thấy đúng. Vấn đề cần nói là chính việc xem bói toán, tử vi hoặc trực tiếp đến với các chiêm tinh gia hoặc gián tiếp qua sách báo, thì người tham dự cũng đều trực tiếp và tự nguyện tham gia vào những sinh hoạt thuộc lãnh vực siêu linh, và đó là một lời mời rõ ràng, một cách mở cửa cho tà linh xâm nhập, tạo đủ mọi loại áp lực trong tâm trí và trong đời sống, khiến cho một ngày kia người đó rơi vào trong xiềng xích của ma quỉ lúc nào không hay. Khởi đầu có thể chỉ là một chút hiếu kỳ muốn biết hậu vận nhưng sau đó có thể là một kết thúc vô cùng bi thảm. Những ai là con cái Chúa mà còn có những mối quan hệ với tử vi, bói toán bất cứ là dưới hình thức nào, cần đến ngay với Chúa, xưng tội, ăn năn và đoạn tuyệt. Chúa sẽ tha thứ và giải cứu, vì chỉ một mình Chúa Cứu Thế Giê-xu mới có đủ quyền lực giải phóng chúng ta khỏi xiềng xích của ma quỉ.

Như trên đã nói, thuật chiêm tinh, bói toán, đoán số tử vi, tựu trung có thể xếp vào hai loại. Loại thứ nhất là bói toán dựa vào khả năng đặc biệt của chiêm tinh gia trong việc giải đoán dựa vào các dấu hiệu hay các vật dùng để bói, ở dưới sự kiểm soát gián tiếp của ma quỉ. Loại thứ hai là hiện tượng bói toán trực tiếp do ma quỉ điều khiển thầy bói cũng là người có cốt đồng để báo trước tương lai. Niềm tin tưởng chung đằng sau hầu hết các hoạt động bói toán đó là có những hữu thể thuộc thế giới thần linh mà con người có thể tiếp xúc được. Những hữu thể thần linh đó có những tri thức giới hạn về cõi tương lai, lại sẵn sàng cung cấp những tri thức đó cho con người trong một số điều kiện nào đó. Vì vậy thuật chiêm tinh, bói toán không ngừng phát triển. Trong thời cổ đại, bói toán của người La-mã rơi vào loại thứ nhất, nghĩa là dựa vào khả năng giải đoán của các thầy thuật số, còn người Hy-lạp thì tùy thuộc vào việc tiếp xúc với tà linh qua các môi giới trung gian, thường là các cốt đồng...

Trong thời đại chúng ta, vì lo lắng cho tương lai, rất nhiều người muốn biết hậu vận. Thuật chiêm tinh, tử vi đẩu số, bói toán... đáp ứng mong ước này. Chính vì thế, đây là thuật được nhiều người tìm đến trong đó có những trường hợp bi thảm như Tiến sĩ Kock từng thuật lại. Một ngày kia, có một phụ nữ đến trạm cảnh sát trình rằng bà ta vừa bắn chết con. Sở dĩ bà hành động như vậy là vì lá số tử vi của bà tiên đoán đứa con mắc bệnh tâm thần của bà sẽ không bao giờ lành mạnh, vì thế bà đã hạ sát con để cho nó khỏi khổ! Người đàn bà này đã bị bắt, bị kết án, trong khi nhà chiêm tinh tiên đoán cho bà như trên vẫn được tự do!

Một thí dụ khác cho thấy người tin và tham gia vào hoạt động bói toán nhiều khi bị đặt dưới áp lực của ma quỉ phải làm thành lời tiên đoán, gần như là một lời nguyền đối với hậu vận của mình. Một doanh nhân trẻ tuổi tin vào bói toán, dựa trên lá số tử vi bảo rằng anh ta sẽ phải đổi nghề ba lần thì mới sống yên ổn. Vì vậy anh đã ghi danh học thêm trong một chủng viện, cuối cùng hoàn tất chương trình thần học và được phong chức mục sư. Ở trong chức vụ được vài năm, người thanh niên này bị một thôi thúc kinh khủng bên trong khiến anh rời bỏ giáo hội, đi làm một công việc khác. Anh cho biết có một thôi thúc bên trong không cưỡng lại được khiến anh phải hành động sao cho những lời tiên tri về hậu vận của mình phải được thực hiện.

Nhiều người khác cho rằng thuật chiêm tinh, bói toán, tử vi... chỉ là các hoạt động lừa dối, mê tín dị đoan, nhưng lại bị thôi thúc thử nghiệm để có thể phanh phui cái sai lạc giả dối của các hoạt động này. Một mục sư có quan niệm như vậy và quyết định trả một số tiền khá lớn để lấy một lá số tử vi, với mục đính sẽ quyết tâm làm cho những lời tiên đoán về hậu vận của ông trong số tử vi sai trật đi để chứng minh rằng tử vi, bói toán chỉ là mê tín dị đoan. Ông chờ đợi đầy tự tin, nhưng rồi lại thấy những lời tiên đoán ấy đã đúng cho đến những chi tiết nhỏ nhặt. Trong nhiều năm, vị mục sư này càng ngày càng thấy lo lắng và cố gắng tìm cách lý giải cho trường hợp của mình. Với thành kiến cho rằng bói toán chỉ là trò bịp bợm và mê tín dị đoan, ông không thể hiểu được tại sao những lời tiên đoán kia lại đúng trong chính trường hợp của mình là một người tin Chúa. Cuối cùng ông phải ăn năn, xin Chúa tha tội đã dính dấp với bói toán, là hoạt động có liên hệ gián tiếp hoặc trực tiếp với tà linh, ma quỉ, rồi tuyên bố cắt đứt mọi dính líu với các hoạt động này. Cuối cùng ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy rằng những lời tiên đoán khác về sau đã không còn đúng nữa. Đây là một trường hợp điển hình cho thấy ma quỉ chính là tác nhân quan trọng trong tất cả các hoạt động chiêm tinh, bói toán.

Chiêm tinh hay bói toán là thuật mang trong chính nó khuynh hướng ma thuật với tất cả những hiệu quả phức tạp trong lãnh vực tà thuật. Những người lệ thuộc vào chiêm tinh, bói toán không lâu sẽ rơi vào tình trạng xáo trộn tâm lý như có những nỗi sợ hãi triền miên trong cuộc sống và những nỗi buồn đến tê dại cả tâm hồn. Mê muội trong chiêm tinh, bói toán cũng làm suy giảm đức tin nơi Chúa, ý thức về ý muốn Chúa bị che mờ, khả năng phán đoán và quyết định bị tê liệt và rồi những dấu hiệu về ảnh hưởng của tà linh và ma quỉ trên đời sống người đó ngày càng trở nên rõ ràng hơn.

Như vậy, khởi đầu những dính dấp đến chiêm tinh, bói toán của một người có thể có nhiều động cơ khác nhau, tuy nhiên điều quan trọng là sau một thời gian liên can đến những hoạt động này, người đó sẽ bị tác động không chỉ về phương diện tâm lý mà bị chính quyền lực của sự tối tăm, của tà linh, của ma quỉ che phủ, ảnh hưởng, điều khiển, khống chế, khiến cho người đó tưởng như không thể thoát ra khỏi số phận đã tiên đoán cho mình, rồi hành động một cách điên rồ như một số các trường hợp nêu trên.

Dù các hình thức chiêm tinh, bói toán ngày nay có thể mang một chiếc áo khác hơn với các hình thức chiêm tinh của cổ Ba-by-luân và cổ Ai Cập, nhưng nguyên tắc chung vẫn giống nhau, đó là dựa vào thời điểm giao hội và vận hành của các thiên thể để ấn định số mệnh con người. Đàng sau tất cả những lời giải đoán này là quyền lực lừa dối của ma quỉ. Tất cả các nạn nhân sẽ bị cuốn hút vào những trường hợp linh ứng để trở thành nô lệ cho một số phận mà thật ra là dành cho ma quỉ. Khuynh hướng tin vào chiêm tinh, bói toán để biết trước hậu vận ngày càng phổ biến ngay cả trong các nước phát triển, nhất là Hoa Kỳ là nước có đến 10,000 chiêm tinh gia chuyên nghiệp, 175,000 người hành nghề bán thời gian. Một công ty chiêm tinh lấy tên là “Viện Nghiên Cứu Mẫu Thời Gian” đã lập trình cho máy điện toán có khả năng cung cấp bản giải đoán tử vi đến 10,000 chữ trong 2 phút.

Giới doanh thương cũng dựa rất nhiều vào chiêm tinh để quyết định công việc đầu tư và làm ăn. Những người khác từ việc mua nhà, đi xa, dựng vợ, gả chồng, cho đến việc tang ma...đều tìm đến “thầy” để định ngày giờ, để dựa vào những lời khuyên đó mà hành động. Chiêm tinh và bói toán đang lan rộng ra nhiều người, nhiều giới đưa con người ra khỏi lòng tôn kính thờ phượng Đức Chúa Trời là chân thần để qui phục ma quỉ, tà linh. Tuy nhiên, một trong những hình thức lừa dối phổ thông hơn hết đó là lập luận cho rằng chiêm tinh, bói toán, tử vi đẩu số... là những ngành “khoa học”. Lập luận này cốt để đánh lừa những người bình thường không thấy được mối liên hệ bí mật, kinh khủng của các hoạt động này với tà linh, ma quỉ. Người dính dấp đến các hoạt động bói toàn cần tỉnh thức ăn năn trở lại với Chúa, xin Chúa tha tội và giải cứu khỏi xiềng xích của bói toán trước khi quá trễ
Về Đầu Trang Go down
good
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: PHẬT GIÁO CÓ TIN RẰNG CÓ LINH HỒN TỒN TẠI HAY KHÔNG   Fri Sep 30, 2011 5:03 pm



24. PHẬT GIÁO CÓ TIN RẰNG CÓ LINH HỒN TỒN TẠI HAY KHÔNG [^]

Không tin. Phật giáo không tin là có một linh hồn vĩnh hằng, bất biến. Nếu tin có linh hồn như vậy, thì đó là "thần ngã ngoại đạo", không phải là người Phật tử chính tín.

Đúng là trong quan niệm của người bình thường, trừ những người theo duy vật luận ra, còn thì ai cũng cho rằng mỗi người đều có một linh hồn vĩnh hằng bất biến, gần đây, ở Âu Mỹ, có lập ra "Linh tri học hội", đối tượng nghiên cứu của Hội là linh hồn. Cơ đốc giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Lão giáo v.v… đều là những tôn giáo ít nhiều tin tưởng có linh hồn, cho rằng người ta làm thiện hay ác, sau khi chết đi, sẽ bị Thượng Đế hay Diêm Vương phán xử, người tốt thì linh hồn lên thiên đường, người xấu thì linh hồn đọa địa ngục.

Ở trong dân gian Trung Quốc, sự mê tín linh hồn có gốc rễ rất sâu bền, lại còn thêm sai lầm to lớn này nữa là người Trung Quốc tin rằng, sau khi người chết linh hồn biến thành quỷ. Linh hồn là quỷ, trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, là cả một mớ mê tín lớn và bùng nhùng khó gỡ ra được. Điều đáng buồn cười là vì quỷ có chút ít thần thông cho nên lại cho rằng linh hồn là một vật tập hợp của "3 hồn 6 phách".

Kỳ thực, quỷ chỉ là một trong 6 loại chúng sinh cũng như người là một trong 6 loại chúng sinh không khác. Sinh làm người, có sống có chết. Sinh làm quỷ, cũng có sống có chết. Nhưng người sinh từ bào thai, còn quỷ là hóa sinh. Huống hồ, người chết rồi vị tất đã làm quỷ. Vấn đề này, sẽ được bàn rõ trong một tiết khác.

Đối với linh hồn, ở Trung Quốc có rất nhiều truyền thuyết, hoặc cho rằng, trong việc sống chết của người, linh hồn có một tác dụng bắc cầu. Linh hồn đầu thai là sinh, linh hồn tách rời thân xác là chết, xem quan hệ giữa linh hồn và thân xác giống quan hệ giữa chủ hộ và nhà cửa. Nhà cũ, hư nát thì dọn đến nhà mới, nhà mới thay nhà cũ, thay đi thay lại, chủ hộ đi đi lại lại nhưng vẫn vĩnh hằng bất biến. Tức là nói con người là linh hồn, đắp thêm cái áo thân xác. Thân xác có thể thay đổi, còn linh hồn là bất biến, là chủ thể trong dòng lưu chuyển sinh tử.

Trên sự thực, Phật giáo không công nhận những quan niệm về linh hồn như vậy, vì những quan niệm đó không thể đứng vững với thuyết duyên sinh, duyên diệt của đạo Phật. Trên quan điểm sinh diệt vô thường, Phật giáo xem tất cả mọi sự vật đều sinh diệt vô thường. Trong cả hai thế giới vật chất và tinh thần, đều sinh diệt vô thường. Dùng mắt thịt mà nhìn sự vật, thì đôi khi nhìn thấy có sự vật không biến đổi, nhưng nên dùng dụng cụ khoa học tinh vi để nhìn, thì thấy không có sự vật nào là không biến đổi trong từng giây phút một. Kinh Dịch nói "sinh, sinh", nhưng kỳ thực, ở đàng sau "sinh, sinh" là "tử, tử", tức là biến biến, hóa hóa.

Hiện tượng vật lý trong thế giới vật chất, là sinh diệt không ngừng. Hiện tượng tâm lý tinh thần lại càng dễ quan sát. Là bởi vì, hiện tượng tâm lý nảy sinh là do tinh thần biến động. Hiện tượng tâm lý biến động, dẫn tới hành vi thiện, ác. Hành vi thiện ác ảnh hưởng trở lại khuynh hướng tâm lý, tiền đồ của chúng ta, tương lai của chúng ta được quy định bởi tác dụng tuần hoàn đó của tâm lý ảnh hưởng tới hành vi, và hành vi ảnh hưởng trở lại tâm lý.

Thử hỏi : Làm sao có thể có linh hồn bất biến, linh hồn vĩnh hằng ? Dường như là không thể có được, không những người chết rồi, không có linh hồn cố định, mà ngay khi còn sống, thân tâm chúng ta đều biến đổi không ngừng trong từng phút giây một. Thế nhưng, Phật giáo đã không tin có linh hồn, thì bản thể của việc luân hồi trong sáu cõi và siêu phàm nhập thánh là gì ? Hay nói cách khác, cái gì "luân hồi", cái gì "siêu phàm, nhập thánh" ?

Đây chính là điểm ưu việt đặc thù của Phật giáo, vừa không xem trọng giá trị vĩnh cửu của tự ngã, lại vừa khẳng định giá trị hướng thượng của tự tính.

Phật giáo chủ trương thuyết "nhân duyên sinh" và "tự tính vốn là không" (tự tính bản không).

Phật giáo xem vật chất là nhân duyên sinh, xem tinh thần cũng là nhân duyên sinh. Nhân duyên tụ hội gọi là sinh, nhân duyên ly tán, gọi là diệt. Lớn như một tinh cầu, một thiên thể cho đến cả thế giới vũ trụ, nhỏ như một sợi cỏ, một hạt bụi, một nguyên tử… không có một sự vật nào là không do nội nhân, ngoại duyên hội tụ mà tồn tại.

Nếu loại bỏ nhân và duyên ra, không có một sự vật nào có thể tồn tại được. Vì vậy, nếu xét trên căn bản, thì không có một sự vật nào hết. Về vấn đề này, các nhà khoa học vật lý và hóa học, có thể cung cấp cho chúng ta câu trả lời chính xác và chính diện.

Còn tinh thần là gì ? Phật giáo tuy bác thuyết linh hồn, nhưng không phải là theo duy vật luận. Cái gọi là tinh thần thì Phật giáo gọi chúng bằng danh từ "thức". Phật giáo Tiểu thừa chỉ nói sáu thức, và lấy thức thứ 6 (đệ lục thức) làm chủ thể của sinh mạng. Phật giáo Đại thừa nói thêm hai thức nữa, tổng cộng có tám thức, và lấy thức thứ tám (đệ bát thức) làm chủ thể của sinh mạng. Ở đây, chỉ giới thiệu thuyết tám thức của Đại thừa.

Trong 8 thức của Đại thừa, thì sáu thức đầu giống như sáu thức của Tiểu thừa, và phân tích sâu hơn công năng của thức thứ sáu, nhận ra thêm thức thứ bảy và thức thứ tám.

Trên thực tế, chủ thể của 8 thức chỉ có một, nhưng do phân tích công năng mà chia thành tám. Làm ác, làm thiện là bảy thức đầu, và đem các nhân thiện, ác đó ký gửi ở thức thứ tám. Thức thứ tám là cái kho tàng chấp chứa tất cả hạt giống của nghiệp, tất cả nghiệp nhân. Người tổng quản của kho tàng là thức thứ bảy. Lấy của ra, đưa của vào kho là thức thứ 6, còn 5 thức đầu là tạo nghiệp.

Như vậy công năng của thức thứ tám là tàng trữ, nhưng không giống như ông Thần tài giữ của, chỉ nhập mà không xuất kho, ở kho tàng thức thứ tám, tình hình xuất và nhập kho nối tiếp không ngừng, nhập kho là các hành vi ảnh hưởng đến tâm lý, và để lại dấu ấn trong thức thứ tám gọi là nghiệp nhân hay chủng tử. Còn xuất kho là tâm lý dẫn tới hành vi tạo nghiệp hay cảm thụ, gọi là nghiệp quả hay hiện hành. Chủng tử thành hiện hành, đó là xuất. Hiện hành thành chủng tử đó là nhập. Trong một đời, tình hình là như vậy. Trong 2, 3 đời hay là vô số đời liên tiếp, tình hình cũng là như vậy. Tất cả mọi diễn biến nhân quả trong đời hiện tại cũng như trong vô số đời quá khứ và đời vị lai, tình hình cũng đều như vậy, đều không ra ngoài quy luật quan hệ giữa chủng tử và hiện hành. Do đó mà có tinh hình sinh tử tương tục, sinh mạng nối tiếp không ngắt đoạn.

Do quan hệ xuất nhập của chủng tử và hiện hành, tiến hành thường xuyên không ngắt đoạn như vậy, cho nên bản chất của thức thứ tám cũng là thường xuyên biến động không ngừng. Không những thức thứ tám của đời này, so với đời trước và đời sau là biến động không ngừng mà từ một niệm trước đến niệm sau, đã có biến đổi rồi. Vì tình hình của thức thứ tám là niệm niệm sinh diệt, niệm niệm biến đổi, cho nên chúng ta mới luân hồi sinh tử và đồng thời có khả năng thoát ly sinh tử. Thức thứ tám tồn tại chính là nghiệp nhân và nghiệp quả liên tục tồn tại và biến động. Ngoài sự biến động liên tục của dây chuyền nghiệp nhân nghiệp quả này, không thể tìm đâu ra thức thứ tám ! Cũng như dòng nước chảy, là do nước chảy mà có, không thể tìm đâu ra cái gọi là dòng nước chảy, ở ngoài nước ! Mục đích giải thoát của đạo Phật là cắt đứt dòng chảy sinh tử nhân quả liên tục đó. Khi tác dụng của thức thứ tám không còn nữa, thức thứ tám không còn chấp chứa gì nữa, cũng không còn hiện hành gì nữa, thì thành tựu được "tính không", thức (phiền não) chuyển thành trí (thanh tịnh), không còn bị sinh tử chi phối nữa, và trở thành tự do trong sinh tử.

Có thể thấy thức thứ tám không giống như linh hồn vĩnh hằng. Nếu tin có linh hồn vĩnh hằng, thì sẽ mất khả năng siêu phàm, nhập Thánh, giải thoát khỏi sinh tử. Phật giáo trên quan niệm thì phủ định linh hồn, trên mục đích thì phủ định thức thứ tám. Chỉ có phủ định thức thứ tám như là sự giả hiện của vô minh phiền não tương tục thì mới có thể được triệt để giải thoát. Nhưng phủ định thức thứ tám không có nghĩa là không có gì hết nữa, mà là còn trí tuệ lặng chiếu, siêu việt hữu và vô, không còn có vô minh phiền não bức nhiễu nữa.


--------------------------------------------------------------------------------

25. PHẬT GIÁO CÓ SÙNG BÁI QUỶ THẦN KHÔNG [^]

Rất rõ ràng, một Phật tử chính tín chỉ sùng bái Phật, Pháp, Tăng, tức là Tam Bảo, tuyệt đối không sùng bái quỷ thần. Thế nhưng, Phật giáo chính tín không phủ định sự tồn tại của quỷ thần. Bởi vì quỷ và thần thuộc 2 cõi trong 6 cõi sống của chúng sinh nằm trong vòng sinh tử luân hồi. Do đó, thần của Phật giáo không phải là Thượng Đế của tôn giáo thần quyền, quỷ mà kinh Phật nói cũng không phải là ma quỷ của tôn giáo thần quyền. Thần mà Phật giáo nói cũng là chúng sinh ở cõi phàm. Ma của Phật giáo nói là chúng sinh ở cõi Trời thứ sáu của Dục giới. Ma của Phật giáo đúng là ma. Quỷ của Phật giáo đúng là quỷ. Ma mà sách Phật nói có bốn loại : Thiên ma, ma ngũ uẩn, ma phiền não, ma chết. Trừ thiên ma ra, còn ba loại ma kia đều phát xuất từ sinh lý và tâm lý của con người.

Thần mà Phật giáo nói, thông thường chiếm vị trí trung gian giữa loài Trời và loài quỷ. Quỷ có phúc đức lớn gọi là thần. Tùy tòng đi theo các loài Trời cũng thường thường là thần. Quỷ có các loài : Đa tài quỷ, thiểu tài quỷ, quỷ đói, đa tài đại phúc quỷ (1). Các loại quỷ này, tuy ở cõi quỷ nhưng lại được hưởng phúc đức của loài Trời. Các thần được dân gian sùng bái, hơn nữa nếu là loài quỷ có phúc đức lớn. Thần thì có thiên thần, không thần (thần ở trong hư không), địa thần. Cũng có thể phân loại : Thiên thần, súc thần (thần súc vật), quỷ thần, các loại thần do dân gian sùng bái như thần rắn, thần bò, thần linh thảo mộc, thần núi, thần sông v.v…, phần lớn đều là địa thần, súc thần hay quỷ thần. Kinh Phật thường nói tới Bát bộ quỷ thần, tức là thiên thần, long thần (thần loài rồng), thần Dạ Xoa (gọi là phi không quỷ - quỷ bay trên không), Càn thát bà (thần nhạc trời), A Tu La, Ca Lâu La (chim cánh vàng), Khẩn na la (chim có giọng hót hay), Ma Hầu La Già (con trăn thần). Trong Bát bộ quỷ thần, có thần thiện, có thần ác. Thông thường loài thần thiện được Phật giáo cảm hóa và trở thành thần hộ pháp. Vì vậy, Phật tử chính tín không sùng bái quỷ thần, nhưng giữ thái độ kính lễ đúng mức. Một Phật tử chính tín mà sùng bái quỷ thần thì có tội về nguyên tắc. Các thiện thần đều tự động gia hộ những người quy y Tam Bảo, cho nên họ nhất định không chịu tiếp nhận sự sùng bái của quỷ thần của Phật tử đã quy y Tam Bảo. Chính vì có sự hộ trì của thiện thần, mà ác thần, ác quỷ không dám xâm phạm đến những người đã quy y Tam Bảo.

______

(1) Tên các loài quỷ. Tài là tiền tài.


--------------------------------------------------------------------------------

26. PHẬT TỬ CÓ TIN CÔNG NĂNG CỦA SỰ CẦU ĐẢO HAY KHÔNG [^]

Đúng là Phật giáo có tin ở công năng của cầu đảo. Về mặt trình độ và tỷ lệ linh nghiệm thì cầu đảo của Phật giáo hơn xa cầu đảo của các tôn giáo khác.

Nguyên lý của cầu đảo là sức mạnh tâm lý của người cầu đảo, là sức mạnh của một trạng thái tâm lý siêu tự nhiên, định tính, thống nhất, đạt tới được nhờ có một niềm tin mạnh mẽ, nhờ đó mà thông cảm được với nguyện lực đại bi của đối tượng cầu đảo (chư Phật, Bồ Tát).

Sự giao tiếp giữa định lực của bản thân với nguyện lực của chư Phật, Bồ Tát, tạo thành một loại thần lực không thể nghĩ bàn. Nó chính là linh nghiệm và kinh nghiệm của sự cầu đảo. Ở các vùng nước Trung Hoa theo Phật giáo Đại thừa, sự cầu đảo Bồ Tát Quan Âm có nhiều linh nghiệm rõ ràng. Hơn nữa, một Phật tử thuần thành, vốn thường xuyên được thiện thần ủng hộ, cho nên dù không cầu đảo, mà gặp biến cố, cũng thường không mắc nạn, việc dữ chuyển thành việc lành. Vì công năng của cầu đảo là ở niềm tin kiên định, cho nên những Phật tử có niềm tin kiên định, cũng không khác gì thường xuyên cầu đảo và được hưởng công năng của sự cầu đảo.

Phật giáo tuy tin tưởng sâu sắc ở công năng của cầu đảo, nhưng không cường điệu tính vạn năng của cầu đảo. Thí dụ, Phật tử bị bệnh, cầu an là cần thiết, nếu người bệnh có lòng tự tin, lại biết cầu xin khẩn thiết, thì có thể có cảm ứng và bệnh giảm. Vì vậy, thuyết pháp nghe pháp cũng có thể trị bệnh (Tăng A Hàm quyển 6 và Tạp A Hàm quyển 5 v.v…), nếu bệnh nhân thiếu lòng tự tin, lại thiếu kinh nghiệm về cầu đảo, thì nên mời thầy thuốc đến xem bệnh, chữa bệnh. Cho nên, khi đức Phật Thích Ca còn lại thế, Tỷ khiêu mắc bệnh, thông thường là dùng thuốc chữa bệnh. (4)

Vì vậy, nói chung, người ta tin rằng Phật giáo chủ yếu là để chữa tâm bệnh, bệnh sinh tử của chúng sinh. Còn y học là để chữa thân bệnh. Khi mắc bệnh, cầu an là cần thiết, xem bệnh chữa bệnh cũng là cần thiết. Đó là kiến giải của Phật giáo chính tín.


--------------------------------------------------------------------------------

27. PHẬT GIÁO CÓ CHỦ TRƯƠNG ĐỐT VÀNG MÃ HAY KHÔNG [^]

Không ! Phật giáo không có một quy định mê tín như vậy. Người Trung Quốc có tập tục đốt tiền giấy, ngay từ sau đời nhà Hán. Bác sĩ Vương Dư đời Đường viết rằng : "Từ đời nhà Hán, có tục chôn tiền, và đời sau lấy giấy thay tiền…". Như vậy, từ đời nhà Hán về sau, có tập tục chôn tiền cùng với người chết. Vì ở Trung Quốc, từ thời xưa, có niềm tin là người chết biến thành quỷ. Sách vở cũng viết : "Người chết biến thành quỷ". Thế giới của quỷ cũng giống như thế giới của người, chỉ có âm dương khác nhau mà thôi. Quỷ cũng phải có tiền để sống, do đó mà chôn tiền. Về sau, người ta thấy rằng chôn tiền thật là lãng phí, bèn lấy giấy cắt thành tiền giấy, rồi đốt đi để cho quỷ dùng. Ở thời cận đại, tiền giấy lưu thông, có cả tiền của "Ngân hàng dưới âm phủ" được lạm phát rộng rãi !.

Lối mê tín hạ đẳng này, bộ tộc nguyên thủy nào cũng có ít nhiều. Người ta cùng chôn với người chết đồ vật, tiền tài, châu báu, vải vóc, thậm chí cả đến người sống và súc vật sống nữa.

Vì sao lại đốt tiền giấy ? Điều này có liên quan đến một loại tôn giáo gọi là Hỏa giáo. Hỏa giáo tin rằng Thần Hỏa có khả năng đưa vật bị đốt đến cho quỷ thần dùng. Trong Ấn Độ giáo thờ Hỏa thần Agui (A Kỳ Tu) có công năng đem đồ tế bị đốt đến cho quỷ thần.

Trong dân gian Trung Quốc, người ta không những đốt tiền giấy, bạc giấy, mà còn làm cả nhà cửa, gia cụ bằng giấy, thậm chí làm cả tàu bay, thuyền bè bằng giấy để đốt vàng mã, cúng người chết.

Sự thực, Phật giáo không cho rằng, người chết đều biến thành quỷ. Cõi quỷ chỉ là một trong sáu cõi sống của chúng sinh. Phật giáo lại càng không tin quỷ có thể dùng được tiền giấy và các dụng cụ bằng giấy bị đốt ! Phật giáo chỉ tin rằng, con cái thân thuộc của người chết có thể làm các việc như bố thí, cúng Phật, trai tăng, rồi hồi hướng công đức ấy cho vong linh, và siêu độ vong linh. Còn tất cả mọi việc làm khác đều chỉ là mê tín vô ích mà thôi. Phật giáo không những không chủ trương mai táng đồ vật, mà còn chủ trương không nên dùng quan tài đắt tiền, không nên để cho người chết mặc quần áo đắt tiền, không nên lãng trí quá nhiều công và của. Trái lại, nên mặc cho người chết quần áo bình thường, sạch sẽ, còn quần áo tốt đẹp và mới thì nên đem bố thí cho kẻ nghèo, nếu có tiền thì nên đem cúng dường Tam Bảo và bố thí cho người nghèo, chỉ có làm như vậy, vong linh người chết mới thật sự được lợi ích; còn nếu đem các đồ vật quý cùng mai táng với người chết, thì đó là hành vi ngu si nhất, không xứng đáng là một Phật tử chính tín.

Đáng tiếc là hiện nay, đa số tăng ni cũng không hiểu đạo lý ấy, thậm chí Phật tử ở Trung Hoa lục địa sang Đài Loan còn phát minh ra loại tiền giấy đặc biệt gọi là "tiền giấy vãng sinh", tức là trên một tờ giấy màu vàng, dùng mực đỏ in bài chú vãng sinh bằng chữ Phạn. Thực ra, công dụng tụng chú và tác dụng đốt tiền giấy là 2 chuyện căn bản khác nhau. Nếu hiểu đúng theo kinh Phật, thì không được đốt kinh và chú, nếu đốt thì có tội.

Hơn nữa, các tăng ni tụng kinh, lễ sám, cầu đảo v.v… đều có viết sớ. Đọc sớ xong rồi đốt sớ đi. Đó là bắt chước đạo gia đọc sớ cho quỷ thần nghe, đó là mê tín, hoàn toàn không có căn cứ gì trong giáo lý đạo Phật cả. Trong mọi việc, Phật giáo đều chủ trương lấy tâm thành kính để có cảm ứng. Đã đạt tới chỗ tâm thành và cảm ứng rồi, là có linh nghiệm, chứ không cần phải đốt lá sớ. Bằng không thì dù có đốt đến trăm ngàn lá sớ, cũng chẳng có ích gì.


--------------------------------------------------------------------------------

28. PHẬT GIÁO CÓ TIN ĐỊNH LUẬT NHÂN QUẢ LÀ CHÍNH XÁC? [^]

Đúng như vậy, Phật giáo tin tưởng định luật nhân quả là chính xác, cũng như mọi người đều tin, đã ăn thì được no vậy.

Người ta hoài nghi tính chính xác của luật nhân quả là vì người ta nhìn theo góc độ một đời người cho nên thấy sự báo ứng thiện ác là không công bằng; có người sống lành lại bị khổ; không những không gặp điều may mắn mà lại còn chết khổ ! Có người ăn hối lộ, làm trái luật pháp, làm chuyện rất tầm bậy, nhưng vẫn sống tự do ngoài vòng pháp luật, được cả phúc, cả thọ !

Kỳ thực, luật nhân quả tác động thông suốt cả 3 đời. Con người, ngoài đời sống hiện tại, đã từng sống những đời sống quá khứ nhiều vô lượng, và sẽ sống những đời sống vị lai nhiều vô lượng. Một đời sống hiện tại, đem so với vô số đời sống quá khứ, và vô số đời sống vị lai, thì thật là bé nhỏ, ngắn ngủi không đáng kể. Định luật nhân quả quán xuyến cả ba đời. Việc thụ báo lần lượt sẽ diễn biến theo thứ tự. Nghiệp lực nhỏ lớn, nhẹ nặng khác nhau, quyết định thứ tự và mức độ thụ báo khác nhau. Đời này, làm thiện làm ác, vị tất phải chịu báo trong đời này. Đời này, chịu khổ được vui, vị tất đã do nghiệp nhân tạo ra trong đời này. Hơn phân nửa chuyện xảy ra trong đời này là quả báo của nghiệp nhân, tạo ra ở đời sống trước. Phần lớn việc làm trong đời này, phải chờ tới đời sau mới có quả báo. Nếu nhìn suốt cả ba đời thì sẽ không còn thắc mắc gì nữa đối với luật nhân quả !

Hơn nữa, luật nhân quả của đạo Phật không giống như túc mệnh luận hay định mệnh luận. Phật giáo tin rằng, chỉ có những nghiệp lực cực nặng mới không thể chuyển biến được, mới là định nghiệp, còn thì người ta có thể dựa vào sự nỗ lực về sau của mình để cải biến nghiệp nhân quá khứ. Thí dụ, đời trước tạo ra nghiệp nhân của sự nghèo khổ. Đời này, đúng là gặp cảnh túng quẫn, thế nhưng sinh ra trong cảnh nghèo khổ không phải là quan trọng. Nếu biết cố gắng thì hoàn cảnh nghèo khổ sẽ được cải thiện. Như vậy là kết hợp nghiệp nhân hiện tạo, với nghiệp nhân tạo ra trong đời quá khứ, cho nên mới có hoàn cảnh ngày nay. Vì vậy, luật nhân quả của đạo Phật không phải là túc mệnh luận, cũng không phải là định mệnh luận, mà là "nỗ lực luận". Nếu Phật giáo rơi vào túc mệnh luận hay định mệnh luận, thì thuyết chúng sinh thành Phật không thể nào đứng vững được. Nếu mệnh vận đã do đời sống quá khứ sắp xếp an bài cả rồi, thì việc tu thiện ở đời này sẽ là uổng công hay sao ?

Có thể thấy, luật nhân quả của đạo Phật cũng không tách rời lý nhân duyên sinh. Từ nghiệp nhân của đời quá khứ cho đến quả báo hiện tại, ở khâu trung gian còn phải thêm bao nhiêu ngoại duyên nữa, thì nghiệp quả mới thành sự thực được. Những ngoại duyên đó là sự nỗ lực hay là lười biếng. Người đương sống làm thiện hay ác cũng như một chén nước đường vốn có vị ngọt, nhưng nếu lại bỏ thêm chanh hay cà phê vào đấy thì vị ngọt của chén nước sẽ thay đổi.

Nói chung luật nhân quả của nhà Phật quán thông và liên kết cả ba đời hiện tại, quá khứ và vị lai. Đời này, tiếp thu nghiệp nhân của đời quá khứ. Hành vi đời này, sẽ là nghiệp nhân của đời sau, và cũng có thể gia nhập vào nghiệp nhân của đời trước, tạo thành nghiệp quả của đời này.

Định luật nhân quả, nghe ra thì giản đơn, thế nhưng giảng ra thì không giản đơn. Phật giáo là một tôn giáo xem ra thì tựa hồ như giản đơn, nhưng thực tế thì không giản đơn.


--------------------------------------------------------------------------------

29. TẤT CẢ PHẬT TỬ ĐỀU NGUYỆN VÃNG SINH VỀ THẾ GIỚI CỰC LẠC HAY KHÔNG [^]

Đã là Phật tử chính tín, thì không lấy việc sinh lên các cõi Trời làm mục đích cứu kính, bởi vì ngoại trừ Tịnh cư thiên và nội viện Đâu suất của Ngài Di Lặc ra, các cõi Trời vẫn nằm trong phạm vi luân hồi sinh tử.

Đã là Phật tử chính tín thì đều muốn giải thoát khỏi vòng sinh tử. Đấy là điều hiển nhiên, bởi vì chỉ có giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi mới đạt tới được cảnh giới an lạc vĩnh hằng.

Thế giới Cực lạc là cõi Phật hình thành trên nguyện lực của Phật A Di Đà; nhưng trong pháp giới 10 phương có các cõi Tịnh độ của nhiều đức Phật. Thế giới Cực lạc ở phươngg Tây chỉ là một trong vô số lượng cõi Phật. Trong Phật tử cũng có những người không muốn vãng sinh về cõi Cực lạc mà lại nguyện vãng sinh về các thế giới khác. Thí dụ : Đại sư Đạo Ân đời Đông Tấn, hai đại sư Huyền Trang và Khuy Cơ đời nhà Đường và Đại sư Thái Hư trong thời cận đại đều nguyện vãng sinh lên cõi Tịnh độ của Phật Di Lặc ở nội viện Đâu Suất. Lại có những Phật tử có lòng bi nguyện lớn và niềm tin vững mạnh thì không nguyện vãng sinh ở các thế giới khác mà lại nguyện đời đời sinh ở cõi người để làm công việc độ sinh cho loài người.

Còn Phật tử của các xứ Phật giáo nam truyền (Thượng tọa bộ) thì căn bản không biết đến sự tồn tại của thế giới Cực lạc. Hy vọng cao nhất của giới xuất gia ở các xứ đó là ngay trong đời hiện tại, chứng quả A-La-Hán, giải thoát khỏi sinh tử. Nếu đời này không thành, thì họ chờ đợi được tu chứng trong các đời sau kế tiếp. Họ không biết có thế giới Cực lạc và cũng không tin có thế giới Cực lạc. Nếu Phật giáo đại thừa nói với họ rằng có thế giới Cực lạc, thì họ không tin, hay là nếu có tin thì họ cho rằng, thế giới Cực lạc là ở trên các cõi Trời. (Xem Hải Triều Âm quyển 45 số tháng 4, trang 211).

Bất quá, đối với những Phật tử theo Phật giáo Đại thừa thuộc hệ duy tâm bình thường thì sự tồn tại của thế giới Cực lạc vốn là niềm tin sâu sắc; do sức bi nguyện của Phật A-Di-Đà, cho nên trong ao sen của thế giới Cực lạc có đến chín phẩm. Ngay những người phạm tội 5 nghịch 10 ác mà khi lâm chung, một lòng niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà, niệm 10 niệm không dứt tiếng, vẫn có thể mang theo nghiệp vãng sinh trong hoa sen ở cấp thấp nhất trong 9 phẩm. Ở đấy, trải qua 12 đại kiếp, hoa sen sẽ nở, được nghe 2 Bồ Tát Quan Âm và Thế Chí thuyết pháp, giảng giải đạo lý thực tướng của các pháp và duyên sinh, giác ngộ thực tướng của các pháp, chứng ngộ được thực tướng của các pháp, tức là thế tính vốn không của các pháp và các pháp đều là duyên sinh, thì họ sẽ phá bỏ được các quan niệm về thiện, ác, cởi bỏ được mọi thiện nghiệp ác nghiệp. Đối với những người đó, mọi nghiệp chướng đều tiêu trừ, nghiệp lực không còn chi phối họ nữa; họ không còn chìm đắm trong sinh tử nữa. Tuy nhiên, những người ấy có thể phát ra lời bi nguyện lớn lao, trở lại cõi người để hoằng hóa độ sinh, hành Bồ Tát đạo, tuy rằng vẫn chủ động đối với sinh tử chứ không bị sinh tử chi phối. Do vậy, có thể thấy tín ngưỡng Phật A Di Đà là loại tín ngưỡng an ổn lớn nhất, an toàn nhất, đáng tin cậy nhất, đó cũng là niềm an ủi lớn nhất, ân đức lớn nhất đối với nhiều người thiếu tinh thần tự chủ.

Thế nhưng, như kinh "A Di Đà" nói người có ít thiện căn, ít phúc đức không thể vãng sinh thế giới Cực lạc được. Nguyện lực của Phật A Di Đà tuy lớn lao, vẫn phải dựa vào nếp sống hằng ngày tu nhân tích đức của Phật tử. Nếu không thì đến lúc lâm chung, rất có thể là đương sự không còn sức để niệm Phật được nữa. Lúc ấy, dù Phật A Di Đà có muốn ra tay cứu độ, cũng không làm gì được.


--------------------------------------------------------------------------------

30. PHẬT GIÁO CÓ COI TRỌNG THẦN TÍCH HAY KHÔNG ? [^]

Trong Phật giáo, thần tích tức là thần thông.

Phật giáo công nhận thần thông là có thật, và cũng thừa nhận công dụng của thần thông. Hơn nữa, cảnh giới thần thông của Phật giáo cao siêu hơn nhiều, so với các tôn giáo khác.

Phật giáo tin rằng tất cả quỷ thần, do quả báo của chúng mà có thần thông. Các tiên nhân phàm phu (tuy là tiên nhưng chưa thoát khỏi sinh tử, cho nên gọi là tiên phàm phu) cũng có thể nhờ tu định mà có thần thông. Trong đạo Gia Tô khi thành tâm cầu nguyện, tâm lực hoàn toàn tập trung thống nhất, cũng là một loại thiền định. Tuy nhiên, phàm phu và quỷ thần, chỉ có thể thành tựu được năm thần thông (1-5) ở mức độ nhiều ít, sâu cạn khác nhau. Chỉ có các bậc Thánh trong Phật giáo, đã giải thoát khỏi sinh tử, mới thành tựu được thêm một thần thông nữa, gọi là lậu tận thông, tức là có đầy đủ sáu thần thông.

Thế nhưng, Phật giáo không cho rằng thần thông là vạn năng. Việc sống chết, họa phúc của chúng sinh là do quy luật nhân quả chi phối, do nghiệp lực thiện, ác quyết định, tự mình làm tự mình chịu. Công dụng thần thông tuy rất lớn, nhưng nó không thể phá được định luật nhân quả. Đối với loại nghiệp báo trọng đại, có tính quyết định thì dù là sức thần thông của Phật cũng không xoay chuyển được thế cục, nếu không thì sẽ không còn có định luật nhân quả nữa. Vì vậy, khi đức Phật còn tại thế, tuy có nhiều lần ngài có thể hiện thần thông, nhưng ngài không làm cách tùy tiện. Trong các vị A La Hán đệ tử lớn của Phật, cũng có nhiều vị có thần thông, nhưng Phật không cho phép hiện thần thông trước người thế tục [Xem Căn bổn tạp sự quyển II và luận Nghiếp quyển 9]. Vì Phật biết rằng, thần thông tuy có thể làm cho người ta phấn chấn rầm rộ một thời gian, nhưng nếu sử dụng không khéo thì có thể gây ra quả báo xấu ngược lại. (1

(1) Xem thêm "Phật học tri tân". Bài "Cảnh giới và công dụng của thần thông" của Pháp sư Thánh Nghiêm (738-824)


--------------------------------------------------------------------------------

31. PHẬT GIÁO CÓ SÙNG BÁI TRANH TƯỢNG KHÔNG ? [^]

Có. Phật giáo với thái độ thành kính, có sùng bái tượng Phật và Bồ Tát. Nhưng Phật giáo chính tín không bao giờ xem tranh tượng Phật, Bồ Tát chính là Phật, Bồ Tát bản thân [Tăng nhất A Hàm quyển 29 viết rằng quán không là lễ Phật].

Phật giáo chính tín cho rằng, sùng bái tranh tượng Phật, Bồ Tát là có mục đích dựa vào sự sùng bái tranh tượng đó, dùng sức mạnh của tín ngưỡng, cảm thông với bi nguyện của Phật, Bồ Tát. Cũng như người xạ thủ ở trường bắn, khi ngắm bắn, hồng tâm của bia, phải ngắm hồng tâm ngang qua cái thước ngắm và đầu ruồi để bắn trúng đích. Tất nhiên, người bắn giỏi không cần đến thước ngắm và đầu ruồi. Cũng như vậy một Phật tử đã hiểu ngộ Phật Pháp, thì thấy bản thân Phật tràn đầy hư không và pháp giới và không cần dùng tranh tượng Phật làm môi giới cảm thông và cảm ứng nữa. Vì vậy mà có sự tích tổ sư Đan Hà của Thiền Tông đời Đường. Chẻ tượng Phật làm củi để sưởi (Xem Ngũ đăng hội nguyện). Thế nhưng một Phật tử chưa chứng ngộ, há lại có thể có thái độ bất kính đối với tượng Phật và Bồ Tát hay sao ? Có khác nào một công dân há lại có thái độ bất kính đối với tranh tượng của nguyên thủ quốc gia vậy.


--------------------------------------------------------------------------------

32. PHẬT TỬ CÓ PHẢN ĐỐI TỰ SÁT KHÔNG ? [^]

Có phản đối. Trong giới luật, có quy định rõ. Phật tử không được tự sát, nếu tự sát thì có tội [Xem Tứ phần luật và luận Nhiếp, quyển 2].

Ở đây, nói tự sát là vì chán cuộc sống hiện tại, mà lầm nghĩ rằng, sau khi tự sát sẽ được giải thoát.

Người Phật tử tin ở định luật nhân quả, nếu không chứng ngộ thực tướng của các pháp, nếu không lấy công phu tu trì để thoát khỏi sinh tử thì tự sát không có tác dụng gì hết. Vì nếu chưa hết nghiệp báo, thì dù có tự sát, cũng phải chịu một kỳ sinh tử tiếp theo. Cũng như một con nợ, để tránh mặt chủ nợ đòi nợ, bèn dời nhà từ nơi A đến nơi B. Nhưng sớm hay muộn, chủ nợ cũng sẽ tìm ra nơi ở mới của con nợ, để tiếp tục đòi nợ. Vì vậy, Phật tử phản đối tự sát, Phật giáo động viên mọi người hãy tận dụng thời gian trong một đời Người để nỗ lực tu thiện, tích đức nhằm cải thiện vận mệnh hiện tại và tương lai của mình.

Thế nhưng, Phật giáo không phải là một tôn giáo khuyến khích vị kỷ. Người Phật tử, vì sự nghiệp độ sinh, trong trường hợp cần thiết cũng sẵn sàng xả thân. Để bảo vệ tin ngưỡng thần thánh của mình, có những Phật tử đã tuẫn tiết. Một người hành Bồ Tát đạo chân chính, có thể xả bỏ cả tay chân, thịt, mắt cho đến cái đầu của mình.

Cũng như đức Thích Ca Thế Tôn, trong các kiếp sống trước của Ngài, trong thời kỳ hành đạo Bồ Tát, Ngài đã nhiều lần xả thân không tiếc sinh mạng. Như trong kinh Pháp Hoa nói : "Không có một bụi trần nào nhỏ như hạt cải, không phải là nơi Bồ Tát xả bỏ thân mạng". Kinh Tạp A Hàm quyển 39 và 47 kể truyện có ba vị A La Hán tự sát mà đức Phật cũng tán thành.
Về Đầu Trang Go down
goody
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Hiện tượng nhập vong dưới ánh mặt trời    Sun Oct 09, 2011 11:00 pm

Hiện tượng nhập vong dưới ánh mặt trời

Thứ bảy 08/10/2011 22:55
ANTĐ - Năm 2008 tại số 1 phố Đông Tác (Hà Nội), lần đầu tiên các nhà khoa học nhiều ngành được mời chứng kiến hiện tượng áp vong. Linh hồn người chết nhập vào người sống nói chuyện mình. Hiện tượng đó diễn ra trước mắt các nhà khoa học đã tạo ra một cơn sốt thực sự trong các nhà khoa học lúc bấy giờ.

Đã có hiện tượng vong nhập ở trung tâm, dưới sự mời gọi của nhà ngoại cảm, lại có hiện tượng tự nhiên bị vong nhập. Có hiện tượng mấy em học sinh THCS bỗng bị vong nhập chỉ mộ liệt sĩ ngay tại sân trường, có người vong nhập xong không đi, suốt ngày điên loạn, mãi đến khi vào viện tâm thần vong mới đi. Đã có người chết vì vong nhập. Nhưng đáng lo là trong số hàng vạn mộ liệt sĩ do các trung tâm ngoại cảm tìm thấy có bao nhiêu hàng thật và bao nhiêu hàng giả? Có bao nhiêu nhà mang tổ mối, đất bùn về thờ cúng.... Có nhà ngoại cảm nổi tiếng đã tuyên bố một câu xanh rờn: Nếu thử AND tất cả các mộ mà các nhà ngoại cảm tìm được, chỉ cần chính xác đến 3% tôi sẽ bán toàn bộ gia sản để đền bù!

Chuyện tìm mộ liệt sĩ là chuyện lớn. Cho đến nay còn có 650 ngàn liệt sĩ và bộ đội mất tích chưa tìm thấy mộ. Việc các nhà ngoại cảm tìm mộ liệt sĩ nếu chính xác sẽ được động viên, giúp đỡ. Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội đã trả lời như vậy. Nhưng theo chúng tôi tất cả các mộ liệt sĩ do các nhà ngoại cảm tìm thấy cần phải thử AND sẽ xác định chính xác hơn.

Gọi hồn - vong nhập tâm linh và khoa học

Gọi hồn, vong nhập là hiện tượng linh hồn người khác, có thể là thánh thần, cũng có thể là người đã chết nhập vào cơ thể người sống, điều khiển người sống đưa ra các chỉ dẫn của linh hồn. Hiện tượng này giống như lên đồng (thật), hoặc là nhập hồn.

Theo các tài liệu nghiên cứu tôn giáo, nhập hồn, lên đồng là một hoạt động tôn giáo có nguồn gốc đến hàng ngàn năm trước của con người. Đó có thể là Saman giáo, một dạng lên đồng nhập hồn của vùng đồng cỏ Siberi – Mông Cổ, lên đồng như hợp thể với vũ trụ của Đạo giáo (Trung Quốc) và cũng là gốc của đồng bóng Việt Nam, phù thuỷ, thầy cúng của các văn hoá tiểu đảo...

Vong nhập, lên đồng... là một trạng thái tâm lý đặc biệt, một trạng thái bệnh lý xuất phát từ vô thức, theo danh mục các loại bệnh tâm thần của Tổ chức Y tế thế giới được xếp vào loại hội chứng lên đồng.

Một người bị vong nhập tức là người đó không bình thường, có vấn đề về thần kinh hoặc tâm thần (nhẹ hoặc nặng). Nguồn gốc của hiện tượng vong nhập là sự tương tác của ám thị lạ và tự ám thị. Khi một người đi áp vong, hoặc lên đồng thường ngồi tập trung như ngồi thiền để đầu óc trống rỗng. Trạng thái này đưa bộ não trở về vô thức. Trong trạng thái khởi đầu vô thức, người đó vẫn nhận biết xung quanh, tiếp nhận các ám thị lạ như về liệt sĩ, về đau thương, về chiến trận qua thầy pháp hoặc nhà ngoại cảm. Khi bộ não chìm vào vô thức các tác động từ bên ngoài sẽ là ám thị lạ tạo ra sự tự ám thị. Trong trạng thái tự ám thị nhiều khi rất mạnh mẽ đặc biệt đối với những người có thế năng bệnh tâm thần cao, bộ não sẽ nhào nặn, xây dựng thành các kịch bản đặc biệt.

Cái đáng sợ là hiện tượng vong nhập thường xảy ra ở những người yếu bóng vía hoặc vừa trải qua một cơn biến động tâm lý, ví dụ vừa ốm dậy, hoặc thường có tình trạng bất bình thường, tức là đã có dấu hiệu của bệnh tâm thần. Thế năng của bệnh đã đủ lớn nhưng do kiềm chế của bộ não bệnh chưa phát ra. Tuy nhiên nếu dự các buổi áp vong và bị vong nhập thì cuộc áp vong giống như giọt nước cuối cùng làm cho thế năng tâm thần được giải phóng và gây bệnh. Đây là quan điểm của bác sĩ Trần Văn Cường, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Trung ương.

Tiêu biểu có đại gia đình ở Phúc Thọ (Hà Nội) đã bị vong nhập khủng khiếp khiến người mất mạng, người phát điên. Cụ thể, người bị vong nhập đến chết là chị Cấn Thị Lâm, con ông Cấn Văn Hùng. Những người khác như chị Cấn Thị Nhung, Cấn Thị Thuỷ (con gái ông Cấn văn Dũng, anh trai ông Hùng) và một người con dâu trong nhà cũng bị vong nhập thành điên khùng. Không chỉ 4 người phụ nữ bị điên, mà cả 3 anh em ông Hùng, ông Dũng và ông Phi cũng bị vong nhập đến mức nổi điên. Chỉ đến khi gia đình đưa những người này vào Bệnh viện Tâm thần Trung ương và Bệnh viện Bạch Mai chữa trị thì họ mới trở lại bình thường.

Tình trạng các trung tâm giao lưu âm dương nở rộ như cỏ mùa mưa đã làm tăng hàng trăm bệnh nhân tâm thần. Riêng tại Nghệ An đã có trên 20 người sau các buổi áp vong phải vào bệnh viện tâm thần điều trị. Theo Ths. Nguyễn Mạnh Quân, chuyên gia về thôi miên y học, chuyện áp vong bây giờ mới phổ biến ở nước ta là do công tác chống mê tín dị đoan tiến hành mạnh mẽ trong những năm cuối thế kỷ trước. Bây giờ việc tâm linh cũng được cởi mở và phát triển hơn. Nhưng cách đây hơn 100 năm, tại Mỹ và châu Âu, hiện tượng này cũng nở rộ và gây nên làn sóng mê tín dị đoan với nhiều hậu quả nghiêm trọng. Sau khi hàng loạt các công trình khoa học được công bố, giải mã hiện tượng này người ta mới tin linh hồn không nhập lung tung vào người như vậy.

Có tồn tại linh hồn?

Do các nghiên cứu con người sau chết đang được tiến hành và đã nhận thấy có dấu hiệu của tình trạng thoát “khí” một dạng năng lượng khỏi cơ thể con người, có sự tụ tán theo quy luật của các thể “khí” đó, dẫn đến sự nghi vấn có tồn tại linh hồn. Mặt khác cũng đã có nhà ngoại cảm tìm được mộ thật được xác định sau khi thử AND, cũng như có những hiện tượng khoa học chưa giải thích được như thần giao cách cảm, giác quan thứ 6, giấc mơ tiên đoán cho nên các nhà khoa học cũng chưa phủ nhận hoàn toàn hiện tượng vong nhập.
Tuy nhiên cần xác định rằng hiện tượng vong nhập thật sự (nghĩa là có linh hồn nhập vào người sống, không phải hiện tượng tự ám thị) rất ít. Cũng như các đồng bóng hiện nay mặc dù đã lên đồng nhưng nhập đồng thực sự gần như không có. Họ chỉ diễn đồng thôi.

Nhưng linh hồn có thật không? Phải có linh hồn, tức là vong mới có thể nhập vào ai đó. BS.TTND Nguyễn Xuân Hướng, nguyên Chủ tịch Hội Đông Y Việt Nam cho biết, từ xa xưa Đông y đã luôn công nhận con người gồm hai phần hồn và xác. Vì Đông y lấy thuyết âm dương và khí huyết làm chủ. Con người sống được là nhờ âm dương cân bằng và khí huyết đầy đủ.

Khí là vô hình, huyết là hữu hình. Khi người ta chết, Đông y có câu "hữu hình - hữu diệt, vô hình - bất diệt", nghĩa là những cái nhìn thấy được - hữu hình: Xương, thịt, huyết... mất đi, vô hình - khí tồn tại vĩnh cửu trong không gian.

Theo một số nhà nghiên cứu khác thì phần hồn cũng không thể tồn tại mãi mãi bởi chúng là các hạt điện sinh học. Tùy thuộc mức độ năng lượng sinh học của mỗi vong hồn mà các vong hồn khác nhau có tần số bước sóng sinh học khác nhau, trở thành các vong khác nhau. Các loại tần số này là vô số và tốc độ được xếp từ thấp đến cao và siêu siêu tốc. Cũng vì thế các siêu linh này không còn khái niệm về thời gian và không gian. Siêu linh có mặt ở khắp nơi, ở mọi không gian không tính thời gian. Nói đơn giản là họ có mặt ở mọi lúc, mọi nơi.

Tuy nhiên lý thuyết của các nhà khoa học này cũng chỉ mới là giả thuyết, chưa thể chứng minh
Về Đầu Trang Go down
goodness
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: ĐỊNH VỊ HÀI CỐT NHỜ TRỨNG SỐNG   Mon Oct 10, 2011 7:03 pm

ĐỊNH VỊ HÀI CỐT NHỜ TRỨNG SỐNG

Một trong những cách đơn giản nhất để xác định vị trí mà phía dưới có hài cốt người thân của người tìm kiếm là có thể đặt quả trứng sống đậu chắc trên đầu đũa thẳng đứng tại nơi thử nghiệm. Bản chất giả định của hiện tượng này là gì và cách áp dụng phương pháp trứng-đũa như thế nào?

Tạp chí Thế Giới Mới số 183 và một số báo khác đã đề cập đến các thí dụ thực tế sử dụng phương pháp “trứng-đũa” để tìm hài cốt người thân (bố mẹ, anh chị em... ruột). Các tác giả có bài về tìm hài cốt như vậy hướng người đọc chú ý đặc biệt đến hai điều sau đây: hiện tượng quả trứng sống nằm yên trên đầu đũa (được cố định theo phương thẳng đứng) là kỳ lạ; nếu tại các vị trí mà ở đó quả trứng đậu chắc trên đầu đũa thì phía dưới đất tương ứng có hài cốt của người ruột thịt với người thực hiện tìm kiếm. Trong báo Nhân Dân ngày 18-7-1996 lại có tư liệu khác cho biết rằng, việc đặt quả trứng nằm yên trên đầu đũa là một trò chơi khéo tay và nó đã được biết từ lâu.

Những thông tin nói trên đã làm cho đông đảo người đọc rất khó hiểu, một số câu hỏi sau đây được đặt ra và nên được trao đổi để có lời giải đáp thỏa đáng. Cần đánh giá tính hiệu quả của phương pháp “trứng-đũa” như thế nào? Hiện tượng trứng đậu trên đầu đũa tại những nơi mà phía dưới tương ứng có hài cốt khác với hiện tượng trứng đậu trên đầu đũa do sự khéo tay tạo nên là gì? Bản chất giả định của phương pháp “trứng-đũa” xuất phát từ đâu? Sau đây là một số ý kiến tìm hiểu về các vấn đề được đặt ra.

Chỉ dựa vào các tư liệu ít ỏi mà báo chí đã cho biết trong thời gian gần đây cũng có thể thấy được rằng, việc tìm hài cốt theo cách dùng “trứng-đũa” là khá đơn giản, dễ thực hiện và dường như hiệu quả hơn so với các phương pháp ngoại cảm đã biết. Trong khi nhà ngoại cảm xác định vị trí và nhận dạng hài cốt của một người nào đó nhờ khả năng chủ quan “siêu nhiên” của bản thân thì với phương pháp “trứng-đũa”, người tìm kiếm chỉ là một cá nhân bình thường, thực hiện một số thao tác rất máy móc mà khi thành công thì ai cũng quan sát được dấu hiệu kết quả (hiện tượng trứng đậu chắc trên đầu đũa). Nhờ phương pháp “trứng-đũa”, nhiều bộ hài cốt con người đã được phát hiện ở những nơi không có vết tích chôn cất. Riêng điều đó cũng đã làm cho cách tìm hài cốt bằng “trứng-đũa” trở nên kỳ lạ và kích thích các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu bản chất giả định của phương pháp.

Với trò chơi khéo tay, hiện tượng trứng nằm yên trên đầu đũa được tạo ra khi đầu đũa là phẳng và trọng tâm của quả trứng rơi vào phần diện tích đầu đũa. Để có kết quả trứng nằm yên trên đầu đũa thường đòi hỏi thực hiện nhiều lần thử, trứng đậu yên khi đầu đũa được cố định thẳng đứng và sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh (gió, mưa...) không đáng kể. Vì ruột trứng không đặc và lòng đỏ dạng như cái lõi nằm trong lòng trắng nên có thể điều đó tạo nên sự thuận lợi cho trò chơi đặt trứng nằm yên trên đầu đũa.

Tại những nơi mà phía dưới tương ứng có hài cốt, người ruột thịt thực hiện phương pháp “trứng-đũa” có thể dễ dàng đặt được quả trứng nằm yên trên đầu đũa (không đòi hỏi khéo tay và thử nhiều lần, trứng đậu chắc hơn nhiều ngay cả khi chưa đặt đúng trọng tâm). Trên cơ sở cảm nhận của những người tham gia trực tiếp tìm hài cốt người thân bằng “trứng-đũa”, cần phải giả thiết rằng: trong trường hợp trứng đậu trên đầu đũa tại vị trí có hài cốt, tồn tại hai lực “hút” tác động đồng thời lên quả trứng. Một trong hai lực đó là trọng lực. Lực thứ hai có nguồn gốc sinh học, mạnh hơn trọng lực khá nhiều, cường độ “hút” tập trung chủ yếu ở phần diện tích đầu đũa. Dưới tác động của lực thứ hai, quả trứng có thể được đặt đứng yên trên đầu cái que (ít phẳng hơn) hay đũa.

Như chúng ta đã biết, sự sống của mỗi cá nhân tạo ra xung quanh bản thân một trường năng lượng sinh học đặc trưng, tạm gọi là “trường năng lượng sinh dưỡng”. Năng lượng của trường đó được hình thành và mạnh lên chủ yếu nhờ các quá trình sinh dưỡng của cơ thể. Quả trứng là một cấu trúc sống, có khả năng tích hay nhiễm được nhiều năng lượng sinh học của con người, tạo ra xung quanh nó một trường năng lượng mới. Mặt khác, một số nhà nghiên cứu đã nhận biết được sự hiện diện trường năng lượng khá mạnh ở phần không gian bao quanh hài cốt con người, tạm gọi nó là “trường năng lượng phân huỷ”. Các quá trình phân huỷ thi thể đã tạo ra dạng năng lượng đặc biệt đó. Vì sự sinh dưỡng đối nghịch với sự phân huỷ nên trường sinh dưỡng và trường phân huỷ có khả năng chứa một số đặc trưng trái ngược nhau (dương tính và âm tính). Quả trứng và hài cốt là hai đối tượng tích năng lượng sinh học khác dấu nên chúng có tác động qua lại ở dạng hút nhau (cái đũa hay cái que chỉ đóng vai trò giá đỡ).

Sự tương tác của hai dạng năng lượng sinh học nói trên sẽ trở nên mạnh nhất khi chúng có những đặc trưng tương đồng nào đó, ít nhiều giống với hiệu ứng cộng hưởng trong kỹ thuật, đặc biệt là trong vô tuyến điện. Chúng ta cũng đã biết rằng, những phần tử cơ sở cấu tạo nên cơ thể con người là các tế bào. Có lẽ các quá trình sinh dưỡng hay phân huỷ tế bào đóng vai trò chủ yếu đối với sự hình thành các dạng năng lượng sinh học dương tính hay âm tính nêu trên. Một số đặc trưng tương đồng của hai trường sinh dưỡng và phân huỷ có nhiều khả năng đạt được khi năng lượng của các trường đó được tạo ra từ các tế bào có những đặc trưng tương đồng. Điều này dễ được thoả mãn trong trường hợp người chết và người thực hiện phương pháp “trứng-đũa” có quan hệ ruột thịt. Khi đó, quả trứng và hài cốt là hai đối tượng tích năng lượng sinh học trái dấu cùng có một số đặc trưng tương đồng nên chúng có khả năng tương tác cộng hưởng (lực hút mạnh lên rõ rệt).

Theo cách tương tự cũng có thể lý giải được “cơ chế” tác động của phương pháp cổ xác định hài cốt của người ruột thịt mà báo Khoa học & đời sống số 31 năm 1997 đã cho biết: lấy mẩu xương của người chết rửa sạch, bỏ vào cái bát chứa nước đun sôi để nguội và nhỏ một số giọt máu của người nào đó vào bát; nếu máu được lấy từ người có quan hệ ruột thịt với người đã mất thì các giọt máu sẽ tụ về mẩu xương (nhìn bề ngoài như bị xương hút).

Không thể phủ nhận được hiệu quả của cách tìm hài cốt bằng “trứng-đũa”. Khi áp dụng phương pháp đó cần lưu ý một số điểm sau:

Tích năng lượng cho quả trứng:

Có thể thực hiện việc tích năng lượng sinh học của một người cho quả trứng sống bằng nhiều cách (tốt nhất là thời gian khoảng một tuần):

- Thường xuyên tập trung ý nghĩ vào quả trứng đó;

- Đặt quả trứng lên bàn thờ và thắp hương khấn nhiều lần;

- Đặt quả trứng gần chỗ nằm hay cầm trong tay nhiều thời gian...

Khoảng cách giữa hai vị trí thử liên tiếp:

Chia phần diện tích mà trên đó sẽ tiến hành thử thành các ô vuông với mỗi chiều D cm. Khoảng cách D cần được chọn không quá bé (để số phép thử vừa phải) và cũng không quá lớn (để các điểm thử không lệch xa nơi chôn cất hài cốt). Xuất phát từ suy luận như vậy, khoảng cách D có thể được chọn trong khoảng 40-60 cm.

Thực hiện đặt quả trứng lên đầu đũa:

Trước khi áp dụng phương pháp “trứng-đũa”, người thực hiện nên làm thử trò chơi đặt quả trứng lên đầu đũa để phân biệt với cách đặt trứng khi tiến hành tìm hài cốt. Có thể thay thế cách đặt trứng lên đầu đũa bằng cách cân quả trứng tại các vị trí khác nhau (khoảng cách giữa quả trứng và mặt đất tương tự như khi đặt lên đầu đũa). Tại nơi mà phía dưới có hài cốt dường như trọng lượng của quả trứng tăng lên đột ngột. Đó có thể là một trong những cách thử tin cậy để định vị nơi có hài cốt.

Cũng cần lưu ý rằng, dường như vong linh người chết có khả năng nhập vào quả trứng sống hay bất kỳ một vật vô tri vô giác nào. Vì vậy, một nhà ngoại cảm nào đó (ví dụ, Vũ Thị Minh Nghĩa) sau khi bảo được vong nhập vào trứng có thể dễ dàng đặt nó lên đầu đũa ngay lập tức.

Nhận dạng hài cốt:

Nếu không có các dấu hiệu trực tiếp thì có thể sử dụng các biện pháp sau đây để nâng cao mức độ tin cậy nhận dạng hài cốt:

- Nhiều người ruột thịt độc lập thực hiện phương pháp “trứng-đũa” để xem kết quả định vị có giống nhau hay không;

- Một số người không có quan hệ ruột thịt độc lập thực hiện theo cách tương tự để thấy kết cục khác nhau giữa các cá nhân tìm kiếm;

- Dùng cách thử cổ với máu của nhiều đối tượng khác nhau.

Việc nhận dạng đúng hài cốt có vai trò quan trọng đối với các thân nhân của người đã mất. Nội dung của phương pháp “trứng-đũa” và kết quả áp dụng thực tế của một số trường hợp chưa thể là sự chứng minh chặt chẽ để làm cơ sở xác định họ tên của người quá cố.

Chúng ta hy vọng rằng, các nhà nghiên cứu sẽ góp phần tích cực hơn nữa trong việc phát hiện, tìm hiểu và phổ biến những phương pháp hiệu quả tìm kiếm và nhận dạng hài cốt con người để giúp cho nhiều gia đình giải quyết phần nào vấn đề tình cảm tâm linh mà lâu nay đã và đang tồn tại.

GHI CHÚ: Nội dung ban đầu của phương pháp “trứng-đũa” do ông Nguyễn Phi Hùng (một cán bộ về hưu đã mất, ở tại 63 Hàng Đào, Hà Nội) đã sưu tầm tài liệu cổ và đưa ra ứng dụng có kết quả cho khá nhiều trường hợp (đã được công bố trên tạp chí Thế giới trong ta và nhiều báo khác).

Nội dung của phương pháp “trứng-đũa” theo tài liệu cổ:

Lấy 3-5 quả trứng (vịt) sống và bó đũa chưa dùng ăn cơm để lên bàn thờ gia đình, hàng ngày hương hoa khấn vái 3 lần (sáng, trưa, tối) trong suốt một tuần. Sau đó làm lễ tạ thần linh và lễ vong nghiêm túc, thành khẩn. Khi tìm mộ thì cứ 50 cm cắm 1 chiếc đũa. Nếu để quả trứng nói trên lên đầu đũa mà trứng đậu khá chắc thì ở phía dưới có hài cốt người thân. Chỉ có những người thân cùng huyết thống mới làm được việc này.

Kiểm tra hài cốt bằng phương pháp cổ truyền:

Lấy chiếc xương hàm của người đã mất, rửa sạch, cho vào một cái bát đựng nước đun sôi để nguội. Nhỏ một số giọt máu của người thân vào bát nước. Nếu máu tụ về xương thì hài cốt là của người thân.

ĐỨC PHÚC
Về Đầu Trang Go down
kkk
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: Linh hồn: Không tồn tại mãi mãi, không làm hại ai   Mon Oct 10, 2011 8:21 pm

Linh hồn: Không tồn tại mãi mãi, không làm hại ai


Không chỉ những người nghiên cứu về "tâm linh" khẳng định, sau khi chết "sự sống" của con người vẫn tiếp diễn - linh hồn, mà y học cổ truyền phương Đông cũng thừa nhận linh hồn chính là khí trong mỗi con người

Tuy nhiên, linh hồn cũng không tồn tại mãi mãi như chúng ta tưởng, nó bao gồm các hạt điện sinh học nên nó vẫn có thể bị phá tan hoặc chuyển từ dạng thức thực thể này sang dạng thức thực thể khác...
Hồn không làm "lợi" và "hại" ai cả

BS.TTND Nguyễn Xuân Hướng, nguyên chủ tịch Hội Đông Y Việt Nam cho biết, từ xa xưa Đông y đã luôn công nhận con người gồm hai phần hồn và xác. Vì Đông y lấy thuyết âm dương và khí huyết làm chủ. Con người sống được là nhờ âm dương cân bằng và khí huyết đầy đủ.

Khí là vô hình, huyết là hữu hình. Khí có nguồn gốc từ tự nhiên, từ thức ăn, đồ uống - tông khí - đi vào cơ thể và hóa thành dinh khí. Trong cơ thể người gồm dinh khí và vệ khí, dinh khí đi trong huyết quản dẫn huyết đi nuôi cơ thể. Vệ khí ở ngoài huyết quản để bảo vệ cơ thể. Khi người ta chết, Đông y có câu "hữu hình - hữu diệt, vô hình - bất diệt", nghĩa là những cái nhìn thấy được - hữu hình: Xương, thịt, huyết... mất đi, vô hình - khí tồn tại vĩnh cửu trong không gian.

Hơn nữa, Đông y coi Tâm là chủ thần (sự sống) khi thần mất đi là chết. Thần tồn tại được nhờ khí và huyết, do đó khi người ta tắt thở tức là tâm mất, thần và khí thoát ra ngoài, sau đó kết hợp với nhau và gọi là hồn. Đặc biệt, theo thuyết âm dương, mỗi người có một mức độ âm dương riêng, một trí tuệ, mạch tường, dung diện, tinh ranh... khác nhau cho nên khí và thần của người đó cũng hoàn toàn khác nhau và tồn tại trong không gian. Họ có thế giới riêng và không làm lợi hay làm hại ai, trừ trường hợp cá biệt.
Linh hồn không phải là "hư vô"

Khác với quan điểm của nhiều người cho rằng, linh hồn là vầng hào quang phát ra ở mỗi người, ThS Vũ Đức Huynh, tác giả của hơn chục cuốn sách về tâm linh và cổ học phương Đông khẳng định, vòng hào quang không phải linh hồn mà là vòng trường sinh ai cũng có, độ rộng hay hẹp là do năng lượng tích lũy của từng người.

Vầng hào quang là trường sinh học mang điện tích âm, do sức hút, sức ràng buộc của vòng vía. Vía mang điện tích cả âm và dương. Trong vía có thần thức mang điện tích dương và trong thần thức là phách. Phần hồn bao gồm: Vía + thần thức + phách.

"Theo thuyết Luân Hồi trong Đông y, khi Khí và Thần thoát ra - chết, đối với người là vĩ nhân thì 600 - 700 năm sau sẽ hội tụ và đầu thai vào người khác; Người bình thường, có học vấn, có đạo đức sau 300 năm; Người kém hiểu biết, ít trí tuệ là 80 năm; Người có tội ác, người giống súc vật... sau 30 năm. Việc đầu thai có thể trở thành người hoặc súc vật nhất là những người "xấu"". BS Nguyễn Xuân Hướng (nguyên chủ tịch Hội Đông y Việt Nam).

Sau khi chết 49 ngày, phần hồn chuyển dạng sang thành vong hồn với cấu trúc tầng nấc là: Thần thức ở trên mang thuộc tính dương; Vía ở phần giữa có cả hai phần mang thuộc tính âm và dương; Phách ở tầng dưới vì độ đậm đặc nhất mang thuộc tính âm. Cấu tố thần thức loãng và nhẹ, song lại là cấu tố chủ đạo của vong hồn. Ba cấu tố này liên kết với nhau bằng mối liên kết lỏng. Liên kết lỏng nhất là giữa Phách với Vía và Thần thức. Phách dễ dàng tách ra khi gặp điều kiện thuận lợi. Nghĩa là lúc đó vong hồn có thể tách làm hai: một gồm vía và thần thức, một chỉ có phách.
Linh hồn cũng có thể bị phá vỡ

Theo ThS Vũ Đức Huynh, phần hồn cũng không thể tồn tại mãi mãi bởi chúng là các hạt điện sinh học. Tùy thuộc mức độ năng lượng sinh học của mỗi vong hồn mà các vong hồn khác nhau có tần số bước sóng sinh học khác nhau, trở thành các vong khác nhau. Các loại tần số này là vô số và tốc độ được xếp từ thấp đến cao và siêu siêu tốc. Cũng vì thế các siêu linh này không còn khái niệm về thời gian và không gian. Siêu linh có mặt ở khắp nơi, ở mọi không gian không tính thời gian. Nói đơn giản là họ có mặt ở mọi lúc, mọi nơi.

Tuy nhiên, theo ThS Vũ Đức Huynh phân tích, điều đặc biệt là sóng sinh học vận động đa chiều, lan tỏa mọi phương nhưng cũng có thể lan tỏa định hướng theo chủ định của thần thức. Nó không khu biệt vùng như sóng điện từ. Hơn nữa, sóng sinh học là sóng hạt tức là dòng chuyển dịch của các hạt điện sinh học trong bao la. Các hạt vũ trụ trong bao la có thể cản phá lẫn nhau, va chạm vào nhau... Năng lượng sóng vì thế mất dần đi và bị phá tan không còn khả năng "mang trọn vẹn" thông tin đến một nơi thu nào đó. Điều đó cũng có nghĩa vong hồn cũng có thể bị phá vỡ, bị liên kết với một vong hồn mới để biến đổi từ một dạng thức thực thể này sang một dạng khác.
Nhiều "ngoại cảm" bỏ xương động vật vào nơi khai quật liệt sĩ

Theo Thiếu Tướng, TS Nguyễn Chu Phác (Chủ nhiệm bộ môn Cận tâm lý, Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người), trong 20 năm qua, bộ môn cùng với những người có khả năng đặc biệt tìm được trên 30 ngàn ngôi mộ, đồng thời tìm người mất tích và xác định danh tính người dưới mộ vô danh. Bộ môn đã tiếp xúc trắc nghiệm trên 300 người tự nhận là có khả năng đặc biệt, đã nhận thấy phần lớn số người này là ngộ nhận hoặc hoang tưởng hay cũng có chút ít linh tính. Nhưng một số người có dã tâm dối trá, lòe bịp (ba trường hợp bỏ xương động vật vào nơi khai quật mộ liệt sĩ, nhiều trường hợp bịa danh tính trên mộ vô danh). Chỉ có một số không nhiều là người có khả năng đặc biệt thực sự và có tâm đức trong sáng.
Về Đầu Trang Go down
hhh
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: goi vong o Hai phong   Fri Oct 21, 2011 8:19 pm



Mấy ngày qua, một số gia đình ở Hải phòng do có vào trang thế giới vô hình và vũ trụ huyền bí và đọc những bài viết của Minh Thiên nên họ có liên lạc với Minh Thiên xin được gọi vong người thân kết hợp với việc xin được đỉểm đạo và Minh Thiên đã sắp xếp ra hẳn mấy ngày xuống Hải phòng giúp cho các gia đình đó,Đã có rất nhiều điều huyền diệu xảy ra và Minh Thiên xin được kể lại cùng các đạo hữu.
Lệ thường mỗi khi có gia đình nào đến đăng ký gọi vong Minh Thiên đều có đưa cho họ một tờ hướng dẫn về việc gọi vong và những vấn đề gặp phải khiến vong không lên được cũng như cách thức giải vong và siêu độ cho vong,ghi thì rõ như thế nhưng hình như bà con ít khi đọc kỹ và làm theo hướng dẫn gây cho Minh Thiên không ít khó khăn trong công tác gọi vong.
Trong tờ hướng dẫn Minh Thiên có viết về việc nếu như ban thờ bát hương của gia đình đặt không đúng vị trí hoặc thờ cúng sai,hoặc để cho tủ gương hoặc gương soi vào ban thờ bát hương thì vong rất khó về,vì vậy giờ đây mỗi khi đến nhà nào gọi vong,việc đầu tiên là Minh Thiên phải quan sát thật kỹ ban thờ bát hương,nhưng như thế chưa đủ vì lắm lúc mình còn chẳng tin vào vào mắt mình,vì vậy Minh Thiên phải ngồi xuống kết ấn cung thỉnh ông thổ công lên hỏi kỹ xem gia chủ còn thiếu thốn vướng mắc gì không trong việc sắp đặt ban thờ bát hương cũng như lễ lạt đã biện đủ chưa,nếu ông ấy nói là đã được rồi thì Minh Thiên mới bắt đầu tiến hành gọi vong,vì vậy có những lúc Minh Thiên đi áp vong mà cuối cùng lại thành chuyển sang đi tôn lại bát hương,sửa chữa lại ban thờ cho gia đình thân chủ.
Tại gia đình đầu tiên ở phố Lý Thường Kiệt,khi chuẩn bị gọi vong Minh Thiên quan sát thấy họ để sai vị trí bát hương ban thờ, để cho chắc ăn Minh Thiên thỉnh ông thổ công lên, ông cũng xác nhận là như vậy,gia đình cũng có đề nghị Minh Thiên sửa đổi lại nhưng vì nghĩ là chuyển đổi ban thờ bát hương thì cũng phải xem ngày chọn giờ lên Minh Thiên đề nghị chuyển sang ngày khác và tiến hành gọi vong.Kết quả là bà tổ cô nhà họ lên nhưng oái ăm thay bà lại nhập ngay vào Minh Thiên và Minh Thiên tự lấy tay chỉ vào mặt mình quát lớn :
Ta là bà tổ cô nhà này đây,ngươi đã làm việc cho siêu hình thì ắt là biết rõ luật lệ của siêu hình,nếu ngươi không biết thì không nói làm gì,còn khi ngươi đã biết rõ mà lại còn muốn để ngày khác là sao,chẳng qua là vì ngươi ngại khó lên dây dưa chưa muốn làm,ta cũng tu trong siêu hình không kém gì ngươi đâu,nếu ngày hôm nay ngươi không chuyển đổi ban thờ bát hương thì ta không cho nhà ngươi ra khỏi ngôi nhà này đâu........
sau đó bà xuất ra và Minh Thiên đành gác vụ gọi vong lại và chuyển sang tiến hành lễ chuyển đổi ban thờ bát hương và điểm đạo quy y cho một thành viên trong gia đình.
Gia đình thứ hai ở tại ngõ 373 phố Ngô Gia Tự phường Đằng lâm,cũng như gia đình trước Minh Thiên cũng phát cho một tờ hướng dẫn yêu cầu đọc kỹ và phổ biến cho gia đình .Chị Nhàn là chủ nhà,chồng chị mới mất và lúc còn trên dương thế thì anh có nợ một số người và một số người cũng nợ anh,Minh Thiên lúc chuẩn bị gọi vong thì cũng đã hướng dẫn chị rất kỹ là phải ghi các câu hỏi sẵn ra một tờ giấy phòng khi vong lên thì còn biết đường mà hỏi,chị bảo chị có sẵn câu hỏi trong đầu rồi cứ yên tâm,nhưng chị không ngờ rằng khi vong ông chồng lên cả nhà 15,16 ngưòi lại không nhập vào ai hết mà lại nhập vào chính bà vợ,lúc đó chị Nhàn tự nhiên rét run lập cập và hai tay tự nhiên lạnh buốt bị khép cứng giống kiểu như bị khoá còng số 8,cả nhà thì ngây mặt ra như ngỗng đẻ,phát hiện ra vong bị đoạ dưới địa ngục lên Minh Thiên yêu cầu gia đình ngay lập tức chọn một người đứng ra xin quy y chư Phật tu trì mật pháp để hồi hướng cho vong để vong được thoát khỏi cảnh ngục tù và khai khẩu,người thân lúc đó có thể làm được điều này là bà mẹ của vong,nhưng khi Minh Thiên nhắc bà thì bà cứ lừng khừng về sau mới biết hoá ra bà là mẹ vợ và cái vong là ông con rể,vì vậy mà chư vị không cho vong đựơc khai khẩu mặc dù Minh Thiên đã tiến hành khai quang vong,sau một lúc vật lộn hỏi han cuối cùng gia đình quay sang kêu cầu với Minh Thiên xin làm cách nào đó để vong khai khẩu.Mặc dù không muốn nhưng Minh Thiên vẫn cố quỳ xuống chắp tay kính xin chư vị khai ân cho phép vong đựơc nói , ngay lập tức chư vị tá vào Minh Thiên lấy tay Minh Thiên chỉ vào mặt Minh Thiên quát một tiếng như sét nổ làm rung chuyển căn nhà và làm mấy người ngồi gần đó giật mình ngã lăn quay:
Ngươi phải biết ngươi làm việc cho thiên đình,chúng ta làm việc cho âm phủ,nhưng siêu hình có luật lệ rõ ràng,nay gia đình này chưa có ngưòi thành tâm đứng ra quy y chư phật học đạo bảo lãnh cho vong thoát cảnh địa ngục vì vậy vong không đựơc phép khai khẩu ,việc của ngươi thỉnh nguyện gọi vong chúng ta đã giải quyết,phúc ai ngưòi đấy hưởng,ngiệp ai người ấy chịu,ngươi không thể vì họ kêu réo mà xin cho họ được,chính bản thân gia đình họ phải thành tâm cầu đạo thì mới giải quyết được chuyện này nghe rõ chưa......!
Chư vị xuất ra để lại Minh Thiên rùng mình kinh sợ và áo ướt đẫm mồ hôi ,gia đình nhà họ nghe xong vậy cũng không dám kêu van nữa mà chuyển sang nói chuyện với vong bằng cách ra hiệu bằng tay.
Như Minh Thiên lúc đầu đã hướng dẫn là nên viết một bảng câu hỏi về chuyện nợ nần của ông chồng ra giấy,nhưng chị Nhàn cứ chủ quan nghĩ là vong sẽ về nhập vào một ai đó trong gia đình để cho mình hỏi,vậy lên khi vong nhập vào chị thì mọi người chẳng biết hỏi gì,Minh Thiên đành phải hỏi hộ :
Thế hiện nay vong đang ở trong địa ngục chịu tội thì vong ở tầng thứ mấy.....?
Nghe thấy thế vong liền giơ hai ngón tay lên .
Minh Thiên hỏi tiếp :
Vong ở dưới địa ngục thì chắc hẳn là khổ lắm,thế nay thầy quy y cho mẹ và vợ vong để họ có pháp tu trì hàng ngày hồi hướng cho vong để vong nhờ công đức đó thoát cảnh địa ngục thì vong có đồng ý không....?
Đồng ý là thế nào,ai vào cảnh đó mà chẳng quá đồng ý là khác,nghe thấy Minh Thiên hỏi vậy vong nhảy chồm lên vái mẹ vợ,vái các anh em hai họ như tế sao,nước mắt chảy dàn giụa
miệng ú ớ không ra tiếng cầu xin thảm thiết, đến khi bà mẹ gật đầu vong mới thôi.
Sau đó Minh Thiên nhắc gia đình là lúc sống vong thích ăn uống cái gì đem ra cho vong ăn uống,nhưng vong không muốn ăn gì mà chỉ uống nước chè đặc và chúm mồm ra hiệu, đầu tiên gia đình không hiểu là vong muốn gì nhưng về sau có người sực nhớ ra là vong lúc sống thích hút thuốc lào,vậy là điếu đóm đựơc mang ra,trước cặp mắt kinh ngạc của mọi người,chị Nhàn cả đời không hề biết rượu chè thuốc lá là gì vậy mà bây giờ vì cái vong nhập xác mà chị uống liền mấy chén rượu và rít thuốc lào sòng sọc,phả khói ra hình chữ O rất điệu nghệ,lúc trước còn có người nửa tin nửa ngờ thì bây giờ họ hoàn toàn tin đây chính là vong chồng chị Nhàn thật vì cái điệu bộ hút thuốc nhả khói thì chỉ có anh lúc sống là hay làm trò đó mà thôi,và thế là một bảng câu hỏi đựơc viết ra để hỏi vong về việc trước lúc chết thì nợ ai,ai nợ để mà giải quyết cho xong.Mấy cái máy điện thoại đựơc huy động để ghi hình ghi tiếng ở các góc độ cho chắc ăn,phòng khi đến lúc đi đòi nợ có kẻ nghĩ ngưòi chết thì lấy gì làm bằng bèn chối nợ,bọn con nợ cứ mà liệu thần hồn......
Và thế là vong thì không nói đựơc,nhưng vẫn chiếu theo danh sách con nợ mà xoè ra cụp vào các ngón tay ra hiệu mặc dù hai tay thì đang bị xích chặt,gia đình thì cứ chiếu theo như thế mà đánh dấu con nợ.
Gặp gỡ ước chừng 40 phút thì lúc đó chư vị sứ giả ấn tâm làm Minh Thiên buột mồm nhắc :
Đã đến giờ dẫn giải phạm nhân,gia đình có cho ăn uống thì làm nốt đi để sứ giả còn tiếp dẫn vong đi...
Nghe đến thế gia đình hối hả cho vong uống nước,còn vong thì buồn thảm ú ớ rối rít sờ tay từng ngưòi một,lệ lại lăn dài trên gò má,hỡi ơi cảnh tù đầy trần sao âm vậy đau đến xé lòng,Minh Thiên cũng chạnh buồn và nhẹ nhàng an ủi vong :
Thôi vong hãy đi đi chư vị đã giục rồi,nhưng vong yên tâm,thầy sẽ ngay lập tức quy y cho gia đình,gia đình sẽ ngày đêm tu trì mật chú hồi hướng cho vong,vong sẽ đựơc bảo lãnh ra khỏi ngục một ngày gần đây thôi ....
Nghe vậy vong lại quỳ xuống vái ngưòi thân trong gia đình đôi mắt van lơn cầu khẩn rồi huỵch một cái chị Nhàn giẫy nẩy lên,vong đã xúât ra.Hỡi ơi ngục tù dương thế đã quá khổ,ngục tù âm giới còn khổ đau gấp vạn lần,những ai có vong linh bị đoạ địa ngục xin hãy phát tâm cứu lấy vong linh nhà mình trước khi nói đến chuyện hàng ngày đi chùa theo các thầy tu tập hành đạo cứu giúp chúng sinh.
Chị Nhàn tỉnh lại và ngơ ngác hỏi thế vong đã về chưa và có nói đựơc gì không làm mọi người bò lăn ra cười chứng tỏ chị bị nhập quá sâu,các em chị liền đưa máy ảnh ra cho chị xem lại cảnh vừa ghi,khi xem xong thì chị quyết định xin đựơc điểm đạo quy y tu trì mật pháp để cứu chồng.Từ trước tới giờ Minh Thiên đã quy y cho rất nhiều người nhưng đây là lần đầu tiên trứơc khi Minh Thiên tiến hành điểm đạo thì vị độ giáng xuống thân Minh Thiên chỉ tay vào chị Nhàn mà ứng khẩu :
Hôm nay là một đại cơ duyên đến với vợ chồng nhà ngươi, đã có những người từ vô lượng kiếp tới nay thậm chí còn chưa bao giờ được nghe đến âm thanh của thần chú Chuẩn Đề,vậy nên các ngươi phải hết sức tu trì thần chú để cứu chồng ngươi và giải trừ ngiệp chướng nghe chưa.....
Vậy là Minh Thiên đỉêm đạo cho cả hai mẹ con chị Nhàn,bà mẹ trong lúc nhắm mắt trì chú thì thấy thân Phật có rất nhiều tay,còn chị Nhàn thì lại thấy một cái hồ rất trong xanh,sau đó Minh Thiên trao cho họ 5 câu chú và hướng dẫn họ sau khi trì đủ 10 ngìn biến ngũ bộ chú hồi hướng cho vong,vong sẽ nhờ công đức đó mà thoát khỏi địa ngục.Lúc đó để chứng minh Minh Thiên sẽ lập một pháp đàn triệu vong đó lên,trong pháp đàn đó vong sẽ được đi theo chư vị và sẽ nói với gia đình rằng nhờ công đức tu tập ngũ bộ chú của họ hôì hướng cho vong,nhờ uy lực của phép điểm đạo có Trời Phật chứng giám gia trì,mà nay vong đã đựơc siêu thoát và được theo chư vị tu học,và gia đình sẽ biết rõ rằng công sức mình bỏ ra đã được chứng minh,chúng ta hãy chờ đợi xem nhé thời gian chắc không lâu đâu.
Gia đình thứ 3 sống ở phố Trung hành 5,khác với 2 nhà trên chủ nhà lại là một vị đồng thầy đã 62 tuổi có nhiều hiểu biết về tâm linh vì vậy hiểu rất rõ quy luật và nguyên tắc gọi vong.Khi Minh Thiên vừa đến thì mọi người trong gia đình đã chờ sẵn và đồ lễ đã sắp sẵn.Trên ban thờ cao rộng đặt một tượng Phật Chuẩn Đề uy nghi chứng tỏ chủ nhà có tu mật tông.Vừa bước chân vào phòng thờ Minh Thiên đã cảm thấy cơ thể mình ngây ngất,Minh Thiên liền vội nắm tay lại kết ấn kim cang quyền giữ bình tĩnh và chư vị tá khẩu qua Minh Thiên quát lớn lệnh cho chủ nhà quỳ xuống nghe chư vị dạy bảo,thật ra Minh Thiên lúc đó cũng rất lo cho chủ nhà sợ trong việc ban thờ bát hương thờ cúng có chi mạo phạm, đầu thì nghĩ như thế nhưng không ngờ chư vị tá khẩu qua Minh Thiên lại xưng danh là hội đồng các quan bên tứ phủ rất khen ngợi chủ nhà trong việc thờ cúng và rất có tâm hướng thiện,tuy nhiên vẫn còn cần phải lo tu dưỡng tâm đức hơn nữa chờ ngày mãn phần.
Sau khi chư vị thăng thì Minh Thiên yên tâm tíên hành triệu vong.Vong đầu tiên lên là cụ thân sinh ra chủ nhà ,do đã đọc kỹ tờ hướng dẫn của Minh Thiên nên chủ nhà đã mượn được mấy người có căn đồng đến, lên khi Minh Thiên chỉ cần đặt tay lên đầu họ khấn xin chư vị tiếp dẫn vong lên là lập tức người ngồi đồng đã lắc lư và vong nhập ngay như giả vờ,giá nếu như không phải là người của gia đình họ thì có lẽ họ đã cho là mình làm trò với nhau.Lúc vong ông cụ lên thì có một cô hàng xóm chồng mới chết ngồi gần đó hỏi cụ mấy câu,cụ bảo chồng mày mấy ngày hôm nay hay về thăm mày lắm và hôm nọ mới cho mày trúng con lô xiên đấy,chị ấy và mọi người xung quanh giả vờ thử ông cụ bằng cách từ chối không nhận là chồng chết và trúng lô đề,nhưng cụ chỉ cười hiền từ và cốc vào đầu cô hàng xóm nói mày chỉ giả vờ với người trần chứ lẽ nào lại còn giả vờ với cả người âm ư,về sau cô ra đến chỗ Minh Thiên ngồi và công nhận vong ông cụ nói đúng về việc mới chết chồng và trúng lô thật.Sau khi vong đã nói chuyện với gia đình đủ rồi thì chủ nhà xin gọi tiếp vong ông chú là liệt sĩ lên để hỏi về ngày giỗ cũng như mộ phần thất lạc để còn tìm,có điều khi ông chú liệt sĩ lên rồi thì ông cũng chẳng nhớ mình chết chính xác ở chỗ nào mà chỉ biết ở quảng bình mà thôi,còn ngày hy sinh cũng không nhớ chỉ nhớ ngày nhập ngũ,Minh Thiên cũng phân tích cho ông biết rằng nếu dù có tìm được phần mộ cùng nắm xương tàn của ông thì cũng chỉ là phần ngọn tới ngày phải rũ bỏ mà thôi,sao ông không lo phần gốc là quy y chư Phật theo chư vị tu học giúp cho phần hồn mình được siêu thoát khỏi trung giới thì có tốt hơn không,nghe ra ông liền xin Minh Thiên quy y cho ông.Vậy là ngay lúc đó Minh Thiên tiến hành quy y cho chủ nhà vốn đã tu mật tông từ lúc trước nhưng cũng chưa có gặp thần khải gì và vong linh ông chú liệt sĩ đang mượn xác cô đồng.Sau 15 phút nhắm mắt niệm chú chư vị hộ pháp đã xuất hiện tiếp dẫn ông chú liệt sĩ đi,như vậy là chủ nhà đã tiết kiệm đựoc một khoản tiền độ 30 triệu cho việc ra chùa nhờ thầy lập đàn siêu độ vong mà chưa chắc đã có hiệu quả, điều này thì chủ nhà biết rất rõ vì ông cũng chính là pháp sư đồng thầy luôn.
Trong quá trình đi gọi vong Minh Thiên nhận thấy rằng sự gia trì giúp đỡ của chư vị ngày càng lớn hơn,nhưng lại cũng thấy mình ngày càng gặp nhiều các vong bị đoạ trong địa ngục nhiều hơn,phải chăng đó cũng là cách sắp xếp của chư vị để Minh Thiên lại có thêm cơ hội điểm đạo quy y cho nhiều người hơn,vì có ai mà không đau xót khi thấy người thân mình đang ở trong địa ngục,mà cách tốt nhất hiệu quả nhất bây giờ chính là nhận pháp điểm đạo quy y của đức tôn sư rồi tu trì mật pháp hồi hướng cho vong để vong thoát khỏi địa ngục,vừa giải trừ ngiệp chướng cho người dương mà lại siêu độ được cho người âm,một công đôi việc,lại tiết kiệm kha khá tiền,không phải gia đình nào cũng có tiền bỏ ra một lúc mấy chục triệu ra chùa nhờ thầy lập pháp đàn độ vong mà chưa chắc đã có hiệu quả vì ngay tại pháp đàn đó có thấy cái vong nào về nhập xác nói là tôi nay được siêu đâu..?
Về Đầu Trang Go down
ggg
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI ĐI GỌI VONG    Fri Oct 21, 2011 8:22 pm



NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI ĐI GỌI VONG

-1, Gọi vong là một cách thông qua trung gian người có khả năng tiếp thông với thế giới siêu hình mà người trần gian được gặp mặt người âm nói chuyện,có rất nhiều cách để thỉnh được vong lên,hiện nay Minh Thiên sử dụng cách thỉnh vong lên trực tiếp nhập vào người nhà của vong. Để cuộc gọi vong có thể hoàn thành viên mãn,yêu cầu các gia đình phải biết và tuân thủ những điều sau :

-2, Cuộc gọi vong sẽ được tiến hành tại gia đình thân chủ,nếu có yêu cầu thì sẽ được tiến hành tại nhà Minh Thiên
-3,Trước lễ gọi vong 1 ngày gia đình lên thắp hương và đốt vàng tiền biếu ngài Thổ công,các quan sứ giả và khấn như sau :
Nam mô a di đà phật,nay gia đình chúng con tên là ....có tâm thành mong muốn gặp mặt thân nhân đã khuất tên là :
- bà tổ cô họ....
các hương linh tên là .....mất ngày..... âm lịch,mộ phần an táng tại ngiã trang ....xã...huyện ..tỉnh.....,thỉnh cầu chư vị thần linh thổ công thổ địa các quan sứ giả xin thông báo đến vong linh trên và tiếp dẫn họ về tại địa chỉ ....... để gặp mặt thân nhân.
-4, Gia đình khi bắt đầu chuẩn bị gọi vong thì lại thắp hương một lần nữa khấn như trên và cũng xin mời các vong đi về địa chỉ trên.
-5, Khi tiến hành lễ gọi vong yêu cầu thân nhân trong gia đình phải ăn mặc kín đáo không hở hang,không nên có mặt người hay đánh cãi nhau hay làm mất lòng vong lúc vong còn sống.
-6, Thành phần trong lễ gọi vong nên có từ 4 đến 6 người nếu nhiều nữ giới và người có căn đồng thì tốt hơn,vì nữ giới thì dễ nhập hơn nam giới,người đến gọi vong phải trong tình trạng sức khoẻ tốt và không quá già yếu hay có bệnh tật,tránh tình trạng bị vong nhập mất sức dẫn đến cực kỳ mệt mỏi.
-7,Gia đình nên chuẩn bị viết sẵn những câu hỏi cần thiết ra giấy tránh tình trạng vong lên chẳng biết hỏi cái gì,nên chuẩn bị máy ghi âm hay camera ghi hình.
-8, Nếu đến nhà Minh Thiên gia đình nên đem theo một ít bánh kẹo,1 chai rượu nhỏ,nước ngọt,trầu cau ,ca cốc, túi ni lon,khăn mặt để phục vụ vong cũng như để đựng rác đem về,không khạc nhổ vứt rác bừa bãi tuyệt đối giữ vệ sinh chung.
-9, nếu gọi vong tại nhà Minh Thiên thì không lên để tiền mặt lên ban thờ mà lên cho vào một cái phong bì ghi tên gia chủ đặt lên,vì tiền mặt qua tay rất nhiều người trần gian và rất không được thanh tịnh trong con mắt của thánh thần.
Trong trường hợp nếu vong không lên được mà không cần biết vì lý do gì do gia chủ hay do thầy,Minh Thiên sẽ chiếu theo tên thân chủ ngoài bao thơ mà trả lại cho gia đình,Minh Thiên chỉ nhận phí khi công việc thật sự hoàn thành và gia đình tâm phục khẩu phục.
10, Khi bước vào cuộc gọi vong yêu cầu gia đình tập trung ngồi vòng tròn quay mặt vào nhau,tạm thời tắt điện thoại hoặc để về chế độ im lặng tránh phân tâm lúc tập trung cao độ chờ vong nhập thân,các loại bùa phép,các loại đồ trang sức bằng bạc đều phải bỏ ra ngoài vì nếu để trong người vong sẽ không nhập được.
11, Tất cả mọi người đều phải im lặng nhắm mắt ngồi xếp bằng chờ vong nhập,khi phát hiện ra vong đã nhập Minh Thiên sẽ ra hiệu cho mọi người xung quanh biết mở mắt nói chuyện với vong.
12, Người có biểu hiện vong nhập thì hai mắt tuy nhắm nhưng sẽ chớp nháy giật liên tục, đầu hoặc sẽ bị đảo lắc hoặc chảy nước mắt hay khóc ra tiếng,tay chân sẽ bị lạnh,tim đập nhanh.Trong trường hợp bị nhập 70 % thì vẫn nhận biết được mọi người xung quanh làm gì nói gì nhưng không kiếm soát được ngôn ngữ lời nói cử chỉ hành động và sẽ phải làm theo tất cả những gì vong muốn dù mình không muốn,nếu bị nhập 100 % thì sẽ hoàn toàn mất hết tri giác lúc tỉnh lại không hề biết mình đã làm cái gì,cá biệt được mở con mắt thứ 3 nhìn thấy người âm,không ai có thể giả vờ là vong nhập được để mưu lợi riêng bởi vì khi vong đã nhập thì nhất định là tay chân phải lạnh toát và tim đập nhanh, để tránh bị lừa đảo xin mọi người lưu ý điều này.
13, Đây là các trường hợp vong không lên được: - Gia đình không có ai có căn tương hợp với vong ,vì vậy nên nếu vẫn còn tin tưởng ở nơi Minh Thiên thì lần sau gọi vong nên đổi gần hết toàn bộ số người đã ngồi lần trước mà thay vào bằng những người mới có khả năng tương hợp với vong, đàn bà thì nhiều khả năng dễ nhập hơn đàn ông.
- Vong bị chết trùng tang gia đình nhờ thầy pháp đến yểm bùa vào quan tài hay mộ hoặc gửi vong vào chùa Hàm long,trường hợp này muốn gọi lên gia đình phải thông báo rõ để Minh Thiên có biện pháp phương hướng gọi được vong lên.Nếu gia đình có yêu cầu Minh Thiên sẽ chỉ giúp cho gia đình phương pháp chống trùng tang mà không cần phải yểm bùa.
- Vong lúc sống làm nhiều việc công đức khi chết đựơc chư vị đón đi lên cõi trên hoặc làm quá ác bị đoạ xuống địa ngục,vong có lên được hoàn toàn do sự gia trì của phật thánh.
- Vong lúc sống chẳng ưa gì gia đình,hoặc gia đình cũng chẳng quan tâm gì đến vong.
- Gia đình không kêu khấn đến bà tổ cô.
- Vong chết chưa qua 49 ngày.
- Khi đi gọi vong trong gia đình có người buông lời phỉ báng hoặc không tin là vong là có thật.
- Gia đình có người đi cùng nhưng thờ ơ và bỏ ra ngoài uống nước tán gẫu làm vong rất tức giận.
- Lúc vong lên rồi mà chẳng biết nói gì hỏi gì thì vong đi luôn.
- Bát hương gia đình để lộn xộn ,nếu đúng theo trật tự thì mỗi gia đình nên có 3 bát hương,bên trái là bà tổ cô,giữa là thổ công ,phải là gia tiên và không được để tủ gương hoặc các loại gương chiếu vào ban thờ,khi gọi vong nếu trong phòng có các loại gương thì yêu cầu phải che kín bằng hết.
14,Khi vong đã lên rồi thì yêu cầu gia đình ngay lập tức xúm vào hỏi thăm vong thật nhiệt tình,xoa tay bóp chân vồn vã và mời vong ăn uống tuỳ theo sở thích của vong,có những vong khi lên khóc rất lâu,hoặc giả vờ không nhận con cháu,hoặc chẳng nói gì,trong trường hợp này gia đình phải hết sức kiên nhẫn thưa gửi chào hỏi dỗ dành cho đến khi vong hài lòng đồng ý nói chuyện với gia đình,vì chiều như chiều vong .
15,Trong trường hợp vong nhập xác quá lâu mà không chịu đi,nếu gia đình yêu cầu Minh Thiên sẽ có phương pháp giải vong giúp gia đình,tránh cảnh phải bê cả người lẫn vong về nhà như một số nơi vẫn gặp phải.
16,Có những vong được đưa từ địa ngục lên bị hộ pháp tiếp dẫn kẹp hai bên khi lên sẽ không được nói cái gì mà chỉ biết ôm mặt khóc,gia đình phải biết ý hỏi vong có phải là đang ở dưới địa ngục chịu tội không,nếu vong gật đầu xác nhận thì gia đình nên quỳ xuống xin phát nguyện quy y chư phật tu trì niệm chú hồi hướng cho vong để vong được nhờ công đức đó thoát tội,nếu gia đình đồng ý Minh Thiên sẽ giúp cho gia đình có phương tiện để tu trì giúp đỡ cho vong,sự giúp đỡ này hoàn toàn vô vụ lợi phát xuất từ lòng từ bi của đệ tử nhà phật.Chỉ có người thân trong gia đình mới có khả năng cứu độ được cho vong với hiệu quả cao nhất.Ngục tù dương thế đã khổ,ngục tù đường âm còn khổ gấp bội phần,có rất nhiều vong linh khổ sở đang ngày đêm ngóng trông người thân trên dương trần mở lòng từ bi cứu giúp,vì thân đã ở trong tù thì không còn có thể làm gì được nữa ngoài việc chịu đựng khổ đau.
Nếu thấy vong lên mà hai tay chập lại trong tư thế như bị khoá còng số 8 hoặc như đeo gông và ú ớ không nói được chỉ khóc thì đó là biểu hiện của người bị đoạ địa ngục,gia đình lên ngay lập tức chọn ra một người đại diện quỳ xuống chắp hai tay hứơng về các quan sứ giả đang kẹp 2 bên phạm nhân mà khấn nguyện như sau :
Nam mô A di đà phật,nay thân nhân cuả gia đình con tên là ...... đang bị chịu tội dưới địa ngục,chúng con xin phát nguyện quy y thập phương chư Phật tu trì mật pháp hồi hướng cho vong thoát cảnh địa ngục,nguyện xin hội đồng Phật Thánh,chư vị các quan soi xét chứng giám xin khai hồng ân cho phép vong linh ...... được khai khẩu nói chuyện với chúng con.
17, Có những vong lúc sống do có hứa hẹn làm gì đó cho công đồng tứ phủ nhưng đến tận khi chết vẫn chưa làm xong điều hứa ,vì vậy cụôc sống dưới đó cũng rất khổ cực,vì vậy gia đình nên lưu ý hỏi cho ra điều này để mà trả nợ tứ phủ cho vong.
18, Yêu cầu gia đình lên đọc kỹ và tuân thủ những điều trên để cuộc gọi vong được thành công.
19, Ngoài công tác gọi vong,gia đình nào có mong muốn được giúp về phần lễ bái ,tôn hương tôn tượng,động thổ nhập trạch di chuyển ban thờ bát hương,bị vong lạ theo,hoặc mắc những căn bệnh nghi bị phần âm hành muốn chữa chạy hoặc những ai khi chuẩn bị khai mở hay thi công những công trình như mở đường,xây nhà động thổ làm cầu cống mà không muốn bị rắc rối về phần âm ( lấy ví dụ như vụ thi công bờ kè sông Tô lịch vì chủ thi công do không biết là đụng vào trận đồ nên mới thân bại danh liệt) mà muốn giúp thì có thể liên hệ với Minh Thiên theo địa chỉ sau :
MINH THIÊN
0943666611
NHÀ SỐ 41 NGÕ 74 PHỐ THÀNH CÔNG,QUẬN BA ĐÌNH,THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NHÀ SỐ 31 NGÕ 78 PHỐ CẦU ĐẤT,QUẬN NGÔ QUYỀN,THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG.
Về Đầu Trang Go down
dddd
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: LINH HỒN CON NGƯỜI BẮT ĐẦU TỪ LÚC NÀO   Fri Oct 21, 2011 8:27 pm



LINH HỒN CON NGƯỜI BẮT ĐẦU TỪ LÚC NÀO

Như chúng ta đã biết, Linh Hồn là phần không thể tách rời Thể Xác con người, khi còn Sống cho đến sau khi Chết. Linh Hồn mang lại sự sống cho Thể Xác, và Linh Hồn có liên quan đến mọi mặt nhận thức, tư duy, tình cảm, tính cách con người. Một câu hỏi đặt ra là: Vậy Linh Hồn bắt đầu gắn với Thể Xác từ khi nào?

Có hai quan điểm:
Quan điểm thứ Nhất cho rằng con người có Linh Hồn từ lúc chào đời, từ khi lọt lòng mẹ.
Quan điểm thứ Hai cho rằng con người có Linh Hồn ngay từ lúc thụ thai.

Nếu theo quan điểm 1, cho rằng con người có Linh Hồn từ lúc chào đời, sẽ không phù hợp với thực tế, vì những em bé chết trong bụng mẹ, do hư thai, sẩy thai, phá thai v.v… vẫn có Linh Hồn trở về.

Nhưng nếu theo quan điểm 2, cho rằng Linh Hồn có từ lúc thụ thai, như vậy trong cơ thể người mẹ cùng lúc có 2 linh hồn, một Linh Hồn người mẹ, một Linh Hồn người con, điều này có thể chấp nhận không?

Tuy nhiên cho đến nay, người ta tin theo quan điểm thứ Hai, nghĩa là Linh Hồn chính thức gắn liền với Thể Xác từ lúc thụ thai, dựa trên những bằng chứng sau đây:

LINH HỒN NHỮNG EM BÉ CHƯA RA ĐỜI

Có rất nhiều câu chuyện từ những nhà ngoại cảm, những nhà thực hành tâm linh giao tiếp linh hồn, gọi hồn v.v… kể về Linh Hồn của những em bé chết khi chưa ra đời.

NNC Hoàng Thị Thiêm đã giao tiếp được với Linh Hồn em bé 17 ngày tuổi (tính từ ngày thụ thai). Đây là trường hợp Linh Hồn nhỏ tuổi nhất đã được ghi nhận. Em nói rất giận ba em, vì ba đã giục mẹ đi phá thai, em kể chi tiết Ba chở mẹ đến trạm y tế xã vào lúc 3 giờ chiều ngày 13/04/20…., cô y tá mặc đồ màu xanh, đầu đội nón vải xanh, khẩu trang màu xanh, cô tên Th…, cô đã lấy bé từ trong bụng mẹ ra ngoài, bỏ vào thùng rác… Lúc đó ba ngồi hút thuốc ở ngoài hiên trạm xá…

Rất nhiều câu chuyện về Linh Hồn những em bé từ một tháng tuổi trở lên đã được mời về gặp gỡ cha mẹ, các em đã kể lại chi tiết việc cha mẹ bàn tính phá thai như thế nào. Các bà mẹ rất bất ngờ vì bản thân mình không nhớ đến bệnh viện ngày nào, phá thai như thế nào v.v… nhưng đối với Linh Hồn các em thì đây là việc quan trọng, các em không thể nào quên.

Những em bé kém may mắn chưa kịp chào đời, chưa được đặt tên, thậm chí cha mẹ không biết con trai hay gái. Tất cả Linh Hồn các em được gọi tên chung là Bé Đỏ (vì còn đỏ như giọt máu). Các em bị cha mẹ lãng quên, không được thờ cúng, không có ngày giỗ, không ai quan tâm cho các em siêu thoát, nhưng ngược lại, các em vẫn tồn tại, vẫn lẩn quẩn bên cha mẹ, anh chị em trong nhà. Linh Hồn những Bé Đỏ này đối nhân xử thế ra sao với cha mẹ chúng, với gia đình, với xã hội v.v…, sẽ được tìm hiểu trong phần sau.

TUỔI MỤ CỦA EM BÉ

Theo dân gian, người ta thường tính tuổi Ta và tuổi Tây. Một người 20 tuổi Tây (theo dương lịch) sẽ có 21 tuổi Ta. Tương tự như vậy, một người qua đời lúc 70 tuổi, sẽ được tính hưởng thọ 71 tuổi.

Lý do được tính thêm tuổi là được cộng thêm 9 tháng tuổi của bào thai khi còn trong bụng mẹ, được làm tròn thành 1 tuổi. Tuổi cộng thêm được gọi là tuổi Mụ, với ý nghĩa tuổi do Bà Mụ cho, vì khi còn trong bào thai em bé chưa biết gì.

Điều này cho thấy quan niệm dân gian đã công nhận một con người từ khi thụ thai, từ trong bào thai. Khi em bé ra chào đời, em bé đã có 9 tháng tuổi, làm tròn một tuổi. Và có nghĩa là Linh Hồn cũng chính thức nhận nhiệm vụ kể từ thời điểm ấy, sẽ gắn bó không tách rời với Thể Xác từ thời điểm ấy.

CON CẦU CON TỰ

Chúng ta đã biết quá trình thụ thai khi tinh trùng của người Nam gặp trứng của người Nữ. Quá trình này diễn ra rất dễ dàng khi sức khoẻ của hai người bình thường, tuổi của người Nam từ 14 tuổi đến 70 tuổi, tuổi của người Nữ từ 13 tuổi đến 70 tuổi. (Cá biệt người Nam đến 90 tuổi và người Nữ đến 70 tuổi vẫn có khả năng sinh con). Trứng chỉ sống trong khoảng thời gian ngắn chừng 10 - 24 giờ, Tinh trùng có khả năng sống tối đa 3 ngày trong tử cung, chờ cơ hội gặp trứng để thụ thai.

Hiện tượng hiếm muộn con hoặc không sinh con xảy ra khi sức khoẻ người Nam hoặc người Nữ không bình thường, cơ quan sinh sản bị dị tật, chất lượng trứng của người Nữ hoặc tinh trùng người Nam không tốt v.v… Trường hợp này cần sự can thiệp của Khoa Hiếm Muộn tại các bệnh viện.

Tuy nhiên trong điều kiện hoàn toàn lý tưởng, hai người Nam và Nữ có sức khoẻ hoàn toàn bình thường, cuộc sống hạnh phúc, nhưng vẫn không thể sinh con, quá trình thụ thai không thể diễn ra. Tại sao như vậy?

Có người giải thích rằng do số phận họ hiếm muộn con, hoặc do lá số Tử Vi cả hai vợ chồng có sao Cự Môn tại cung Tử Tức, gặp Tuần Triệt, hoặc do vợ chồng phước đức mỏng, nghiệp quả dày, nên chịu cảnh tuyệt tự v.v…

Như vậy chúng ta thấy rằng quá trình thụ thai như nói trên, gồm hai thành phần tham gia tinh trùng người Nam và trứng của người Nữ là chưa đầy đủ. Cần phải có một thành phần thứ Ba tham gia, đó chính là Linh Hồn, thì quá trình thụ thai mới thực hiện được.

BA THÀNH PHẦN CƠ BẢN: TRỨNG - TINH TRÙNG - LINH HỒN


Ba thành phần chính tham gia quá trình thụ thai là:
+ Trứng người Nữ
+ Tinh trùng người Nam
+ Linh Hồn
Nếu vì lý do nào thiếu một trong 3 thành phần nói trên, sẽ không thụ thai và sinh con được.

Chúng ta biết có những vợ chồng hiếm muộn thường xuyên đi lễ cầu nguyện đã được toại nguyện, bởi vì Linh Hồn là đối tượng được điều khiển bởi những nơi tâm linh như chùa chiền, nhà thờ, đền đài, miếu mạo, di tích v.v… nhờ oai lực của các chư vị bề trên đã tạo điều kiện cho một Linh Hồn đến đầu thai. Những đứa con hiếm muộn, nhờ cầu nguyện mà thành, được gọi là con Cầu, con Tự.

Chúng ta cũng có thể giải thích hiện tượng vợ chồng khoẻ mạnh nhưng hiếm muộn con, do Linh Hồn bị ngăn cản không cho tham gia quá trình thụ thai, thì không thể có con được.

Lý do vì sao Linh Hồn bị ngăn cản không cho tham gia quá trình thụ thai? Có thể giải thích vì vấn đề nghiệp quả, phước đức chưa đủ, hoặc bị một vong ngoại lai ngăn cản, nhưng cũng có thể bị chính vong anh hoặc chị bị phá thai trước đó, bây giờ muốn phá, ngăn cản không cho đứa em hình thành.

CHA MẸ SINH CON TRỜI SINH TÁNH

Mỗi chúng ta được hình thành bắt đdầu từ những hạt bụi, quá trình thụ thai hình thành một phôi thai, sau đó là quá trình phân chia tế bào rất phức tạp để hình thành một con người trong bào thai. Thời gian là 280 ngày, tương đương 9 tháng 10 ngày.

Khi em bé sinh ra sẽ mang bộ gien của cha và mẹ. Khoa học đã biết phần Thể Xác con người được quy định bởi bộ gien di truyền từ cha mẹ truyền sang con. Sự truyền mã gien này là lý do con cái rất giống với cha mẹ, về hình dáng, nét mặt, từ dáng đi, điệu bộ, cho đến từng chi tiết mắt, môi v.v…

Từ xưa ông bà chúng ta đã nói rằng cha mẹ có thể sinh con, nhưng không thể biết tính cách đứa con sẽ như thế nào, dường như tính cách đứa con do Trời sắp đặt!

Nếu chúng ta công nhận giả thuyết Linh Hồn gắn với thân xác từ khi bắt đầu thụ thai, và Linh Hồn giữ vai trò quyết định mọi hành vi, tính cách, suy nghĩ, tình cảm con người trong suốt cuộc đời, sẽ dễ dàng hiểu được Linh Hồn không phải do cha mẹ tạo ra, mà dường như do Bà Mụ sắp đặt, Trời Đất sắp đặt, do Tạo Hóa sắp đặt, đúng như ông bà đã nói trên.

LINH HỒN CON NGƯỜI HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO

Trong điều kiện bình thường, để Linh Hồn tham gia quá trình thụ thai phải hội đủ những điều kiện sau đây:

1. Sức khoẻ người Nam (cha) và người Nữ (mẹ) bình thường, không bệnh tật.
2. Trứng và tinh trùng đạt chất lượng, khả năng di chuyển gặp nhau đúng lúc, không quá sớm, hoặc quá muộn.
3. Linh Hồn đủ phước đức làm con, và cha mẹ đủ duyên nghiệp.

Thời điểm tinh trùng gặp trứng, phôi thai hình thành, là lúc Linh Hồn bắt đầu liên hệ với mầm sống mới. Linh Hồn mang 4 đặc tính:

1. Tính Biến Hóa, có thể di chuyển tự do mọi lúc, mọi nơi.
2. Tính chất Sống, khi hiện hình như một màn khói, có hình dạng người với đầy đủ các bộ phận hoạt động.
3. Tính Minh Triết, có đầy đủ các giác quan và có khả năng giao tiếp.
4. Tính Bất Tử, tồn tại một cách độc lập, không thể mất đi.

Quá trình phát triển của bào thai từ tháng thứ nhất đến tháng thứ sáu hình thành các cơ quan, bộ phận trên cơ thể. Cấu tạo Thể Xác đã được lập trình sẵn trong bộ gien di truyền từ cha mẹ truyền sang con, quyết định về hình dáng, đặc điểm Thể Xác của em bé sau này. Thời gian này Linh Hồn có vai trò giám sát sự hình thành và phát triển của Thể Xác.

Từ tháng thứ bảy đến tháng thứ chín khi hệ thần kinh của em bé hoàn chỉnh và bắt đầu hoạt động, cũng là lúc Linh Hồn thực hiện vai trò điều khiển hoạt động Thể Xác em bé. Thời gian này em bé đã biết nghe âm thanh, biết cử động, biết vui buồn, biết suy nghĩ và có mối liên hệ tình cảm với người mẹ và người thân gia đình.

Thời gian này có sự mâu thuẫn giữa Thể Xác và Linh Hồn: Thể Xác em bé có các giác quan nhưng chưa nhìn, ngửi, sờ, trong khi Linh Hồn em bé được tự do bay nhảy bên ngoài, tiếp nhận thông tin bên ngoài. Thể Xác chỉ biết tiếp thu những thông tin Linh Hồn cung cấp mà không có điều kiện kiểm chứng sự thật.

TINH – KHÍ – THẦN HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO

Cấu trúc phần cơ thể như đã biết sẽ được hình thành theo một chương trình đã được lập trình sẵn trong bộ gien. Từ đó, các bộ phận cơ thể được tạo thành. Bộ gien con người được tiếp nối, sao chép từ cha mẹ, ông bà, ông sơ bà sơ, mặc dù gọi là thân Tứ Đại (bốn đời), nhưng thực ra chúng ta mang gien di truyền từ nhiều đời.

Cấu trúc hệ thần kinh cũng được hình thành, đây là cơ sở hạ tầng giúp cho Linh Hồn hoạt động và phát huy tác dụng điều khiển toàn bộ phần Hồn cho cơ thể, bao gồm tư duy, tình cảm, tính cách, cảm xúc v.v…

HỆ KINH MẠCH

Đầu tiên 5 kinh mạch nơi tim hình thành cùng lúc: Kinh mạch trung ương, Kinh mạch phải, Kinh mạch trái, Kinh mạch Tam Vi bên phía đông (đằng trước) và Kinh mạch Ái Dục bên phía nam (bên phải).

Sau đó, 3 kinh mạch hình thành cùng lúc: Kinh mạch Phi Kết trụ ngay (đằng sau) kinh mạch trung ương, Kinh mạch Thủ Gia bên phía tây (sau lưng), và Kinh mạch Nội Hỏa bên phía bắc (bên trái).

Tiếp theo đó 4 kinh mạch của 4 hướng chính (tại tim) phân ra làm hai, tạo thành 4 kinh mạch cánh sen của các hướng trung gian.

Tiếp tục phát triển, 8 kinh mạch – cánh sen tại tim phân nhánh làm 3 mỗi thứ, tạo thành 24 kinh mạch toả ra 24 nơi khác nhau. Mỗi kinh mạch của 24 kinh mạch lại phân nhánh tiếp làm 3, tạo thành 72 kinh mạch.

Cuối cùng mỗi kinh mạch của 72 kinh mạch lại phân thành một ngàn, tạo thành 72000 kinh mạch của thân thể.

SỰ HÌNH THÀNH CỦA KHÍ

Quá trình xảy ra như sau:
Tháng đầu tiên sau khi hình thành mầm sống mới trong tử cung, khí trợ sinh thô khởi ra từ khí trợ sinh vi tế.
Tháng thứ hai, khí chuyển hạ xả rỗng sinh ra từ khí trợ sinh; lúc đó cơ thể đã có năm chi mọc ra như con rùa.
Tháng thứ ba, hỏa khí sinh ra từ khí chuyển hạ xả rỗng; lúc đó phần trên cơ thể đã hơi cong lại, mang hình dạng như con gấu rừng.
Tháng thứ tư, khí chuyển thượng sinh ra từ hỏa khí; lúc đó, phần trên cơ thể đã hơi lớn phình ra, giống hình dạng con sư tử.
Tháng thứ năm, khí toàn thân sinh ra từ khí chuyển thượng; lúc đó cơ thể mang hình dạng như một chú lùn.
Tháng thứ bảy, khí (phụ) di chuyển qua cánh cửa của hai tai – gọi là “chuyển động mạnh” – và Thủy đại được hình thành.
Tháng thứ tám, khí (phụ) di chuyển qua cánh cửa của hai lỗ mũi – gọi là “chuyển động hoàn toàn” – và Hỏa đại được hình thành.
Tháng thứ chín, khí (phụ) di chuyển qua cánh cửa của lưỡi – gọi là “chuyển động kiên cố” – và Khí đại được hình thành.
Trước khi chào đời, khí (phụ) di chuyển qua cánh cửa thân – gọi là “chuyển động cuối cùng” – và Không đại được hình thành; lúc đó các khoảng không trong cơ thể xuất hiện.

Về cách cấu tạo của các giọt khí, khối hợp chất tinh túy gồm các phần tử (giọt) trắng và đỏ cũng như là khí cực vi và tâm thức, kích thước bằng hạt mù tạt, trụ trong một khoảng trống nhỏ của luân xa trung ương tim, được gọi là “khí bất hoại” (vì nó không bị hủy hoại cho đến khi chết).

Từ giọt khí trắng, một phần đi lên phía trên đến luân xa hoa sen Bách Hội tại đảnh đầu và trụ lại ở đó. Nó làm tăng trưởng trực tiếp và gián tiếp các giọt khí trắng ở những nơi khác của thân thể.

Từ giọt khí đỏ ở tim, một phần đi xuống phía dưới vào trong luân xa hoa sen tại Đan Điền và trụ lại ở đó; nó được gọi là “nội hỏa.” Nó làm tăng trưởng trực tiếp và gián tiếp các giọt khí đỏ ở những nơi khác của thân thể.

Dù chỉ có một phần của mỗi khí trụ lại tại mỗi luân xa hoa sen, giọt khí Bách Hội trụ ở đảnh đầu là nguồn điều khiển chính sự tăng trưởng của các giọt trắng; trong khi luân xa hoa sen Đan Điền là nguồn điều khiển chính sự tăng trưởng của các giọt đỏ.

Luân xa hoa sen ở tim cũng là nguồn điều khiển chính sự tăng trưởng của các giọt khí trắng và đỏ. Bất kỳ lúc nào cần thiết, các giọt khí trắng và đỏ sẽ được tạo thành, chứ không như nước đổ sẵn trong bình.

THOÁT THAI

Suốt 9 tháng 10 ngày Tôi nằm trong tử cung ẩm ướt, ngột ngạt, tối tăm, giờ đây em bé muốn tìm nơi sáng sủa, rộng thoáng hơn. Tôi cố vùng vẫy nhưng càng vùng vẫy Tôi càng cảm thấy ngợp vì hình như cái phao nhau thai – bình cung cấp dưỡng khí của Tôi sắp bị lủng. Tiếng sấm rền mỗi lúc một to quanh đây, chính là tiếng rên la của người mẹ làm Tôi hoảng sợ tột cùng. Tôi nhắm mắt nhắm mũi liều mình nhoài người, co cẳng đạp mạnh. Thật không ngờ một tấm thân yếu ớt như Tôi lại có sức mạnh như thế. Một cảnh vỡ đê diễn ra, người mẹ vỡ ối, Tôi có cảm giác biển nước mà Tôi ngụp lặn trong đó từ từ cạn đi và mình đang được dòng nước ối cuốn đi qua một đường hầm tối om, ẩm ướt đầy rêu phong của âm đạo người mẹ. Đây rồi! Cửa mở ra, em bé chào đời. Một màn màu trắng xuất hiện làm mắt Tôi chói lòa. Tôi cố mở mắt ra nhìn xung quanh, không thấy cái biển nước nữa. Tôi thấy ngộp thở quá. Hai chân Tôi lúc trước khỏe thế mà giờ đây không giãy dụa được, ai đó đã túm hai chân Tôi dốc ngược lên, nước trong miệng tôi ộc ra tung tóe vì hình như có cái gì đó lọt vào miệng tôi, như ngón tay ai đó đã móc đờm dãi trong miệng Tôi. Tôi cảm thấy ân hận giá như mình cứ hồn nhiên vui đùa trong cái biển nước ấy thì bây giờ mình không bị trói buộc và chết ngạt như thế này! Tôi nhắm mắt tính kế thoát hiểm. Tôi nhớ ra là mình phải cầu cứu mẹ thôi. Tôi gọi mẹ thật to, tiếng Tôi khóc chào đời đấy. Tôi lắng nghe âm thanh gì đó đáp lại, nhưng nó chẳng êm tai được chút nào. Tôi thấy khó chịu vì đầu óc quay cuồng, Tôi lơ mơ thấy mình nằm trên một tấm nệm trắng xóa, âm thanh chát chúa lại vang lên của tiếng dụng cụ kim loại loảng xoảng, ai đó cầm sợi dây rốn Tôi làm máu huyết trong người Tôi nhộn nhạo. Tiếng sét vang lên, ai đó cắt đứt sợi dây rốn của Tôi. Tim tôi muốn vỡ ra từng mảnh và Tôi ngủ thiếp đi. Tỉnh lại tôi thấy mình nằm bên cạnh mẹ. Tôi đã chào đời như thế đó.

TpHCM, 28/06/2008
Thái Minh Mẫn
(Ghi chép từ Thông tin Ngoại Cảm,
Tài liệu nghiên cứu của CLB Tiềm Năng Con Người Phía Nam)
Về Đầu Trang Go down
bbbbb
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM CỦA LINH HỒN   Fri Oct 21, 2011 8:31 pm



ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM CỦA LINH HỒN

Từ khi biết Linh Hồn tồn tại như một dạng vật chất sống, vấn đề được quan tâm là những diễn biến tâm lý, tình cảm của Linh Hồn. Đây là đặc điểm kỳ lạ nhất chúng ta được biết về Linh Hồn.

Đời sống tình cảm con người rất mênh mông và không kém phần bao la, sẽ không đủ thời gian và giấy mực ghi chép tất cả các câu chuyện, nên chúng ta chỉ tìm hiểu một số câu chuyện Hỉ - Nộ - Ái - Ố của Linh Hồn như sau đây:

KHI CÁC LINH HỒN VUI

Câu chuyện Bích Hằng bị chọc ghẹo:
…Khi đến nghĩa trang liệt sĩ thì nghe được muôn vàn tiếng nói, nhiều kinh khủng, anh thì nói, anh thì hát, anh thì gõ bát, gõ đũa. Nhiều khi đi tìm mộ liệt sĩ cháu nghĩ phải chi mình là đàn ông thì phải, bởi vì mình là phụ nữ nên các anh cũng hay trêu chọc, ở cõi âm người ta cũng có cuộc sống tinh thần chứ, người ta cũng chơi đùa…

Trích băng ghi âm Hội nghị UIA 2006
[Chỉ thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...]

KHI CÁC LINH HỒN BUỒN

1. Câu chuyện liệt sĩ ở Tây Nguyên:
Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng kể chuyện liệt sĩ ngậm ngùi than thở rằng:
… Khi mà đến đấy xác định vị trí thì hóa ra là hài cốt của liệt sĩ nằm gần nhà vệ sinh của nhà bác Hồ Văn Khanh ở khu phố 8 Thị trấn Kbang và nằm dưới nhà tắm của một nhà hàng xóm của bác Khanh, đúng là nhà đấy có 2 cô con gái thật.
Hôm mà các đồng chí trong đội tình nguyện đào lấy được hài cốt đấy đi thì… tôi thì chỉ đạo ngoài Hà Nội thì liệt sĩ ấy ngậm ngùi nói rằng “Thôi tạm biệt mọi người, tôi đi về nghĩa trang đây. Nhưng mà buồn lắm”. Hỏi “Buồn làm sao?” “Từ nay trở đi chả được ngắm cháu Yến tắm nữa”.

2. Những trường hợp gia đình gặp lại Linh Hồn trở về sau bao năm tháng lìa bỏ gia đình, xa cách người thân, nay gặp lại đa số Linh Hồn đều bật khóc.

Linh Hồn khóc vì vẫn còn quyến luyến tình cảm dành cho người thân.
Họ khóc vì những chuyện hiểu lầm khi còn sống.
Họ khóc vì chưa phụ giúp người thân, chưa báo ân báo hiếu cha mẹ, ông bà.
Họ cũng khóc tủi thân vì sự lãng quên của người đang sống đối với họ.

Hiếm thấy các buổi giao tiếp vong linh nào Linh Hồn trở về trong trạng thái thỏa mãn, cười vui phấn khởi.

KHI CÁC LINH HỒN NỔI GIẬN

1. Câu chuyện bố vợ và con rể:
Trong buổi giao tiếp vong linh người bố, người đến gặp là con gái, con rể, và mẹ chồng. Linh hồn người bố vừa xuất hiện nói ngay vấn đề con rể thường xuyên rượu chè, say sưa, không lo làm ăn, về nhà chửi mắng vợ, mâu thuẫn thường xuyên giữa hai vợ chồng. Ông bố còn biết rõ mỗi lần chồng mắng vợ xúc phạm tới bố mẹ vợ, ông nói rằng mỗi lần chửi vợ là chửi luôn đến ông. Linh Hồn bố vợ giận dữ bảo rằng nếu tái phạm ông sẽ không để cho yên đâu.

Sau khi khuyên dạy rất nhiều với con gái, gởi gắm trách nhiệm với bà mẹ chồng đang có mặt, ông bố quay sang con rể từ nãy đến giờ ngồi chịu trận, tuy tâm phục linh hồn người bố biết rõ mọi chuyện, nhưng miệng vẫn chống chế một câu: “Chúng con còn nhiều vấn đề lắm, bố ở dưới đó không hiểu đâu !“. Ông bố chất vấn tiếp: “Anh còn vấn đề gì nữa?“. Người chồng không trả lời được.
[Chỉ thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...]

2. Câu chuyện buổi liên hoan điên loạn:
Chuyện xảy ra với tập thể công nhân một Công ty tại Khu công nghiệp Bình Dương. Buổi liên hoan tổng kết năm 2006, đón xuân 2007 tổ chức tại nhà xưởng, diễn ra vui vẻ, cho đến trước khi kết thúc thì chuyện lạ xảy ra, các công nhân bị trạng thái mất tự chủ, ca hát, la hét, nói lảm nhảm, nhức đầu, đau bụng. Hiện tượng xảy ra dây chuyền trong số vài chục công nhân, cả nam và nữ, những người không biết uống bia cũng có biểu hiện tương tự.
Ban Giám đốc cho công nhân cấp cứu tại Bệnh viện Đa Khoa Thủ Đức. Tại đây bác sĩ kết luận không bị ngộ độc thực phẩm (có triệu chứng nhức đầu, đau bụng, nhưng không nôn ói, không kiệt sức như thường thấy, ngược lại sức khoẻ tốt và rất hiếu động), cũng không phải do say xỉn (người không uống bia cũng có triệu chứng như thế).

Công nhân được đưa tới một ngôi chùa lớn khu vực gần đấy, nhờ các cao tăng trừ tà ma nhưng không có kết quả, nhiều công nhân vẫn không chịu khuất phục, ca hát, la hét rất hiếu động.

Sau đó có người đề nghị đưa các công nhân đến chỗ cô Hai Thủ Đức, khoảng ba mươi công nhân trạng thái điên loạn ào vào chật sân nhà cô Hai, lần lượt được cô Hai và những trợ lý cho cô giúp bấm huyệt, phun nước phép, họ dần thức tỉnh và trở lại trạng thái bình thường. Còn lại hai nam công nhân vẫn nằm lăn ra sân, nhất định không chịu thọ lãnh phép hóa giải. Cô Hai nhờ người hộ tống dẫn vào, bắt ngồi xếp chân bàn tọa đối diện và bắt đầu thủ tục tra xét. Hai công nhân này mới chịu khai nhận: họ là những Linh Hồn đang trú trong khu vực nhà xưởng Công ty, họ có mặt tại buổi liên hoan nhưng không được ai đón tiếp, mọi người ăn uống vui vẻ, nâng ly chúc tụng nhau ngay trước mặt họ, mà không mời những Linh Hồn cùng hưởng, nên khích động các Linh Hồn cùng chọc phá công nhân cho bõ ghét!
Các Linh Hồn khai nhận rằng, họ ở ngay bên dưới hồ nước của Công ty, chứa nước để uống và nấu ăn hàng ngày cho công nhân. Mỗi khi họ giận, sẽ làm cho công nhân uống nước trong hồ sẽ bị đau bụng. Điều này phù hợp với thực tế thường xảy ra tại Công ty.

KHI CÁC LINH HỒN BIẾT YÊU
Những chuyện tình Hai cõi Âm Dương

1. Chuyện hai liệt sĩ nam nữ cùng chung chiến hào:
Nhà ngoại cảm Võ Công Phương đi tìm hài cốt một nữ liệt sĩ. Khi đến nơi theo sự chỉ dẫn thì xuất hiện linh hồn một liệt sĩ nam, làm cho NNC Võ Công Phương bối rối, tưởng tìm nhầm mộ. Sau khi trao đổi với linh hồn nam liệt sĩ, thì được biết rằng thời chiến tranh hai người thương nhau, luôn chiến đấu sát cánh bên nhau. Vào thời điểm hy sinh, anh ấy đã lấy thân mình che chắn lửa đạn cho nữ liệt sĩ, và hai người đã hy sinh.

Hơn 35 năm hai liệt sĩ nằm lại cùng nhau trong một ngôi mộ, nay NNC Võ Công Phương hướng dẫn gia đình đưa hài cốt nữ liệt sĩ trở về, liệt sĩ nam không đồng ý, anh ấy xuất hiện muốn che mắt mọi người không cho tìm mộ nữ liệt sĩ. Cuối cùng, vì nhân duyên ấy, mà cả hai liệt sĩ cùng được gia đình đưa về nghĩa trang.

2. Chuyện tình Liêu Trai:
Trên TGVH chúng ta được nghe tỷ Fatalshears kể câu chuyện Có phải mắc Đàng dưới ? trong đó có những giấc mơ lãng mạn:

…Vấn đề của em xảy ra khi em được 24 tuổi và sau khi thất bại với người bạn trai không thể tiến tới hôn nhân. Cũng xin nói thêm, em là 1 phụ nữ khó tính...khó tính ngay khi còn nhỏ và nghiêm túc nên đến 24 tuổi mới quen biết người bạn trai đầu tiên...

Mọi việc...sinh hoạt của em bình thường cho đến khi 24 tuổi và có bạn trai thì bắt đầu hàng đêm luôn luôn mơ thấy những trò trai-gái tục tĩu...có khi mỗi đêm ...có khi cách đêm...có khi là người quen...có khi là người lạ...

Điều này em giữ kín... không chia sẻ cùng ai... kể cả Mẹ em... vì cảm thấy thật kinh tởm và xấu hổ...vì nếu ai biết em hay mơ như thế sẽ cho em là loại phụ nữ dâm loạn hư hỏng....xin thưa rõ hơn là bản thân em không hề quan tâm nghĩ đến hay chưa một lần xem các phim đen nên khó cho là ám ảnh, ban ngày nghĩ sao thì ban đêm mơ vậy. Vì theo khoa học hiện đại thì sẽ cho rằng hiện tượng trên là do nhu cầu sinh lý...như các em trai mới lớn...

Rồi dự kiến hôn nhân đầu tiên thất bại sau 2 năm quen biết...em đã 26 tuổi ...
Hai năm sau thiết lập mối quan hệ thứ 2. Cũng không thành...

Sau lần đó... do buồn ...và do bạn bè rủ rê... em có theo bạn đi xem bói và thầy cho biết em có một Vong nam đi theo... ngăn cản việc hôn nhân...Vong này đã "đắc đạo" nên mặc áo trắng... cưỡi ngựa trắng...rất cao tay v.v…và v.v... Thầy cũng hướng dẫn cúng kiến sao đó... nhưng rất đơn giản ...và bây giờ thì em mới kể cho Mẹ em nghe những giấc mơ quái đản của mình… ngày càng ghê gớm... là một phụ nữ độc thân đứng đắn...mà ngoài việc trai-gái tục tĩu…em còn mơ thấy cả việc sinh nở … và thậm chí sinh ra một con mèo....

… Sau khi đi nằm từ lúc hơn 10h cho đến khi xảy ra sự việc thì em xin khẳng định...em không hề chợp mắt... dù chỉ 1 giây... và bỗng dưng em nghe những tiếng gõ rất lớn...gõ đều đều vào lan can sắt của balcon....càng lúc càng lớn... Người khác không ai nghe... dù đêm khuya thanh vắng... Vốn gan dạ ... nên em lập tức trở dậy…đi ra phòng ngoài...và vừa ra đến cửa ngăn thì em nhìn thấy rất rõ một cái bóng trắng toát ngay bên ngoài cửa sổ...
[Chỉ thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...]

3. Chuyện Yêu nhau cởi áo cho nhau:

Trần Thanh P., 32 tuổi ở xã Bình Đường, huyện Dĩ An, Bình Dương, bị bệnh tâm thần 18 năm. Anh sống như kẻ lang thang, la cà ngoài bờ sông, ăn bụi nằm bờ, mất trí nhớ hoàn toàn, thỉnh thoảng lên cơn động kinh, la hét, tấn công mọi người. Năm 2007 gia đình đưa Trần Thanh P. đến cô Hai Thủ Đức chữa bệnh tâm thần, mới hé lộ một câu chuyện tình thật cảm động và oan nghiệt:

Hồi còn học cấp 2 khi P. 14 tuổi, em học rất thông minh, vui vẻ và ham hoạt động. Em có thú vui đi tắm sông gần nhà. Hôm ấy em cởi áo quần học sinh máng lên cành cây, mặc quần đùi nhảy xuống tắm sông. Mải mê bơi lội, vùng vẫy dưới nước cả tiếng đồng hồ, khi lên bờ lạnh run tay chân, lấy chiếc quần dài mặc vào, khi lấy chiếc áo thì bỗng một làn gió thổi chiếc áo bay xuống nước, vừa lạnh, vừa run, em P. không muốn nhảy xuống sông lấy áo, đứng nhìn chiếc áo lượn lờ trôi dần ra giữa dòng nước…
Buổi tối hôm ấy em lên cơn sốt, khi tỉnh, khi mê, nói lảm nhảm trong lúc mê sảng, và em bị bệnh tâm thần từ đó đến nay, thường chơi la cà gần con sông ấy.

Cô Hai nhận diện trong người anh Trần Thanh P. đang có vong một người con gái theo anh 18 năm nay, cô Hai đã thuyết phục người con gái buông tha cho anh P., cô gái ấy đã nhất định một mực không chịu từ bỏ, với lý do cô đã sống như vợ chồng với anh P. 18 năm qua, khóc than thảm thiết, dập đầu xuống đất dùng khổ nhục kế van xin cô Hai cho ở lại với anh P., đừng chia rẽ hai người.

Cô Hai đã kiên quyết dùng oai lực buộc cô gái phải chấp nhận nguyên tắc Âm Dương cách trở, phải trở về thế giới vô hình, tu tập tinh tấn để chờ vận hội luân hồi, trả lại cho anh P. cuộc sống làm người khoẻ mạnh. Trước những lời giáo huấn nghiêm khắc, cô gái ấy đành chấp nhận sự phán xét của cô Hai, nhưng tiếp tục khóc than đau khổ như cảnh chia ly vợ chồng thực sự, van xin cô Hai cho phép ở lại đêm cuối cùng với anh P., hẹn đến 9 giờ sáng hôm sau sẽ ra đi.

Suốt đêm hôm ấy, người nhà anh P. cho biết, cô gái trong thân xác anh P. nằm úp mặt vào vách, khóc rưng rức thâu đêm tới sáng,

Đúng như lời hẹn, gia đình đưa anh P. đến gặp lại cô Hai, chuẩn bị rất nhiều lễ vật như áo quần, tiền vàng mã, đồ dùng cá nhân nhiều món, đúng 9 giờ sáng, cô Hai tiễn Linh Hồn cô gái ra khỏi thân xác anh P., trở về cõi vô hình.

Mọi người được nghe cô gái nhắc lại chuyện xưa cách đây 18 năm, cô là Linh Hồn một thiếu nữ tự tử trên khúc sông định mệnh. Cô nhìn thấy anh P. xuống tắm ở khúc sông này, và tình cảm sét đánh nhanh chóng khiến cô đem lòng yêu thương anh P. Chính cô đã thổi chiếc áo anh P. bay xuống nước, định chọc ghẹo để anh P. phải lội xuống nước chơi với cô lâu thêm nữa. Mối tình Âm Dương ấy ngày càng bền chặt hơn, cô gái càng yêu anh P. bao nhiêu, thì bệnh tâm thần của anh P. càng nặng thêm bấy nhiêu, trong suốt 18 năm, một thời gian khá sâu nặng đối với bất kỳ cuộc tình nào trên thế gian này.

Chính vì vậy, mọi người cũng đã chứng kiến cảnh chia tay đầy nước mắt, đầy tiếc nuối của Linh Hồn cô gái, ra đi trong những tiếng khóc nấc nghẹn ngào. Và cũng từ thời điểm ấy, bệnh tâm thần của anh Trần Thanh P. tự nhiên biến mất.
Về Đầu Trang Go down
nnnn
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: SỨC MẠNH LINH HỒN   Fri Oct 21, 2011 8:36 pm



SỨC MẠNH LINH HỒN

Trong chúng ta đa số mọi người nghĩ rằng: Linh Hồn nếu có chăng chỉ là một cái bóng mờ ảo. Linh Hồn như ánh sáng vô hình, làm gì có sức mạnh được chứ?

NHẮC LẠI NHỮNG CÂU CHUYỆN MA

1. Chuyện ma đánh trống:
Săn tìm ma không phải chuyện mới, một trong những người săn tìm ma đầu tiên là Joseph Glanvill (1636-1680) nhà văn, nhà thần học và tuyên úy của vua Charles II nước Anh.

Glanvill dành nhiều thời gian đi sưu tầm những chuyện ma trên những hòn đảo thuộc Anh. Ông được mọi người biết vì đã khám phá bí ẩn những tiếng trống ma quái ở làng Tedworth, được kể lại trong cuốn sách nổi tiếng “Saducismus Triumphatus”.

2. Chuyện ma ném đá:
Con ma có nhân chứng, vật chứng đầu tiên được ghi nhận vào năm 856 sau công nguyên ở một nông trại trên bờ sông Rhine nước Đức. Hồn ma đã liên tục hăm dọa mọi người bằng những hiện tượng như ném đá, đập tường và đốt lửa. Thậm chi khi các thầy chủ lễ đến, tay cầm kinh thánh bước vào nhà, đã bị ném những hòn đá rất mạnh.

Tham khảo:
[Chỉ thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...]

3. Trên kênh truyền hình Discovery suốt 3 tháng đầu năm 2007, có loạt phóng sự nhiều tập về Chuyện Ma Ám (Haunting).
[Chỉ thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...]

Trong đó chúng ta được biết nhiều hiện tượng bí ẩn như:
+ vòi nước trong phòng tắm tự nhiên mở nước chảy róc rách, chủ nhà xuống tắt nước, vừa quay lên một lúc lại thấy mở nước lần nữa.
+ một đêm trăng thanh gió lạnh, chủ nhà khó ngủ, ngồi dậy thấy màn cửa thổi bay phất phới, mặc dù cửa vẫn đóng chặt.
+ trong phòng ngủ, những con thú bông được xếp ngay ngắn trên kệ, tự nhiên được mang xuống bày trên sàn nhà, hiện tượng được lặp lại nhiều lần, mặc dù nhà không có trẻ em.
+ những cánh cửa tủ bếp đựng thức ăn tự động mở v.v…

4. Hiện tượng trong dân gian nhiều người biết, là chuyện ma dắt người dấu vào một nơi nào đó. Chẳng hạn dấu trẻ em dưới cống nước, dấu trên ngọn cây, dấu trên mái nhà v.v…

Vậy chúng ta tự hỏi rằng, làm thế nào ma phát ra được âm thanh, là những dao động sóng âm, truyền đi trong không khí, cần một năng lượng nhất định.

Tại sao ma có thể di chuyển được một hòn đá, mở được vòi nước, mở cánh cửa, và thậm chí mang một người trọng lượng vài chục kilôgam lên ngọn cây? v.v…

NHỮNG CÂU CHUYỆN DO LINH HỒN KỂ LẠI

1. Chuyện Linh Hồn đốt lửa:
Trong buổi tiếp vong linh tháng 05/2007 do NNC Nguyễn Thị Minh Nguyệt thực hiện, vừa xuất hiện, Linh Hồn cậu Sơn tỏ vẻ giận dỗi, trách móc cả bà mẹ và các anh chị em đã quên đứa em chết đã quá lâu. Cậu Sơn tay chống ngang hông, mặt vênh lên, chẳng thèm nhìn mọi người, miệng huýt sáo thật ngạo nghễ. Cô Nguyệt đã phải đóng vai thật vất vả. Cậu Sơn vừa nói vừa đánh tay, đá chân vào những người nhà, cho hả cơn tức giận.

Lời trách đầu tiên của cậu Sơn buộc cả gia đình tâm phục, khẩu phục, phải lên tiếng xin lỗi, đó là tại sao ngày đám ma người cha, không ai nhớ đến cậu Sơn và cho cậu Sơn được để tang cha mình !?! Câu trách này làm cho bà mẹ và các anh chị em đang có mặt rất ân hận, vì nghĩ cậu Sơn chết từ bé, đã lâu lắm rồi, nên không ai nhớ được thủ tục cho cậu được để tang cha vào ngày làm đám tang. Cậu Sơn nhắc mọi người nhớ lại ngày đám tang cha có thấy lửa cháy không? Mọi người xác nhận ngày đó bát nhang bàn thờ chính trong nhà nhiều lần bị cháy, bốc ngọn lửa cao, suýt cháy lên trần nhà. Cậu Sơn cho biết chính tay cậu đốt để cảnh cáo mọi người đó! Nhưng cậu biết lượng sức không để cho cháy nhà !
[Chỉ thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...]

2. Chuyện Linh Hồn xô ngã xe:
Trong buổi giao tiếp vong linh tại nhà cô Hai Thủ Đức tháng 08/2008, khi được hỏi, em có đi học chưa? Linh Hồn một thanh niên công nhân trả lời: "Dạ chưa, em muốn đi học mà không được"!
Rồi chúng tôi hỏi nguyên do tại sao em bị xe tông, em nói rằng thằng đó chạy ẩu, con chạy đúng, chạy bình thường, với lại mấy thằng kia (3 thằng đã chết trước em) nó xô.
Rồi hỏi em việc nhà, có gặp ông nội em không, em nói có, em hiện giời bị đau chân lắm, đi không nổi. Rồi ba em nói có gởi cho em tiền, điện thoại em có nhận không? em bảo có, nhưng chưa xài…

Tham khảo:
Tôi đi gọi hồn (Minh Mẫn)
[Chỉ thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...]

3. Chuyện Linh Hồn làm dừng xe ô tô:
Có nhiều câu chuyện kỳ lạ về bức tượng mang tên Tiếc Thương trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Chúng ta hãy nghe một câu chuyện do chính Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Đại Đội Chung Sự, làm việc tại Nghĩa Trang Biên Hoà trước năm 1975 kể trường hợp ông gặp Linh Hồn chiến sĩ như sau:

…Khi chạy xe vào Nghĩa Trang, tôi hay dừng lại, đón những binh sĩ đi bộ từ cổng vào, cho họ đở mỏi chân. Một buổi trưa, ăn cơm xong trở lại làm việc, khi tới cổng Nghĩa Trang, tôi dừng xe lại đón một Hạ Sĩ xin quá giang.

Khi anh ta ngồi vào phía sau, tôi bắt đầu rồ ga, sang tay số tiếp tục chạy vào trong. Rồ ga hoài mà xe không tiến thêm môt tí nào…Tôi quay lại sau, định nhờ anh lính xuống đẩy giùm… thì thấy bức tượng “TIẾC THƯƠNG” đang ngồi phía sau. Tôi chưa phản ứng gì thì có tiếng nói cất lên:

- Xe Jeep Thiếu Tá sao chở nổi tôi …

Tiếp đó là một tràng cười khằng khặc, đồng thời bức tượng phía sau cũng biến mất.
[Chỉ thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...]

4. Chuyện Linh Hồn điều khiển côn trùng và loài vật:
Trong những câu chuyện đi tìm mộ của Nhà ngoại cảm Hồ Văn Dũ trong mười năm qua, chúng ta thường nghe nhắc đến chi tiết NNC Hồ Văn Dũ báo cho người nhà biết trước rằng khi tìm đến đúng mộ, sẽ nhìn thấy một côn trùng, sâu bọ, kiến, hoặc châu chấu, bươm bướm, chuồn chuồn, chim chóc đậu trên ngôi mộ.

Có nghĩa là Linh Hồn đã điều khiển được những sinh vật này theo chủ ý của Linh Hồn, để làm dấu hiệu dễ dàng cho người nhà khi đi tìm mộ.

Trong dân gian, người ta nhận thấy, con Ong là loài sinh vật nhạy cảm, dễ được các Linh Hồn sai khiến. Ngoài ra các loại bướm đêm, ngài tằm, cũng là sinh vật được các Linh Hồn mượn. Khi chúng ta thấy có bướm lạ bay vào nhà, vào những dịp đặc biệt như ngày giỗ, ngày tảo mộ, ngày sinh nhật v.v… là dấu hiệu Linh Hồn mượn để báo cho người thân gia đình biết rằng mình đang có mặt trong nhà.

Tóm lại, những bằng chứng trên đây giúp chúng ta đừng nghĩ sai lầm rằng Linh Hồn chỉ là cái hình bóng vô hình.

Thực ra Linh Hồn có những cách riêng để thực hiện được những công việc, chẳng khác gì so với một người bình thường. Hệ quả của vấn đề này sẽ còn được tiếp tục tìm hiểu nhiều hơn.

TUỔI CỦA LINH HỒN

Những câu hỏi đặt ra:
1. Tại sao Linh Hồn của một em bé không lớn dần trở thành một Linh Hồn người lớn?
2. Linh Hồn có tuổi hay không?

Qua những câu chuyện giao tiếp với Linh Hồn, các nhà ngoại cảm mô tả Linh Hồn khi trở về có ngoại hình gần giống với thời gian chết.

Linh Hồn của một em bé sẽ nhỏ nhắn, lanh lợi, hiếu động.
Linh Hồn một cô gái cũng vẫn là một cô gái dịu dàng, dễ thương, xinh đẹp.
Linh Hồn một cụ già sẽ đi đứng khoan thai, bình thản, có thể ho khụ khụ như khi còn sống.

Một chi tiết thú vị nữa là Linh Hồn trở về thường mặc những bộ quần áo mà khi còn sống vẫn thường hay mặc nhất. Bất kể khi còn sống họ có thể nhiều quần áo, nhưng chỉ có một bộ quần áo gắn liền với hình ảnh của Linh Hồn. Chưa có thông tin nào xác nhận mỗi lần xuất hiện Linh Hồn có thay đổi quần áo.

Linh Hồn cụ bà trở về với khăn vấn, áo nâu, quần mộc đen.
Linh Hồn thanh niên vẫn mặc áo trắng, quần tây, bỏ áo trong thùng.
Linh Hồn chiến sĩ vẫn mặc bộ quân phục như trước khi hy sinh v.v…

Một tính chất quan trọng của Linh Hồn đó là Tính Bất Tử, như đã phân tích ở phần trước. Nghĩa là Linh Hồn thuộc về chiều không gian thứ tư, không có thời gian, không có không gian. Do vậy khẳng định Linh Hồn không có tuổi.

Lý do chúng ta gọi Linh Hồn em bé, Linh Hồn cụ già, Linh Hồn thanh niên, là gọi theo tuổi của phần Thể Xác. Phần Thể Xác luôn có thời hạn xác định 100 tuổi mà thôi. Thông thường người ta nhầm lẫn tuổi của Linh Hồn với tuổi của phần Thể Xác.

Linh Hồn sẽ có hình ảnh gắn liền với hình ảnh của Thể Xác, thể hiện những nét tính cách đặc trưng của phần Thể Xác. Linh Hồn sẽ lưu giữ hình ảnh ngay tại thời điểm Linh Hồn lìa khỏi Thể Xác.

Từ đây chúng ta có thể đủ cơ sở để giải thích một thắc mắc trước đây về hiện tượng Cậu Sơn khi chết 5 tuổi, nhưng 30 năm sau xuất hiện với hình ảnh của một thanh niên 35 tuổi.

Thực ra Linh Hồn cậu Sơn vẫn chỉ là một cậu bé 5 tuổi mà thôi, nhưng với bản tính hiếu động, nhanh nhẹn, cậu Sơn đã thay hình đổi dạng, và xuất hiện như một thanh niên để mọi người nể phục. Điều này phù hợp với tính chất cơ bản của Linh Hồn đó là Tính Biến Hóa.
Về Đầu Trang Go down
kkk
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: LINH HỒN VÀ NGHIỆP LỰC   Fri Oct 21, 2011 9:09 pm



LINH HỒN VÀ NGHIỆP LỰC

GIỚI THIỆU

Cuối tháng 04/2007, sau khi thực hiện các Đại lễ Trai đàn Chẩn tế ba miền và kết thúc tại Hà Nội, phái đoàn tăng thân Làng Mai đã đến TT Nghiên cứu Tiềm năng Con người, số 01 Đào Tấn, Hà Nội, để thẩm định đánh giá kết quả bằng ngoại cảm.

Nhà ngoại cảm Đoàn Việt Tiến, đã có buổi thuyết trình bằng khả năng ngoại cảm về đề tài Thế giới Người Âm, và đi sâu phân tích về Sóng Linh Hồn.

Xin lưu ý rằng nhà ngoại cảm Đoàn Việt Tiến nói bằng tâm thức, không phải bằng ý thức. Buổi nói chuyện có mặt nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải và các vị đại diện tăng thân Làng Mai. Dưới đây là nội dung buổi nói chuyện (tựa đề do chúng tôi đặt):

LINH HỒN CHÍNH LÀ SÓNG TÂM THỨC

Vấn đề của Thế Giới Âm là Năng lượng của Tâm Thức, của Giác Quan rã ra sau khi chết. Phần cơ thể sinh học của ta trở về lòng đất, cát bụi trở về cát bụi, nhưng tần số giác quan của hệ tâm thức lưu trữ trong quá trình sống, đem những lập trình đó tự động bay ra ngoài.

Quá trình sống có hai bộ nhớ là Ý thức và Tâm thức. Bộ nhớ Ý thức chịu tác động Ngũ quan. Bộ nhớ Tâm thức chịu tác động của Giác quan mở, hay Giác thức, dưới dạng Sóng, năng lượng sinh học tác động lên hệ Ngũ quan.

SÓNG TÂM THỨC ĐƯỢC MÃ HÓA NGHIỆP LỰC

Khi chết, Bộ nhớ Tâm thức đã được lập trình trong quá trình sống bay lên thành lập một thế giới sóng. Thế giới sóng đó tự động hoàn toàn, đi theo Nghiệp Lực của con người trong quá trình sống.

Ví dụ: một kẻ cướp, giết người trong quá trình sống, thì sau khi chết Sóng Tâm Thức thoát ra ngoài và vào tầng số 5 là Ngạ Qủy.

Số 7 là Thần Thánh. Số 8 là Tiên. Số 9, 10 là Bồ Tát. Số 11, 12 là Thượng Đế và Phật.

Theo con số phân chia đó mà quyết định Địa Ngục hay Thiên Đường. Như vậy Ý Thức và Tâm Thức hoàn toàn lập trình trong quá trình sống mà quyết định thế giới riêng theo 12 tầng của Vũ Trụ. Tất cả Vũ trụ đó đều có trong ta. Giữa Con người và Vũ Trụ là một. Như vậy các cõi giới chính là Nghiệp Lực của ta trong quá trình sống mang theo thành lập thế giới Sóng.

NGHIỆP LỰC VÀ HÌNH DẠNG SÓNG TÂM THỨC

Nếu thế giới sóng có tần số thấp thì tác động ngược lại lên con người. Thế giới thấp là tầng số 5 Ngã Quỷ trở xuống. Tầng số 7 trở lên là Thần Tiên.

Tầng số 5 Ngã Quỷ thì sóng có hình sin răng cưa, xáo trộn dữ dội, đột biến và tự hành hạ. Sóng Ngã Quỷ sẽ tác động lên con người do lập trình không cao.

Tầng số 9 Bồ Tát thì sóng có hình sin tròn đều, cân đối.

Lập trình sai là lập trình không cân đối. Lập trình đúng là hình tròn đều.

NGHIỆP LỰC VÀ GIẢI THOÁT

Thế giới sóng hoàn toàn mang theo lập trình đau khổ hay hạnh phúc qua quá trình sống. Những người chết bất ngờ, họ chưa buông bỏ, bị bản ngã lôi cuốn, bị Tham Sân Si lôi cuốn họ, thì sóng của họ sẽ bị xáo trộn, và không tròn đều, và không bay lên cao được.

Ngược lại những người đã chuẩn bị cho cái chết của họ, nhận thức tất cả trở về Không, như các nhà sư, cao tăng, đã biết trước ngày giờ trước khi chết, nhờ có thức giác mở, họ có sự giải thoát và về Thiên đường.

Giữa Thiên Đường và Địa Ngục chỉ là khái niệm phân biệt cho dễ hiểu, thực ra phân cấp tùy theo thứ hạng Nghiệp lực của con người, từ đó phân chia đi theo cung cõi của thế giới sóng.

Có 12 cung cõi của vũ trụ là khu vực mà thế giới Sóng sẽ về theo cung cõi đó, thích ứng hoàn toàn giữa Tiểu Vũ trụ và Đại Vũ trụ là một.

SÓNG TÂM THỨC TÁC ĐỘNG LÊN CON NGƯỜI

Sóng năng lượng của người chết (người Âm) có thể đi vào người sống (người Dương) qua những vùng đột biến. Dòng năng lượng xáo trộn nhập qua hệ tâm thức của người sống, chiếm quyền điều khiển và nói chuyện. Đó là đột biến hệ tâm thức, hiện tượng nhập xác nói chuyện là có thật.

Quá trình sóng năng lượng người chết tác động lên người sống hoàn toàn hai chiều, không dừng lại bao giờ, và mãi mãi ông bà ta trở lại vẫn có trong ta, qua sóng năng lượng di truyền theo tần số.

Sóng năng lượng lạ (vong lạ) chỉ vào được trong ta khi 12 huyệt bị phá. Con người có 6 huyệt chính và 6 huyệt phụ, nếu bị phá hỏng thì sóng năng lượng lạ mới xâm nhập được.

SÓNG TÂM THỨC VÀ SỰ HỒI HƯỚNG

Tham Sân Si, và Nghiệp lực là hoàn toàn ảnh hưởng đến con người, khi sống cũng như sau khi chết đi . Nếu ông bà ta được giải thoát thì chúng ta hoàn toàn nhẹ nhàng thanh thản, không bị tác động bởi sóng năng lượng của không gian bốn chiều, của tiền kiếp.

Trong quá trình sống, chúng ta tự giải thoát những sóng năng lượng đó, bằng cách hồi hướng cho người đã mất, trở về cội nguồn. Cúng tâm thức là cúng chính những điều trong ta. Trong ta có ông bà ta, chúng ta làm từ thiện cho mọi người, cho ông bà, những người chung quanh ta, cúng tâm thức hồi hướng cho người đã mất, sẽ cảm thấy năng lượng quanh ta nhẹ nhàng và giải thoát.

BẢN CHẤT CỦA LINH HỒN – TRƯỜNG VONG
15/04/2011 Bởi Đào Kim Phượng Gửi thông điệp


Cách đây 40 năm, mảnh đất Quảng Trị từng là nơi diễn ra nhiều trận chiến dữ dội , ác liệt và câu hỏi có bao nhiêu chiến sĩ giải phóng quân nằm xuống nơi đây đến nay vẫn còn là điều nhức nhối ? Tháng 6/2006, Hội Cựu Chiến binh Mỹ cung cấp cho phía Việt Nam một mẩu tin ngắn ngủi:
Trong một trận chiến năm 1967 tại cứ điểm Cồn Tiên ( xã Gio An, huyện Gio Linh ), toàn bộ 173 chiến sĩ giải phóng quân tấn công cứ điểm đã hy sinh và được chôn chung trong một hố rộng. Từ đó đến nay, với trên 10 điểm đào bới qui mô lớn, độ sâu từ 1-2 mét trên một vùng đồi cao su rộng hàng chục ha, lực lượng tìm kiếm, qui tập mộ của Ban chỉ huy quân sự Gio Linh mới tìm được 4 bộ hài cốt nằm rải rác.
Được biết thông tin này, Ts.Vũ Văn Bằng đã tình nguyện vào Gio Linh tham gia công việc tìm kiếm. Căn cứ vào bản sơ đồ vẽ tay của Hội CCB Mỹ cung cấp, với khả năng dò tìm tia đất bằng một phương pháp khoa học TS.Vũ Văn Bằng đã xác định được chính xác vị trí chôn tập thể 173 chiến sĩ và bước đầu đã tìm được 4 hài cốt không nguyên vẹn.
Khi bài này chuẩn bị lên trang, chúng tôi nhận được tin ngày 9.9.2007 , Ban chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị, huyện Đội và nhân dân huyện Gio Linh đã tổ chức lễ ra quân cất bốc và qui tập hài cốt liệt sỹ rất trọng thể

Nhân đây, chúng tôi xin giới thiệu tiếp bài viết thứ hai của tác giả Vũ Văn Bằng xung quanh chủ đề “ Những giả thuyết mới về bản chất của linh hồn – vong” ( đã đăng trên tuần báo Khoa học và Công nghệ – TTXVN số 17 +18, ngày 26-4-2007).

Trở lại với những giả thuyết cơ bản (tóm tắt) :
Giả thuyết thứ nhất - Cơ chế hình thành cái gọi là “linh hồn” - trường vong của con người sau khi chết.
Cái chết của con người tựa cái chết của những siêu sao hình thành lỗ đen– tuân theo luật “Thiên nhân tương ứng” và hình thành trường lực hấp dẫn mạnh từ hiện tượng đối áp xuất khiến cho cấu trúc vật chất của nó (siêu sao – thi hài và linh hồn người chết) đổ sụp vào trong biến thành khoảng hư vô trống rỗng (Einstein đã hình dung ra hiện tượng suy sụp hấp dẫn này). Dấu vết còn lại chỉ toàn là “lực vô hình”, thực chất đó chính là “trường lực hấp dẫn mạnh” ( sẽ chứng minh ở phần dưới).

Giả thuyết thứ hai – Bản chất linh hồn –vong, một trường vật lý đa hệ .
Trường vong là một trường vật chất- trường vật lý đa hệ, tương tự như các trường trong
vật lý vũ trụ. Bao gồm: trường hấp dẫn, trường điện từ, trường tương tác yếu ( sự phân rã các hạt cơ bản và nơtrino) và tương tác mạnh ( các lực hạt nhân và cộng hưởng), tương ứng với nó là 4 dạng tương tác: hấp dẫn, điện từ, yếu và mạnh. Các nhà khoa học trong đó có Einstein đã cố gắng thống nhất chúng thành một trường duy nhất, thể hiện sự thống nhất của vũ trụ. Hiện nay, Salam và Weinberg đã thống nhất được trường điện từ và trường tương tác yếu. Trường vong – linh hồn ? một lần nữa lại sử dụng thuyết “tương nhân tương ứng” ta sẽ có linh hồn –vong cũng là trường vật lý đa hệ như trên. Nhưng đặc biệt hơn là trường sinh học mang thông tin. Hài cốt tựa “một nam châm vĩnh cửu” và tồn tại trường điện từ yếu mang thông tin (khác với trường sinh học). Các trường này tương tác, ràng buộc lẫn nhau tạo nên trường thế – khung cốt của trường vong (hình dáng của chủ thể) mà không thể nhận biết bằng các giác quan thông thường.

Giả thuyết thứ ba “Linh hồn - vong là trường điện từ yếu chứa thông tin” – gồm phần lớn các trường vốn có của cơ thể sống lưu lại và chứa thông tin sau khi thể xác ngừng hoạt động.Trường này tồn tại được là nhờ có dao động điện từ của các nguyên tử của hài cốt và bức xạ ra môi trường xung quanh lan truyền với tốc độ ánh sáng. Nhà vật lý học người Ba Lan, Slawinski phát hiện ra khả năng bức xạ photon của cơ thể với cường độ cỡ 10 – 1000 photon/s/cm2. Khi chết bức xạ này tăng lên gấp hơn 1000 lần. Sự lóe sáng này chính là để tăng năng lượng cho sự “suy sụp hấp dẫn” nói trên, tăng cường độ cho trường tổng của cơ thể con người khi chết. Đó là trường điện từ dạng lưới mang hình dáng của chủ thể. Các trường điện từ riêng rẽ sản sinh từ từng tế bào, mô, màng, gân cơ, lục phủ, ngũ tạng…, đặc biệt trường điện từ của hệ thần kính và bộ não. Tất cả những trường này khi con người còn sống đã là hệ dao động điện trong hệ thống nhất của trường khung. Khi chết, chúng không mất đi mà tạo thành những nút của trường tổng (khung) dưới dạng các “hộp đen” lưu lại trong hài cốt. Trong đó, đáng chú ý là hộp đen của trường điện từ hệ thần kinh, não bộ kịp niêm giữ thông tin của chủ thể qua bộ nhớ của ý thức và tiềm thức trước lúc chết. Đó chính là hình ảnh cấu trúc của “linh hồn”. Vậy, linh hồn - vong là một trường vật chất cấu trúc gồm 2 phần cơ bản: “phần xác”- phần cứng, chính là lỗ đen với lực hấp dẫn cực lớn và từ trường mạnh, “phần hồn” - phần mềm, chính là trường điện từ yếu mang thông tin. Gộp lại đó là ”trường vật lý đa hệ chứa thông tin”. Từ đây gọi tắt là trường vong, tuyệt nhiên không có ý thức như người sống. Hiểu như vậy là hoàn toàn mê tín.
Những tính chất của trường vong
Trường vong tuy vô hình với người sống, nhưng bản chất là trường vật chất, nên cũng mang tính chất của vật chất.
Tính bức xạ điện từ yếu mang thông tin của chủ thể (lan truyền với tốc độ ánh sáng), đây chính là phần hồn của hài cốt tồn tại sau khi chết. Nhờ tính chất này mà các nhà ngoại cảm có thể nhận biết và giải mã gián tiếp được một số thông tin của trường vong (chỉ có được khi cộng hưởng, không phải là tất cả) nhờ đọc được thông tin qua người thân của vong ( người thân và trường vong trao đổi thông tin tới hạn với nhau qua huyết thống trường).
Tính hấp dẫn cực mạnh, không phụ thuộc vào không gian thời gian và một số quy luật vật lý khác như tiêu hao, dẫn truyền…Đây là tính chất tiêu cực, có hại ảnh hưởng tới sức khỏe người sống khi tiếp cận mồ mả hài cốt.
Tính chất từ, như giả thuyết 2, trường vong còn là một nam châm vĩnh cửu. Nhờ bản chất này mà có thể nhận biết vị trí mồ mả, hài cốt, vong bằng thiết bị cảm ứng mà tác giả thường dùng. Với thiết bị đó, từ cự ly xa 200m hoặc lớn hơn có thể nhận biết vị trí nghĩa địa. Với cự ly 30- 50m có thể nhận biết vị trí có mồ mả, hài cốt, vong. Nên hai năm qua, tác giả bài viết này đã xác định được nhiều mồ mả hài cốt giúp di dời, phục vụ xây dựng nhà ở, công trường, xí nghiệp, tìm hài cốt liệt sỹ. ..
Tính thống nhất và có thể phân chia : Hài cốt là “một nam châm vĩnh cửu”, như đã biết, một cục nam châm khi đập nhỏ ra, những mảnh nhỏ vẫn là nam châm và chỉ nam châm mới có tính chất này. Hài cốt cũng tương tự. Nên nếu một bộ phận nào đó của hài cốt bị thất lạc như đốt ngón tay, ngón chân, mảnh xương sườn…thì nó vẫn thể hiện tính chất từ của hài cốt mà thiết bị cảm ứng có thể nhận biết. Nhờ tính chất này, tác giả cũng đã tìm cho nhiều gia đình những mẩu xương còn sót lại khi cải táng, hoặc cả khi hài cốt đã phân hủy thành đất.
Tính lưu giữ hoặc nhiễm, một tính chất đặc biệt khác của trường vong là tính “nhiễm từ” ra môi trường chung quanh. Thiết bị cảm ứng có thể nhận biết trường vong của người chết tại những vị trí đã xẩy ra sự cố như bị tai nạn giao thông, chết đuối, treo cổ….sau nhiều năm đã trôi qua, thậm chí kể cả tiểu sành, ván thôi sau cải táng vẫn lưu giữ một phần trường vong – “trường từ”?.
Tính tiêu cực - có hại đối với người sống, trường vong được xếp vào loại trường dị thường tiêu cực. Tức là có hại tới sức khỏe con người. Lực hấp dẫn, từ trường xoáy với trường lực đủ lớn bức xạ lên mặt đất với phạm vi rộng. Đây được coi là trường dị thường cũng tương tự bão từ sẽ tác động có hại nhiều tới hệ thần kinh và hệ tim mạch như đã được cảnh báo.

Những hiện tượng đã gặp ở nơi có hài cốt
Trong chuyến đi tìm mộ liệt sỹ tập thể của 173 quân giải phóng hy sinh khi tiến đánh cứ điểm Cồn Tiên năm 1967 (theo thông báo của Hội Cựu chiến binh Mỹ), khi xác định chính xác vị trí khu mộ, đồng chí Trần Lương Thanh huyện đội trưởng huyện đội Gio Linh thắp hương xong vì xúc động đã nằm ôm chặt lấy mặt đất – nơi phía dưới có thi hài các chiến sỹ. Hồi lâu, không thấy đồng chí Thanh dậy, đồng đội đến vực lên thấy người cứng đơ lạnh toát. Từ đấy về ốm mất nửa tháng.
Khi tiến hành đào kiểm tra đợt 1 đã gặp 4 hài cốt liệt sỹ nằm cách mặt đất từ 0,8 đến 1,2m. Xương màu trắng ẩm mục hiện dần lên trong nền đất màu nâu sẫm. Từ những tấm ảnh chụp có thể nhận ra sự tương tác giữa cơ thể sống và hài cốt trong không gian hẹp –môi trường chứa hài cốt.
.

Giải mã “lực hút vô hình”
“Lực hút vô hình” chính là“trường hấp dẫn mạnh” của trường vong theo giả thuyết thứ nhất .
Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng một đối tượng quan trọng khi nghiên cứu sự thống nhất giữa lượng tử và hấp dẫn là lỗ đen, vì trong lỗ đen các điều kiện hấp dẫn và lượng tử đều là những điều kiện tới hạn. Quanh lỗ đen có những vùng không gian với những tính chất riêng. Vùng ngoài cùng là ranh giới tĩnh. Tức là nếu một khối vật chất nào đó lọt vào vùng này thì còn có hy vọng thoát khỏi lực hấp dẫn của lỗ đen và vượt ra ngoài quay theo chiều quay của lỗ đen . Tiếp theo là ranh giới có tên là chân trời. Nếu một khối vật chất nào đó rơi vào vùng không gian nằm phía dưới chân trời thì lập tức bị hút vĩnh viễn bởi lỗ đen, tức là mất mọi hy vọng thoát khỏi tai biến này. Lý thuyết này có thể vận dụng vào xem xét cho trường hợp hấp dẫn của hài cốt- lỗ đen chứa trường vong.
Hiện tượng con người tiếp cận –nằm trên hài cốt ( trường hợp đồng chí huyện đội nói trên) trường điện từ sinh học nội thể và trường hỗn hợp ngoại thể, trong đó có bức xạ hồng ngoại đã bị lực hấp dẫn của hài cốt hút làm suy giảm sinh khí, sinh ra cảm lạnh. Mặt khác, khi nhìn vào đôi tay và bàn chân trong tấm ảnh 1 và 2 thấy rất rõ có “luồng sáng” nối giữa phần cơ thể sống( dương) với hài cốt dưới mặt đất (âm) - hiện tượng phóng điện trong không gian. Đó chính là sự tương tác giữa lượng tử và hấp dẫn. Tức là giữa một bên là hài cốt- linh hồn ( lỗ đen) – trường hấp dẫn , một bên là lượng tử – số photon ( ánh sáng- sóng và hạt của trường điện từ sinh học và bức xạ hồng ngoại ( bước sóng điển hình 0,05 mm với công suất 10 –12 w/cm2 ở các đầu ngón tay và chân) của cơ thể người sống bức xạ ra. Khi tiếp cận với hài cốt, các trường này đã bị lực hấp dẫn của hài cốt hút kéo dài ra thành “luồng sáng”( đây là sự lan truyền của ánh sáng trong không gian cong –vùng chân trời của lỗ đen. Lúc này bước sóng bị kéo dãn ra, tần số giảm đi. Có nghiã là các trường phát ra từ đôi tay và bàn chân trong bức ảnh đã rơi vào “vùng chân trời” của lỗ đen- hài cốt.
.
Trên đây là những hiện tượng mà tác giả đã đo đạc, kiểm chứng trong thực tế, hoàn toàn phù hợp với các giả thuyết mới về bản chất của trường vong- linh hồn do chính tác giả nghiên cứu, nhìn nhận dưới góc độ khoa học, xin được cung cấp để bạn đọc cùng tham khảo và suy ngẫm./.
Về Đầu Trang Go down
ngnbn
Khách viếng thăm
avatar


Bài gửiTiêu đề: TRƯỜNG VONG LÀ GÌ?   Fri Oct 21, 2011 9:15 pm


TRƯỜNG VONG LÀ GÌ?

Cách đây 40 năm, mảnh đất Quảng Trị từng là nơi diễn ra nhiều trận chiến dữ dội , ác liệt và câu hỏi có bao nhiêu chiến sĩ giải phóng quân nằm xuống nơi đây đến nay vẫn còn là điều nhức nhối ? Tháng 6/2006, Hội Cựu Chiến binh Mỹ cung cấp cho phía Việt Nam một mẩu tin ngắn ngủi: Trong một trận chiến năm 1967 tại cứ điểm Cồn Tiên ( xã Gio An, huyện Gio Linh ), toàn bộ 173 chiến sĩ giải phóng quân tấn công cứ điểm đã hy sinh và được chôn chung trong một hố rộng. Từ đó đến nay, với trên 10 điểm đào bới qui mô lớn, độ sâu từ 1-2 mét trên một vùng đồi cao su rộng hàng chục ha, lực lượng tìm kiếm, qui tập mộ của Ban chỉ huy quân sự Gio Linh mới tìm được 4 bộ hài cốt nằm rải rác. Được biết thông tin này, Ts.Vũ Văn Bằng đã tình nguyện vào Gio Linh tham gia công việc tìm kiếm. Căn cứ vào bản sơ đồ vẽ tay của Hội CCB Mỹ cung cấp, với khả năng dò tìm tia đất bằng một phương pháp khoa học TS.Vũ Văn Bằng đã xác định được chính xác vị trí chôn tập thể 173 chiến sĩ và bước đầu đã tìm được 4 hài cốt không nguyên vẹn. Khi bài này chuẩn bị lên trang, chúng tôi nhận được tin ngày 9.9.2007 , Ban chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị, huyện Đội và nhân dân huyện Gio Linh đã tổ chức lễ ra quân cất bốc và qui tập hài cốt liệt sỹ rất trọng thể Nhân đây, chúng tôi xin giới thiệu tiếp bài viết thứ hai của tác giả Vũ Văn Bằng xung quanh chủ đề “ Những giả thuyết mới về bản chất của linh hồn – vong” ( đã đăng trên tuần báo Khoa học và Công nghệ – TTXVN số 17 +18, ngày 26-4-2007).
Chi tiết
Trở lại với những giả thuyết cơ bản (tóm tắt) : Giả thuyết thứ nhất - Cơ chế hình thành cái gọi là “linh hồn” - trường vong của con người sau khi chết. Cái chết của con người tựa cái chết của những siêu sao hình thành lỗ đen– tuân theo luật “Thiên nhân tương ứng” và hình thành trường lực hấp dẫn mạnh từ hiện tượng đối áp xuất khiến cho cấu trúc vật chất của nó (siêu sao – thi hài và linh hồn người chết) đổ sụp vào trong biến thành khoảng hư vô trống rỗng (Einstein đã hình dung ra hiện tượng suy sụp hấp dẫn này). Dấu vết còn lại chỉ toàn là “lực vô hình”, thực chất đó chính là “trường lực hấp dẫn mạnh” ( sẽ chứng minh ở phần dưới). Giả thuyết thứ hai – Bản chất linh hồn –vong, một trường vật lý đa hệ . Trường vong là một trường vật chất- trường vật lý đa hệ, tương tự như các trường trong vật lý vũ trụ. Bao gồm: trường hấp dẫn, trường điện từ, trường tương tác yếu ( sự phân rã các hạt cơ bản và nơtrino) và tương tác mạnh ( các lực hạt nhân và cộng hưởng), tương ứng với nó là 4 dạng tương tác: hấp dẫn, điện từ, yếu và mạnh. Các nhà khoa học trong đó có Einstein đã cố gắng thống nhất chúng thành một trường duy nhất, thể hiện sự thống nhất của vũ trụ. Hiện nay, Salam và Weinberg đã thống nhất được trường điện từ và trường tương tác yếu. Trường vong – linh hồn ? một lần nữa lại sử dụng thuyết “tương nhân tương ứng” ta sẽ có linh hồn –vong cũng là trường vật lý đa hệ như trên. Nhưng đặc biệt hơn là trường sinh học mang thông tin. Hài cốt tựa “một nam châm vĩnh cửu” và tồn tại trường điện từ yếu mang thông tin (khác với trường sinh học). Các trường này tương tác, ràng buộc lẫn nhau tạo nên trường thế – khung cốt của trường vong (hình dáng của chủ thể) mà không thể nhận biết bằng các giác quan thông thường. Giả thuyết thứ ba “Linh hồn - vong là trường điện từ yếu chứa thông tin” – gồm phần lớn các trường vốn có của cơ thể sống lưu lại và chứa thông tin sau khi thể xác ngừng hoạt động.Trường này tồn tại được là nhờ có dao động điện từ của các nguyên tử của hài cốt và bức xạ ra môi trường xung quanh lan truyền với tốc độ ánh sáng. Nhà vật lý học người Ba Lan, Slawinski phát hiện ra khả năng bức xạ photon của cơ thể với cường độ cỡ 10 – 1000 photon/s/cm2. Khi chết bức xạ này tăng lên gấp hơn 1000 lần. Sự lóe sáng này chính là để tăng năng lượng cho sự “suy sụp hấp dẫn” nói trên, tăng cường độ cho trường tổng của cơ thể con người khi chết. Đó là trường điện từ dạng lưới mang hình dáng của chủ thể. Các trường điện từ riêng rẽ sản sinh từ từng tế bào, mô, màng, gân cơ, lục phủ, ngũ tạng…, đặc biệt trường điện từ của hệ thần kính và bộ não. Tất cả những trường này khi con người còn sống đã là hệ dao động điện trong hệ thống nhất của trường khung. Khi chết, chúng không mất đi mà tạo thành những nút của trường tổng (khung) dưới dạng các “hộp đen” lưu lại trong hài cốt. Trong đó, đáng chú ý là hộp đen của trường điện từ hệ thần kinh, não bộ kịp niêm giữ thông tin của chủ thể qua bộ nhớ của ý thức và tiềm thức trước lúc chết. Đó chính là hình ảnh cấu trúc của “linh hồn”. Vậy, linh hồn - vong là một trường vật chất cấu trúc gồm 2 phần cơ bản: “phần xác”- phần cứng, chính là lỗ đen với lực hấp dẫn cực lớn và từ trường mạnh, “phần hồn” - phần mềm, chính là trường điện từ yếu mang thông tin. Gộp lại đó là ”trường vật lý đa hệ chứa thông tin”. Từ đây gọi tắt là trường vong, tuyệt nhiên không có ý thức như người sống. Hiểu như vậy là hoàn toàn mê tín. Những tính chất của trường vong Trường vong tuy vô hình với người sống, nhưng bản chất là trường vật chất, nên cũng mang tính chất của vật chất. Tính bức xạ điện từ yếu mang thông tin của chủ thể (lan truyền với tốc độ ánh sáng), đây chính là phần hồn của hài cốt tồn tại sau khi chết. Nhờ tính chất này mà các nhà ngoại cảm có thể nhận biết và giải mã gián tiếp được một số thông tin của trường vong (chỉ có được khi cộng hưởng, không phải là tất cả) nhờ đọc được thông tin qua người thân của vong ( người thân và trường vong trao đổi thông tin tới hạn với nhau qua huyết thống trường). Tính hấp dẫn cực mạnh, không phụ thuộc vào không gian thời gian và một số quy luật vật lý khác như tiêu hao, dẫn truyền…Đây là tính chất tiêu cực, có hại ảnh hưởng tới sức khỏe người sống khi tiếp cận mồ mả hài cốt. Tính chất từ, như giả thuyết 2, trường vong còn là một nam châm vĩnh cửu. Nhờ bản chất này mà có thể nhận biết vị trí mồ mả, hài cốt, vong bằng thiết bị cảm ứng mà tác giả thường dùng. Với thiết bị đó, từ cự ly xa 200m hoặc lớn hơn có thể nhận biết vị trí nghĩa địa. Với cự ly 30- 50m có thể nhận biết vị trí có mồ mả, hài cốt, vong. Nên hai năm qua, tác giả bài viết này đã xác định được nhiều mồ mả hài cốt giúp di dời, phục vụ xây dựng nhà ở, công trường, xí nghiệp, tìm hài cốt liệt sỹ. .. Tính thống nhất và có thể phân chia : Hài cốt là “một nam châm vĩnh cửu”, như đã biết, một cục nam châm khi đập nhỏ ra, những mảnh nhỏ vẫn là nam châm và chỉ nam châm mới có tính chất này. Hài cốt cũng tương tự. Nên nếu một bộ phận nào đó của hài cốt bị thất lạc như đốt ngón tay, ngón chân, mảnh xương sườn…thì nó vẫn thể hiện tính chất từ của hài cốt mà thiết bị cảm ứng có thể nhận biết. Nhờ tính chất này, tác giả cũng đã tìm cho nhiều gia đình những mẩu xương còn sót lại khi cải táng, hoặc cả khi hài cốt đã phân hủy thành đất. Tính lưu giữ hoặc nhiễm, một tính chất đặc biệt khác của trường vong là tính “nhiễm từ” ra môi trường chung quanh. Thiết bị cảm ứng có thể nhận biết trường vong của người chết tại những vị trí đã xẩy ra sự cố như bị tai nạn giao thông, chết đuối, treo cổ….sau nhiều năm đã trôi qua, thậm chí kể cả tiểu sành, ván thôi sau cải táng vẫn lưu giữ một phần trường vong – “trường từ”?. Tính tiêu cực - có hại đối với người sống, trường vong được xếp vào loại trường dị thường tiêu cực. Tức là có hại tới sức khỏe con người. Lực hấp dẫn, từ trường xoáy với trường lực đủ lớn bức xạ lên mặt đất với phạm vi rộng. Đây được coi là trường dị thường cũng tương tự bão từ sẽ tác động có hại nhiều tới hệ thần kinh và hệ tim mạch như đã được cảnh báo. Những hiện tượng đã gặp ở nơi có hài cốt Trong chuyến đi tìm mộ liệt sỹ tập thể của 173 quân giải phóng hy sinh khi tiến đánh cứ điểm Cồn Tiên năm 1967 (theo thông báo của Hội Cựu chiến binh Mỹ), khi xác định chính xác vị trí khu mộ, đồng chí Trần Lương Thanh huyện đội trưởng huyện đội Gio Linh thắp hương xong vì xúc động đã nằm ôm chặt lấy mặt đất – nơi phía dưới có thi hài các chiến sỹ. Hồi lâu, không thấy đồng chí Thanh dậy, đồng đội đến vực lên thấy người cứng đơ lạnh toát. Từ đấy về ốm mất nửa tháng. Khi tiến hành đào kiểm tra đợt 1 đã gặp 4 hài cốt liệt sỹ nằm cách mặt đất từ 0,8 đến 1,2m. Xương màu trắng ẩm mục hiện dần lên trong nền đất màu nâu sẫm. Từ những tấm ảnh chụp có thể nhận ra sự tương tác giữa cơ thể sống và hài cốt trong không gian hẹp –môi trường chứa hài cốt. . Giải mã “lực hút vô hình” “Lực hút vô hình” chính là“trường hấp dẫn mạnh” của trường vong theo giả thuyết thứ nhất . Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng một đối tượng quan trọng khi nghiên cứu sự thống nhất giữa lượng tử và hấp dẫn là lỗ đen, vì trong lỗ đen các điều kiện hấp dẫn và lượng tử đều là những điều kiện tới hạn. Quanh lỗ đen có những vùng không gian với những tính chất riêng. Vùng ngoài cùng là ranh giới tĩnh. Tức là nếu một khối vật chất nào đó lọt vào vùng này thì còn có hy vọng thoát khỏi lực hấp dẫn của lỗ đen và vượt ra ngoài quay theo chiều quay của lỗ đen . Tiếp theo là ranh giới có tên là chân trời. Nếu một khối vật chất nào đó rơi vào vùng không gian nằm phía dưới chân trời thì lập tức bị hút vĩnh viễn bởi lỗ đen, tức là mất mọi hy vọng thoát khỏi tai biến này. Lý thuyết này có thể vận dụng vào xem xét cho trường hợp hấp dẫn của hài cốt- lỗ đen chứa trường vong. Hiện tượng con người tiếp cận –nằm trên hài cốt ( trường hợp đồng chí huyện đội nói trên) trường điện từ sinh học nội thể và trường hỗn hợp ngoại thể, trong đó có bức xạ hồng ngoại đã bị lực hấp dẫn của hài cốt hút làm suy giảm sinh khí, sinh ra cảm lạnh. Mặt khác, khi nhìn vào đôi tay và bàn chân trong tấm ảnh 1 và 2 thấy rất rõ có “luồng sáng” nối giữa phần cơ thể sống( dương) với hài cốt dưới mặt đất (âm) - hiện tượng phóng điện trong không gian. Đó chính là sự tương tác giữa lượng tử và hấp dẫn. Tức là giữa một bên là hài cốt- linh hồn ( lỗ đen) – trường hấp dẫn , một bên là lượng tử – số photon ( ánh sáng- sóng và hạt của trường điện từ sinh học và bức xạ hồng ngoại ( bước sóng điển hình 0,05 mm với công suất 10 –12 w/cm2 ở các đầu ngón tay và chân) của cơ thể người sống bức xạ ra. Khi tiếp cận với hài cốt, các trường này đã bị lực hấp dẫn của hài cốt hút kéo dài ra thành “luồng sáng”( đây là sự lan truyền của ánh sáng trong không gian cong –vùng chân trời của lỗ đen. Lúc này bước sóng bị kéo dãn ra, tần số giảm đi. Có nghiã là các trường phát ra từ đôi tay và bàn chân trong bức ảnh đã rơi vào “vùng chân trời” của lỗ đen- hài cốt. . Trên đây là những hiện tượng mà tác giả đã đo đạc, kiểm chứng trong thực tế, hoàn toàn phù hợp với các giả thuyết mới về bản chất của trường vong- linh hồn do chính tác giả nghiên cứu, nhìn nhận dưới góc độ khoa học, xin được cung cấp để bạn đọc cùng tham khảo và suy ngẫm./.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Các quan niệm về linh hồn   

Về Đầu Trang Go down
 
Các quan niệm về linh hồn
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» cách lắp đặp camera quan sát
» [Giúp đỡ]Có ai biết linh kiện bên trong anten indoor cho DVB không ?
» Tham quan thực tế đài PTTH Lâm Đồng
» [Nonstop] Động Lắc - Nam Bắc Fist Vol.1 - DJ Bun Joker Ft DJ Nguyễn Linh Live Mix
» Google Earth-xem bản đồ và... qua vệ tinh

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Q9A1-THANGLONG-UNIVERSITY :: HOT NEWS FROM NEWPAPERS-
Chuyển đến